Đồng Thái
Đồng Thái là một xã thuộc tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.
|
Đồng Thái
|
||
|---|---|---|
| Xã | ||
| Tập tin:Hodongthai2.jpg Hồ Đồng Thái lúc hoàng hôn | ||
| Hành chính | ||
| Quốc gia | ||
| Vùng | Đồng bằng sông Hồng | |
| Tỉnh | Ninh Bình | |
| Trụ sở UBND | Xóm Tràng Yên | |
| Lịch sử hình thành | ||
| Thành lập | 16/6/2025[1] | |
| Địa lý | ||
| Tọa độ: 20°05′56″B 105°58′18″Đ / 20,098850842353°B 105,97174389028°Đ | ||
|
| ||
| Diện tích | 47,60 km²[2] | |
| Dân số (31/12/2024) | ||
| Tổng cộng | 24.049 người[2] | |
| Mật độ | 505 người/km² | |
| Khác | ||
| Website | dongthai | |
Địa lý
Xã Đồng Thái có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp xã Yên Mạc và xã Yên Mô
- Phía tây giáp phường Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Phía nam giáp xã Ba Đình và xã Nga An, tỉnh Thanh Hóa
- Phía bắc giáp phường Trung Sơn và phường Yên Thắng.
Xã Đồng Thái có diện tích 47,60 km², dân số năm 2024 là 24.049 người,[2] mật độ dân số đạt 505 người/km².
Xã này nằm trên Quốc lộ 21B, nối giữa xã Phát Diệm và phường Tam Điệp.
Hành chính
Xã Đồng Thái được chia thành 20 thôn: 83, 92, Bái, Bạch Liên, Đanh, Đoài, Giang Khương, Hậu Thôn, Kênh, La, Lộc, Lộc Đông, Thượng Phường, Tiên, Tiên Dương, Tiền Thôn, Trại Đanh, Tri Điền, Từ Đường, Yên Hóa và 25 xóm: 1 Đông Thôn, 1 Phú Trì, 1 Quảng Công, 2 Đông Thôn, 2 Phú Trì, 2 Quảng Công, Dân Mới, Dầu, Đông Xá, Đồi Khê Hạ, Đồi Yên Tế, Giải Cờ, Hàn Dưới, Hàn Trên, Hoàng Tiến, Khê Hạ, Khê Thượng, Khê Trung, Phong Lẫm Bắc, Phong Lẫm Nam, Thành Hồ, Thái Bình, Thừa Tiên, Tràng Yên, Yên Lạc.
Lịch sử
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Quốc hội ban hành Nghị quyết[3] về việc thành lập tỉnh Hà Nam Ninh trên cơ sở tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình.
Ngày 27 tháng 4 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 125-CP[4] về việc thành lập huyện Tam Điệp thuộc tỉnh Hà Nam Ninh trên cơ sở huyện Yên Mô và một phần của huyện Yên Khánh.
Ngày 17 tháng 12 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 200-HĐBT[5] về việc thành lập thị xã Tam Điệp thuộc tỉnh Hà Nam Ninh trên cơ sở một phần của huyện Tam Điệp.
Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội ban hành Nghị quyết[6] về việc chia tỉnh Hà Nam Ninh thành tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình.
Ngày 4 tháng 7 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 59-CP[7] về việc:
- Thành lập huyện Yên Khánh thuộc tỉnh Ninh Bình trên cơ sở một phần của huyện Kim Sơn và một phần của huyện Tam Điệp.
- Đổi tên phần còn lại của huyện Tam Điệp thành huyện Yên Mô.
Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội ban hành Nghị quyết[8] về việc chia tỉnh Nam Hà thành tỉnh Hà Nam và tỉnh Nam Định.
Tính đến ngày 31/12/2024:
- Xã Yên Đồng có 17 xóm: Dân Mới, Đông Xá, Đồi Khê Hạ, Đồi Yên Tế, Giải Cờ, Hàn Dưới, Hàn Trên, Hoàng Tiến, Khê Hạ, Khê Thượng, Khê Trung, Phong Lẫm Bắc, Phong Lẫm Nam, Thái Bình, Thừa Tiên, Tràng Yên, Yên Lạc.
- Xã Yên Thành có 15 thôn: 83, 92, Bái, Bạch Liên, Đanh, Đoài, Giang Khương, Kênh, La, Lộc, Thượng Phường, Tiên, Tiên Dương, Trại Đanh, Yên Hóa.
- Xã Yên Thái có 5 thôn: Hậu Thôn, Lộc Đông, Tiền Thôn, Tri Điền, Từ Đường và 8 xóm: 1 Đông Thôn, 1 Phú Trì, 1 Quảng Công, 2 Đông Thôn, 2 Phú Trì, 2 Quảng Công, Dầu, Thành Hồ.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[9] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Hà Nam và tỉnh Nam Định vào tỉnh Ninh Bình.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025:
- Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15[10] về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước từ ngày 1 tháng 7 năm 2025.
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1674/NQ-UBTVQH15[1] về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Ninh Bình năm 2025. Theo đó, thành lập xã Đồng Thái thuộc tỉnh Ninh Bình trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số các xã Yên Đồng, Yên Thành và Yên Thái thuộc huyện Yên Mô.
Văn hóa
Di chỉ Mán Bạc
Di chỉ Mán Bạc ở thôn Bạch Liên, xã Đồng Thái, thuộc hệ thống đứt gãy của dải núi đá vôi Tam Điệp chạy ra tới biển. Theo các nhà khảo cổ học, di chỉ Mán Bạc thuộc giai đoạn văn hóa cuối Phùng Nguyên, đầu Đồng Đậu, có niên đại gần 4.000 năm với 30 di hài người Australoid và Mongoloid được chôn chung, cho thấy trên đất Việt Nam đã có sự chung sống lâu dài giữa người Australoid và người Mongoloid.
Cư dân cổ Mán Bạc sống trên toàn bộ doi đất cao gọi là Gò Vụng, được dải núi Mán Bạc bao quanh theo thế hình vòng cung tạo ra một nơi rất kín. Ở đó, cư dân yên tâm sinh sống vì có thể tránh được thời tiết xấu. Năm 1999, các nhà khảo cổ Việt Nam đã tiến hành khai quật di chỉ Mán Bạc lần thứ nhất, và đã tìm thấy 5 mộ táng và 6 cá thể. Trong lần khai quật lần thứ hai, với diện tích 24m2, các nhà khảo cổ đào được 10 mộ với 11 cá thể. Người chết được chôn theo tư thế nằm ngửa, tay chân duỗi thẳng, mặt nghiêng về bên trái. Các nhà khảo cổ cũng thu được 39 chiếc rìu, 8 đục, 6 hạt chuỗi, 10 mảnh vòng, 2 bàn đập vải vỏ cây, 3 nồi gốm, 1 bát đồng, 3 hiện vật hình nấm còn khá nguyên vẹn... và hàng trăm kilogam vỏ nhuyễn thể. Đây cũng là di chỉ đầu tiên trong giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên giữ được di cốt người còn khá nguyên vẹn. Đối chứng với mẫu bào thai 8 tháng tuổi ở Viện Giải phẫu, các nhà khảo cổ đã khẳng định những di cốt được tìm thấy ở một số mộ là trẻ sơ sinh (chiếm tới 50%).[11]
Theo đánh giá của giới khảo cổ, giá trị lớn nhất của cuộc khai quật di chỉ Mán Bạc lần thứ hai là bước đầu cho thấy sự phát triển của văn hóa Đa Bút giai đoạn muộn lên cư dân Mán Bạc cổ. UBND huyện Yên Mô đang có kế hoạch xây dựng bảo tàng ngoài trời tại địa điểm khai quật di cốt người cổ Mán Bạc.
Di tích Khảo cổ Mán Bạc được các nhà khoa học trong nước và quốc tế khai quật 5 lần vào các năm 1999, 2001, 2004 - 2005, 2005 và năm 2007.[12]
Năm 2025, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức Hội thảo khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu khảo cổ học năm 2025 tại khu vực Di tích Mán Bạc. Sự kiện không chỉ ghi nhận những kết quả mới trong lĩnh vực khảo cổ học, mà còn mở ra hướng tiếp cận mới trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của một trong những di chỉ tiền sử quan trọng bậc nhất ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Trong dòng chảy khảo cổ học Việt Nam, Mán Bạc là một trong những mắt xích quan trọng giúp nối kết tiến trình định cư - chuyển đổi sinh kế hình thành cộng đồng cổ xưa tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Những phát hiện mới năm 2025 không chỉ bổ sung lớp thông tin địa tầng, mà còn thổi luồng sinh khí mới cho hành trình hiểu sâu hơn về con người tiền sử Việt Nam.[13]
Làng nghề gốm Bồ Bát
Gia phả các dòng họ lâu đời ở Bát Tràng như họ Lê, Vũ, Phạm, Nguyễn, Trần... đều ghi nhận rằng tổ tiên xưa của họ từ Bồ Bát di cư từ thời Vua Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long và định cư thành Bát Tràng ngày nay. Làng Bát Tràng thờ tổ nghề gốm là Hứa Vĩnh Kiều, vốn là người Bồ Bát. Hứa Vĩnh Kiều đỗ Thái học sinh được triều đình nhà Lý cử đi sứ phương Bắc, ông tiếp thu nghề gốm Trung Hoa và trở về phát triển nghề gốm Bát Tràng. Vào thời Hậu Lê khoảng cuối thế kỉ thứ 14 - đầu thế kỉ 15, xã Bồ Xuyên gồm các thôn (La, Bái, Lộc, Đoài, Đinh, Kênh) và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Liên, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoa Ngoại. Ngày nay, các thôn La, Bái, Lộc, Đoài, Đinh... và làng Bạch Liên đều thuộc xã Đồng Thái, tỉnh Ninh Bình, vùng này có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm.[14]
Theo truyền thuyết, gia phả dòng họ Phạm ở làng Bạch Liên và Bát Tràng và kết quả khảo cổ tại di chỉ Mán Bạc thuộc Bồ Bát xưa nay là làng Bạch Liên là nơi duy nhất làm nghề gốm cổ. Điều này được xác nhận qua dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc, và còn được táng cùng các bộ hài cốt cách đây gần 4000 nghìn năm tìm thấy ở di chỉ Mán Bạc.
Cố đô Mô Độ
Khi quân Minh tràn sang xâm lược Đại Việt và cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo nhanh chóng bị thất bại, Nhà Minh liền yết bảng truy bắt con cháu họ Trần, vì lẽ đó, Trần Ngỗi buộc phải rời kinh thành Thăng Long vào vùng Trường Yên thì gặp thổ hào Mô Độ là Trần Triệu Cơ đang chiêu mộ lực lượng để chiến đấu. Ngày 2/10 năm Đinh Hợi (1407), sau khi triều đình nhà Hồ đã bị quân Minh bắt hết về Trung Quốc, để tạo ra ngọn cờ chính thống cho cuộc chiến đấu giành độc lập, tại đất Mô Độ - châu Trường Yên, lực lượng của Trần Triệu Cơ chính thức đưa Trần Ngỗi lên ngôi Hoàng Đế, đặt niên hiệu là Hưng Khánh. Sử cũ và truyền thuyết vẫn thường gọi ông là Giản Định Đế.[15]
Các thần tích ở đền La cho biết Trần Triệu Cơ là người Mô Độ, tức Đồng Thái, Ninh Bình ngày nay. Trước khi gặp Trần Ngỗi, Trần Triệu Cơ đã là thổ hào đất Mô Độ và chiêu mộ được một lực lượng khá lớn.
Tháng sáu năm 1412, Trương Phụ, Mộc Thạnh đem quân đánh quân của Nguyễn Suý, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung ở kinh đô Mô Độ và khu vực Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Thế giặc quá lớn, các thành bị chiếm.
Đền Hậu Trần
Khu di tích đền Hậu Trần gồm đền La, phủ Bối Mai, lăng mộ Giản Định Đế thờ 2 vua Hậu Trần, công thần Trần Triệu Cơ và công chúa Bối Mai trên đại bản doanh kinh đô Mô Độ xưa nay là làng Bồ Xuyên, xã Yên Thành, Yên Mô, Ninh Bình. Xã Yên Thành còn lưu giữ được khá nhiều di tích, dấu ấn về thời Hậu Trần. Ngôi đền đã được cấp bằng "Di tích lịch sử, văn hóa quốc gia". Ngôi đền ở vào địa thế có bốn ngọn núi chầu bốn bên: Phương Duệ, Cổ Rùa, Long Mã, Búi Tóc.
Thôn La còn có phủ thờ Bối Mai công chúa dưới chân núi Cái Sơn. Bà là con gái Giản Định Đế, người có công tổ chức việc khẩn hoang, khuyến khích việc nông trang, xây dựng xóm làng. Cách phủ thờ Bối Mai công chúa là khu lăng, nơi này, theo truyền thuyết là nơi an táng Giản Định Đế. Khu lăng ngày trước rộng đến 8 ha. Trước lăng có biển đề: "Hậu Trần hoàng đế lăng". Xã Yên Thành lại còn một cái giếng mang tên Giếng Dặn. Giếng này có từ thời Giản Định Đế. Theo phong tục địa phương, uống nước giếng Dặn là nhớ lấy lời tiên tổ, ra sức giữ gìn và góp phần dựng xây non sông gấm vóc.
Lễ hội đền Hậu Trần tưởng nhớ các vị anh hùng thời Hậu Trần được mở từ ngày 12 đến ngày 13 tháng ba âm lịch hàng năm. Ngày hội có rước kiệu quanh đền, sau đó lễ dâng hương, đọc văn tế. Hội có nhiều trò vui chơi như đánh đu, kéo chữ, đánh cờ và múa hát. Hội còn có tục lệ dâng "Xôi Vựng". Loại xôi này phải chọn gạo nếp thật trắng và thơm, các làng dự thi xôi và làm cỗ cúng. Gạo nếp được vo ở nước giếng đặc biệt của thôn Thượng Phường gọi là giếng Me, các thôn khác phải cử người về giếng Me của thôn Thượng Phường từ ngày hôm trước để xin nước ngâm gạo. Người dân nơi đây cho rằng nước giếng Me trong suốt, tinh khiết, nấu xôi rất dẻo và thơm.
Kênh Nhà Lê
Đồng Thái có nhiều đền Vua Lê Đại Hành, tương truyền nơi đây xưa có thành Thiên Phúc do Lê Hoàn xây dựng và khi Ngô Nhật Khánh đưa Chiêm Thành tấn công thành này đã bị bão dìm chết ở cửa biển Thần Phù, gần khu vực này. Đồng Thái là quê hương của anh hùng Dương Văn Thanh, Thượng tá, cử nhân khoa học quân sự, nguyên Phó Trung đoàn trưởng không quân 910. Anh là liệt sĩ, phi công duy nhất được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới. Dương Văn Thanh, sinh năm 1958 ở xã Yên Thái, Yên Mô. Năm 1976, ông trúng tuyển phi công và được đào tạo ở Trường sĩ quan không quân khi anh mới 18 tuổi, trở thành học viên giỏi năm năm liền, tốt nghiệp xuất sắc trong kỳ thi cuối năm 1981 và được nhà trường tuyển dụng để đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và trở thành giảng viên.
Xã Yên Thái nằm bên tuyến kênh Nhà Lê, là tuyến đường thủy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam từ kinh đô Hoa Lư đến Đèo Ngang và được xem là tuyến đường Hồ Chí Minh trên sông vì những đóng góp cho các cuộc chiến tranh của người Việt.
Đền Vua Lê Đại Hành
đền Vua Lê Đại Hành, tương truyền nơi đây xưa có thành Thiên Phúc do Lê Hoàn xây dựng và khi Ngô Nhật Khánh đưa Chiêm Thành tấn công thành này đã bị bão dìm chết ở cửa biển Thần Phù, gần khu vực này. Đây cũng là xã được công nhận Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine ở Ninh Bình.
Du lịch
Hồ Đồng Thái
- Hồ Đồng Thái thuộc xã Đồng Thái cùng với hồ Yên Thắng, hồ Yên Quang là 3 hồ nước lớn nhất Ninh Bình, có diện tích mặt nước khoảng 200 ha. Toàn bộ hồ có diện tích 2.185 ha trong đó có 380 ha được quy hoạch thành khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp. Đây là hồ nước lớn nhất Ninh Bình với nhiều loài động thực vật quý hiếm. Hồ Đồng Thái là một hồ rộng với hình dạng bị cắt xẻ nhiều. Bờ hồ nằm uốn lượn tạo ra nhiều "bán đảo" với nhiều thung lũng đẹp, diện tích từ 2 - 10 ha, Các thung lũng là khu rừng nguyên sơ với nhiều loại động, thực vật hoang dã. Phần lớn thung lũng có bề mặt bằng phẳng, rất thuận lợi xây dựng các khu vui chơi, giải trí hoà quyện với thiên nhiên. Khu du lịch hồ Đồng Thái nằm ở phía Bắc của hồ, thuộc xã Yên Đồng, là nơi phát triển nhiều loại hình du lịch giải trí như du thuyền, đua thuyền, cắm trại, săn bắn, mua sắm hàng hoá, hành hương đến các đền, phủ, leo núi, khám phá hang động, nghỉ dưỡng. v.v.
- Động Mã Tiên nằm ở lưng chừng núi núi Roi Ngựa là một thắng cảnh đẹp cạnh hồ Đồng Thái. Cửa động cao đến 15m, rộng 10m, trông giống miệng của con cá khổng lồ đang há rộng. Nền hang ở động này trũng xuống, không được bằng phẳng, chứa đựng nhiều khối đá lớn nhỏ muôn hình muôn vẻ. Từ nền hang đi qua một cửa hang hẹp sẽ bước lên tầng 2 của động Mã Tiên, cao hơn, có đến 5 buồng hang cao, thấp, rộng, hẹp. Mỗi buồng hang là một cảnh sắc khác nhau. Tầng 2 của động ở phía Tây được gọi là nơi tiên ở. Buồng của tiên ở cao nhất, mát nhất. Trong động có giếng ngọc lúc nào cũng có nước trong xanh. Toàn bộ động Mã Tiên không chỉ có một cửa hang, mà còn có đến 3 cửa lộ thiên trên đỉnh núi nên lúc nào cũng sáng, mát mẻ, không khí trong lành.
Hồ Yên Thắng
Hồ Yên Thắng nằm chạy dài dưới chân đồi thuộc xã Đông Sơn thuộc thành phố Tam Điệp và các xã Yên Thành, Yên Thắng thuộc huyện Yên Mô với diện tích mặt nước 180 ha và 240 ha đồi cây xung quanh, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên hài hòa, môi trường sinh thái trong lành. Hệ thống hồ Yên Thắng hiện cũng một công trình thủy lợi chống lũ, đảm bảo an toàn cho sản xuất và đời sống của nhân dân các xã Yên Thắng, Yên Thành, Yên Hòa của huyện Yên Mô. Với một hệ thống đập tràn, tưới tiêu, hệ thống giao thông thuận lợi chỉ cách thành phố Ninh Bình 15 km, hồ Yên Thắng hứa hẹn là một điểm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cuối tuần cho du khách trong và ngoài nước.
Danh sách di tích
- Đền thờ Tạ Danh Nghĩa ở Thôn Bái thờ Danh tướng Tạ Danh Nghĩa
- Đền Đanh (chùa Bồ Đanh) ở Làng Đanh thờ Thánh
- Đền thôn 83 ở Thôn 83 thờ Đức Thánh Trần, Thần Lý Ngư Long
- Đền Thánh (Đền Cả) ở Thôn Thượng Phường thờ Trần Nhật Duật, Đức Thánh Nhị vị và Tứ vị Nhà nuôi, Hai vị chiếm xạ là Thủy tổ họ Vũ và họ Bùi
- Đền Hậu Trần (Đền La) ở Thôn La thờ các vị vua thời Hậu Trần đã lập kinh đô Mô Độ
- Đền Tiên Dương ở Thôn Tiên Dương thờ Tam Vị Ngọ Đại vương, Thượng Tướng Trần Khát Chân, Đình Ngang Đại vương
- Đình Đôi Đông Đoài ở Thôn Đoài thờ Lý Ngư Đại thần, Thờ tổ 4 dòng họ
- Đình Lục Giáp ở Thôn Lộc thờ Trưởng Minh Ngọ Công, Thứ Minh Ngọ Công, Quý Minh Ngọ Công
- Đình làng Giang Khương (Đại Vu Khương) ở Thôn Giang Khương thờ Thành hoàng làng
- Đình Làng La ở Thôn La thờ Thành hoàng Làng (Trần Toàn Trung)
- Chùa Mả Lường (Phúc Lương tự) ở Thôn Bái thờ Phật
- Chùa Tiên Dương ở Thôn Tiên Dương thờ Phật
- Chùa Bảo Liên (Bảo Liên tự) ở Thôn Thượng Phường thờ Phật
- Chùa thôn 83 ở Thôn 83 thờ Phật
- Chùa Hang ở Thôn Đoài thờ Phật, thờ Mẫu
- Chùa Thôn La ở Thôn La thờ Phật
- Phủ Tiên An ở Thôn Tiên thờ Thánh Mẫu
- Phủ thôn 83 ở Thôn 83 thờ Mẫu
- Phủ Kênh Thị ở Thôn Kênh thờ Thờ Mẫu, Bà Chúa bản phương
- Phủ Diện Sơn ở Thôn Thượng Phường thờ Mẫu Diện Sơn
- Phủ Chúa ở Thôn Tiên Dương thờ Bảo Hoa Công chúa
- Phủ Chúa thôn La ở Thôn La thờ Mai Hoa Công chúa
- Phủ Mẫu ở Thôn Bái thờ Mai Hoa Công chúa, Thành hoàng
- Miếu Cô Tép ở Thôn Trại Kênh thờ Bà Chúa bản Phương và Tổ các dòng họ
- Miếu Thổ Thần ở Thôn Kênh thờ Thần Đất
- Nhà thờ họ giáo Giang Khương ở Thôn Giang Khương thờ Thánh Giu su, Mẹ Maria
- Nhà thờ xứ Bạch Liên ở Thôn Bạch Liên thờ Chúa Giê su, Đức Mẹ
- Di chỉ Mán Bạc ở Thôn Bạch Liên là Di tích chứa đựng khối lượng tư liệu đồ sộ về đồ đá, đồ gốm, di tích động, thực vật, đặc biệt là di tích mộ táng. Thuộc giai đoạn văn hóa cuối Phùng Nguyên, đầu Đồng Đậu, có niên đại gần 4000 năm
- Đồng Vườn ở Thôn Thượng Phường Thuộc giai đoạn văn hóa Đa Bút, có niên đại 3.500 năm
- Nhà thờ họ Vũ ở Thôn Thượng Phường thờ Đức thủy tổ họ Vũ chiếm xạ quan (Vũ Tử Khôi, Vũ Đăng Tiến, Vũ Tở Chương, Vũ Hữu Phú, Bà chúa dòng Họ)
- Lăng Miễu ở Thôn La thờ Vua Trần Ngỗi (Giản Định Đế), Vua Trần Quý Khoáng (hiệu Trùng Quang Đế)
- Đình làng Quảng Công thờ Lê Hoàn, Ngọ vương, Lê Lai, Ngọc Nương Công chúa
- Đình làng Từ Đường thờ Vua Lê Đại Hành, Đức Thánh Tứ, Ngọc Nương Công chúa
- Đình Tiền Thôn ở Thôn Tiền Thôn thờ Ngọc Thỏ
- Đình làng Hậu Thôn ở Thôn Hậu Thôn thờ Ngọc Thỏ
- Đình làng Đông Thôn ở thờ Thành hoàng Nguyễn Lệnh Công, Lực Lộ Đại vương, phối thờ Đô Hồ Đại vương, Bắc Hải Đại vương
- Miếu Bà Cả ở Thôn Lộc Động thờ Quế Hoa Công chúa
- Miếu Đại Tam ở Thôn Lộc Động thờ Đức Thượng đẳng thần
- Miếu Xanh Lộc Động ở Thôn Lộc Động thờ Liễu Hạnh Công chúa
- Miếu Đầm Lộc Động ở Thôn Lộc Động thờ thần Cao Sơn trấn tây Hoa Lư tứ trấn
- Miếu Thượng ở Làng Đông Thôn thờ Bắc Hải Đại Vương
- Miếu Hạ ở Làng Đông Thôn thờ Đô Hồ (Thượng Đẳng Thần)
- Miếu Lăng ở Làng Quảng Công thờ Ngọc Nương Công chúa
- Chùa Phú Trì (Phúc Long tự) ở Làng Phú Trì thờ Phật, Đức Thánh Cả, Thánh Trần, Ngọ Viết Sửu
- Chùa Cầu Hội (chùa Cổ Lâm) ở Xóm Dầu thờ Mẫu, thờ Tổ, Đức Ông, Đức Thánh
- Chùa Phúc Long ở Thôn Quảng Công thờ Phật
- Chùa Lộc Động ở Thôn Lộc Động thờ Phật
- Phủ Giếng Giồng ở Thôn Lộc Động thờ Thượng Ngàn Công chúa, Tiên Ngân, thần Cao Sơn trấn tây Hoa Lư tứ trấn
- Phủ Mẫu ở Làng Đông Thôn thờ Tam vị Thánh Mẫu
- Nhà thờ họ giáo Thành Hồ ở Xóm Thành Hồ thờ Chúa Giê su, Đức Mẹ, Thánh Phê rô và Phao lô
- Nhà thờ họ giáo Phiên ở Xóm 1 Quảng Công thờ
- Nhà thờ họ giáo Tri Điền ở Xóm Tri Điền thờ Chúa Giê su, Đức Mẹ, Thánh Phê rô và Phao lô
- Chùa Tràng Sinh ở Xóm Tràng Yên thờ Phật
- Chùa Yên Duyên (Duyên Phúc Du Đồng) ở Xóm Hoàng Tiến thờ Thành hoàng làng, Đức Thánh Cả, Đức Đệ Nhị, Mẫu Thượng Ngàn, Phật
- Chùa Yên Ninh ở Xóm Dân mới thờ Phật, Công chúa Lê Thị Hoa, Thành hoàng Tống Phúc Đạo
- Chùa Phủ Lũy (Phủ Lũy) ở Xóm Dân mới thờ Phật, Thành hoàng Vũ Lục Hầu, Bà Thánh Hoa Công chúa
- Chùa Công Đồng (chùa Vối) ở Xóm Dân mới thờ Công chúa Từ Huệ, Phò mã Đại Tướng quân tự Phúc Khánh, Thượng Thư Tể Tướng
- Chùa Chẽ (Tam Sơn tự) ở Xóm Khê Thượng thờ Phật, thần Cao Sơn trấn tây Hoa Lư tứ trấn, Đức Mẫu Vương Thương thần
- Chùa Khê Hạ (Long Vân tự) ở Xóm Khê Hạ thờ Phật, Đức Thánh Hiền
- Chùa Khê Trung (Linh Quang tự) ở Xóm Khê Trung thờ Phật, Thành hoàng làng
- Chùa Hưng Phúc Tự (Chùa Yên Tế) ở Xóm Đông Xá thờ Phật
- Chùa Làng Vàng ở Xóm Dân Mới thờ Phật, Thần hoàng làng, Ông Mãnh Tường Bùi Quang Sáng
- Phủ Khê Trung (Phủ Núi Cấm) ở Xóm Khê Trung thờ Cung phi Hoàng hậu
- Phủ Yên Ninh (Phủ Yên Nội) ở Xóm Dân mới thờ Tam Vị Thánh Mẫu
- Phủ Động (Phủ Mẫu Động Tiên) ở Xóm Dân mới thờ Ba vị Tiên Thánh
- Phủ Cầu Đằng ở Xóm Yên Lạc thờ Đức Thánh Mẫu
- Phủ Láng (Đền Phúc Đức Linh Từ) ở Xóm Phong Lẫm Bắc thờ Tam Vị Thánh Mẫu
- Phủ Hưng Phúc linh từ (Phủ Đông Xá) ở Xóm Đông Xá thờ Đức Thánh Mẫu
- Phủ Đồi ở Xóm Dân Mới thờ Thánh Mẫu
- Phủ Suối Vàng ở Xóm Dân Mới thờ Thánh Mẫu
- Đền Giếng Giồng (Đền Long Tỉnh linh từ) ở Đồi Khê Hạ thờ Đức Thánh Mẫu, Tam Vị Thiên Chúa, Đức Hoàng Đế (Trần Triều)
- Đền Hoàng Trạch ở Xóm Hoàng Trạch thờ Thành hoàng làng Vũ Lục Hầu, Đức Thánh Trần
- Đền Đệ Tứ ở Xóm Thái Bình thờ thần Cao Sơn trấn tây Hoa Lư tứ trấn
- Đền Nguồi ở Xóm Khê Hạ thờ Trần Thái Tông, Thành hoàng Trạc Trạc, Bạch Diện Sơn Tinh Phu Nhân Chi Thần
- Đền Đệ Nhị (Đền Vua Bà) ở Xóm Hàn Trên thờ Đương cảnh Thành hoàng Bến Ninh Đại vương
- Đền Đệ Tam ở Xóm Hàn Dưới thờ Tướng thời Mai Hắc Đế hiệu Tướng công Hộ Kim Cương
- Đền Chàm Ma (Đền Chàm suối Mát) ở Đồi Yên Tế thờ Chúa Thượng Ngàn, Tam Vị Chúa Tiên, Đức Thánh Trần
- Đình Tiến Cống (Chùa Giá Tiên Tự) ở Thôn Hoàng Tiến thờ Phật, Mẫu, Hậu thần
- Đình Thượng làng Yên Tế (Đền Thượng) ở Xóm Phong Lẫm Nam thờ Sùng Công, Thánh Trần
- Miếu Xóm giữa (Đền Yên Ca) ở Xóm Yên Ca thờ Đương cảnh Thành hoàng Bản thổ Đại vương
- Nhà thờ họ ở Xóm Hoàng Tiến thờ Thành hoàng làng
- Nhà thờ họ Phạm Xuân ở Xóm Phong Lẫm Nam thờ Cụ Phạm Xuân Triệu giữ chức
- Nhà thờ họ Phạm ở Xóm Thần Tiên thờ Tổ tiên dòng họ Phạm
- Nhà thờ họ giáo Yên Duyên ở Xóm Tràng Yên thờ Thờ Thánh Giuse
- Nhà thờ họ giáo Ba Mươi (Nhà thờ Đức Mẹ) ở Xóm Thần Tiên thờ Thờ Đức Mẹ
- Nhà thờ họ giáo Cát Đằng ở Thôn Khê Thượng thờ Chúa Giê su
- Động Mã Tiên ở Thôn Mã Tiên là Di chỉ khảo cổ thuộc nền văn hóa Hòa Bình
Chú thích
- ^ a b "Nghị quyết số 1674/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Ninh Bình năm 2025". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- ^ a b c Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênĐA - ^ "Nghị quyết về việc hợp nhất một số tỉnh". Hệ thống pháp luật. ngày 27 tháng 12 năm 1975.
- ^ "Quyết định số 125-CP năm 1977 về việc hợp nhất và điều chỉnh địa giới một số huyện, thị xã thuộc tỉnh Hà Nam Ninh". Hệ thống pháp luật. ngày 27 tháng 4 năm 1977.
- ^ "Quyết định số 200-HĐBT năm 1982 về việc mở rộng địa giới hai thị xã Hà Nam, Ninh Bình và thành lập thị xã Tam Điệp thuộc tỉnh Hà Nam Ninh". Hệ thống pháp luật. ngày 17 tháng 12 năm 1982.
- ^ "Nghị quyết về việc phân vạch lại địa giới hành chính một số tỉnh". Hệ thống pháp luật. ngày 26 tháng 12 năm 1991.
- ^ "Nghị định số 59-CP về việc sáp nhập thôn Đông Thôn, xã Yên Lâm vào xã Yên Thái, thành lập huyện Yên Khánh, đổi tên huyện Tam Điệp thành huyện Yên Mô thuộc tỉnh Ninh Bình". Hệ thống pháp luật. ngày 23 tháng 11 năm 1993.
- ^ "Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh". Hệ thống pháp luật. ngày 6 tháng 11 năm 1996.
- ^ "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Nghị quyết số 203/2025/QH15 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Bí mật" của những ngôi mộ 3.500 năm ở Mán Bạc
- ^ Ninh Bình: Bảo tồn và phát huy giá trị Di tích Khảo cổ Mán Bạc
- ^ Khảo cổ học Mán Bạc - Hành trình giải mã một “thung lũng ký ức”
- ^ "Làng Gốm Sứ Bát Tràng". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2011.
- ^ Việt sử lược chép: Trần Ngỗi là con trai vua Trần Nghệ Tông (1321-1394). Khi ông chạy đến Mô Độ, Trường Yên thì người châu này là Trần Triệu Cơ dựng ông làm vua- xưng là Giản Định Đế, đặt niên hiệu là Hưng Khánh.
Tham khảo