Michelle Williams (ca sĩ)
Tenitra Michelle Williams (sinh ngày 23 tháng 7 năm 1979)[1] là nữ ca sĩ, diễn viên người Mỹ. Cô nổi tiếng từ đầu những năm 2000 khi tham gia nhóm nhạc R&B Destiny's Child, một trong những nhóm nhạc nữ bán chạy nhất mọi thời đại[2] với hơn 100 triệu đĩa,[3] trong số đó hơn 60 triệu là từ đội hình có cô.[4][5] Trong thời gian hoạt động trong nhóm, cô đã giành được nhiều giải thưởng, bao gồm một giải Grammy và một ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood.
Michelle Williams | |
|---|---|
Williams năm 2015 | |
| Sinh | Tenitra Michelle Williams 23 tháng 7, 1979 Rockford, Illinois, Mỹ |
| Học vị | Trung học Auburn, Đại học bang Illinois |
| Nghề nghiệp | Ca sĩ, diễn viên |
| Năm hoạt động | 1999–nay |
| Sự nghiệp âm nhạc | |
| Thể loại | |
| Nhạc cụ | Giọng hát |
| Hãng đĩa | |
| Cựu thành viên của | Destiny's Child |
Khi nhóm tạm dừng hoạt động từ năm 2001 tới 2003, Williams phát hành album solo đầu tay Heart to Yours (2002), đứng đầu bảng xếp hạng album nhạc Phúc âm Mỹ, và là album nhạc phúc âm bán chạy nhất năm đó. Cùng năm, Billboard xếp cô ở vị trí thứ năm trong danh sách các nghệ sĩ phúc âm đứng đầu bảng xếp hạng. Cô cũng giành được một giải MOBO cho "Nghệ sĩ phúc âm xuất sắc nhất".[6] Năm 2004, cô ra mắt album solo thứ hai Do You Know. Sau khi Destiny's Child tan rã (2006), Williams phát hành album nhạc pop đầu tiên, Unexpected, vào năm 2008,[7] trong đó có các đĩa đơn nổi bật là "We Break the Dawn" và đĩa đơn hạng nhất Dance Club Songs "The Greatest". Album phòng thu thứ tư, Journey to Freedom (2014), nhận nhiều đánh giá tích cực và là album đạt thứ hạng cao nhất của cô tại Mỹ. Album bao gồm các đĩa đơn "If We Had Your Eyes" và "Say Yes", trong đó "Say Yes" đứng đầu bảng xếp hạng Phúc âm Hot Gospel Songs trong bảy tuần, đoạt giải Stellar cho "Video ca nhạc của năm".[8][9][10]
Williams cũng tham gia diễn xuất, từng tham gia phim truyền hình, đóng kịch Broadway, West End. Vai diễn Broadway đầu tay của cô là trong vở Aida (2003). Cô từng góp mặt trong các phim và vở kịch như Half & Half (2006), The Color Purple (2007), Chicago (2009–10), What My Husband Doesn't Know (2011) Fela! (2013) Death Becomes Her (2024).[11]
Danh sách nhạc
Chính
- Heart to Yours (2002)
- Do You Know (2004)
- Unexpected (2008)
- Journey to Freedom (2014)
Destiny's Child
- Survivor (2001)
- 8 Days of Christmas (2001)
- Destiny Fulfilled (2004)
Tham khảo
- ^ "Michelle Williams • Instagram".
- ^ "Billboard Lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2019 tại Wayback Machine. Retrieved December 5, 2011
- ^ "Mathew Knowles' Music World Entertainment Celebrates Its 20th Anniversary" (Thông cáo báo chí). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2023.
- ^ Olivia B. Waxman (ngày 11 tháng 1 năm 2013). "Beyoncé and Destiny's Child to Release Original Track for First Time in Eight Years". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2025.
- ^ "Yo! Raps Magazine is under construction". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2015.
- ^ "The Year in Music 2001". Billboard. ngày 28 tháng 12 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2013.
- ^ "Williams in a Dance Mood on Third Solo Disc". Billboard.com. 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2011.
- ^ "The 46th NAACP Image Awards – Nominees". NAACP Image Awards. NAACP. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2014.
- ^ Williams, Michelle (ngày 14 tháng 1 năm 2014). "I am soooooooo excited about my 4 Stellar Award nominations!!!! Thanking YOU all who voted to get me this far!!!! #SAYYES". Instagram. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2014.
- ^ Caslin, Yvette (ngày 5 tháng 4 năm 2015). "Destiny's Child, Tamela Mann, Deitrick Haddon and more on the 30th annual Stellar Awards". Rolling Out. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015.
- ^ Gans, Andrew (ngày 21 tháng 5 năm 2008). "Nominees for 18th Annual NAACP Theatre Awards Announced". Playbill. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011.