Nguyễn Trác Luân (chữ Hán: 阮卓倫) là quan lại và tác giả thơ chữ Hán thời Lê trung hưng. Ông quê ở xã Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân trong khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái.[1] Trong chính sử, Nguyễn Trác Luân được nhắc đến trong sinh hoạt văn học dưới thời Trịnh Giang và sự kiện sách ấn năm 1739.[2] Trong nghiên cứu văn học, ông là một trong các tác giả có thơ trong Vịnh sử thi quyển.[3]

Nguyễn Trác Luân
Trường lớpĐệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái
Nghề nghiệpquan lại, tác giả thơ chữ Hán
Tác phẩm nổi bậtVịnh sử thi quyển
Quê quánxã Bình Lao, huyện Cẩm Giàng

Thân thế và khoa cử

Bia đề danh Tiến sĩ khoa Tân Sửu ghi Nguyễn Trác Luân là sinh đồ người xã Bình Lao, huyện Cẩm Giàng.[1] Ông là một trong ba người đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân của khoa thi này, cùng Trương Thời và Nguyễn Tông Khuê; chú thích của bản Văn Miếu nêu Nguyễn Tông Khuê còn được đọc là Nguyễn Tông Quai.[1] Đại Việt sử ký tục biên chép việc điện thí vào mùa xuân năm Nhâm Dần 1722, trong đó Nguyễn Trác Luân được ban Tiến sĩ xuất thân.[4] Khâm định Việt sử Thông giám cương mục cũng chú rằng Nguyễn Trác Luân là người Bình Lao, Cẩm Giàng và là tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái đời Lê Dụ Tông.[5]

Sự nghiệp quan trường

Dưới thời Trịnh Giang, Nguyễn Trác Luân thuộc nhóm văn thần được triệu vào phủ chúa để bàn sách vở, văn nghĩa và thử thơ phú. Đại Việt sử ký tục biên nêu ông cùng Cao Huy Trác, Nguyễn Công Thái, Vũ Duy Tể, Dương Mại, Nguyễn Đức Huy và Nguyễn Kiều trong nhóm được chúa gần gũi nhờ văn học.[2]

Tháng 9 năm Kỷ Mùi 1739, khi Trịnh Giang đang ở Quế Trạo, Nguyễn Trác Luân và Trần Văn Hoán được sai mang sách ấn từ kinh sư, giả làm sứ nhà Thanh đến phong Trịnh Giang làm An Nam quốc thượng vương.[2] Khâm định Việt sử Thông giám cương mục cũng chép sự việc này và chú thêm quê quán, khoa thi của Nguyễn Trác Luân.[5] Bài viết của Đinh Văn Tuấn trên Tạp chí Sông Hương ghi Nguyễn Trác Luân làm quan Phó đô ngự sử; sau khi mất, ông được tặng chức Hữu thị lang Bộ Công.[6]

Văn học

Phần thơ chữ Hán hiện biết của Nguyễn Trác Luân gắn chủ yếu với Vịnh sử thi quyển. Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu giữ hai bản chép tay của tập này, ký hiệu A.849 và A.1314; cả hai đều là bản giấy dó và còn nguyên vẹn.[3] Quách Thu Hiền xem A.1314 là bản có trước và đầy đủ hơn, có thể dùng làm bản nền khi nghiên cứu Vịnh sử thi quyển.[3]

Vịnh sử thi quyển tập hợp thơ vịnh sử của Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Bá Lân (阮伯璘), Nguyễn Trác Luân và Ngô Tuấn Cảnh.[3] Phần đầu của tập gồm thơ vịnh thời Thượng cổ, Tam đạinhà Hán của Nguyễn Trác Luân và Ngô Tuấn Cảnh; tiếp sau đó là thơ vịnh đời Hán của Nguyễn Trác Luân và Nguyễn Tông Quai.[3] Một số bài thơ của Nguyễn Trác Luân được nêu trong khảo sát này gồm Hạng vương từĐại phong Tây bắc khởi.[3] Bản chép còn ghi một số dị văn: bài Hạng vương từ có thêm hai câu kết khác, còn bài Đại phong Tây bắc khởi có thêm hai câu thực khác bên cạnh chính văn.[3]

Quách Thu Hiền cho rằng Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Trác Luân và Ngô Tuấn Cảnh là nhóm được gọi là Trường An tứ hổ hoặc An Nam đại tứ tài (安南大四才) ở giai đoạn đầu thế kỷ XVIII; trên trang đầu của văn bản Vịnh sử thi quyển còn có dòng chữ nhỏ nhất danh tứ hổ (一名四虎).[3] Một bài của VietnamPlus về làng Cổ Đô dùng biến thể danh xưng An Nam tứ đại tài và liệt kê bốn người gồm Nguyễn Trác Luân, Nguyễn Tông Khuê, Ngô Tuấn Cảnh và Nguyễn Bá Lân.[7] Quách Thu Hiền phân biệt nhóm tác gia trong Vịnh sử thi quyển với các dị bản giai thoại muộn hơn về Trường An tứ hổ, khi danh sách nhân vật thay đổi và thiếu cơ sở sử liệu rõ ràng.[3] Bà cũng lưu ý bốn tác giả này không phải là những người trực tiếp biên soạn hợp tập; người định bản Vịnh sử thi quyển chỉ có thể được phỏng đoán từ các dấu vết văn bản.[3] Theo kết luận của khảo sát, Vịnh sử thi quyển là văn bản còn lại giúp xác nhận thơ vịnh sử của một số tác giả ít được nhắc đến trong lịch sử, trong đó có Nguyễn Trác Luân.[3]

Ghi chép liên quan đến gia đình và giai thoại

Nam Hải dị nhân liệt truyện chép Nguyễn Thị Điểm là người huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương và là em gái của Tiến sĩ Nguyễn Trác Luân.[8] Văn bản này kể hai giai thoại đối đáp giữa Nguyễn Trác Luân và Nguyễn Thị Điểm khi bà còn nhỏ.[8] Trong chú thích, Phan Kế Bính nêu sự khác biệt giữa một số sách cũ về quê quán của Nguyễn Thị Điểm: Đăng khoa lục ghi bà người Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, còn Tang thương lục ghi Bắc Giang.[8]

Vấn đề Nguyễn Thị Điểm trong các sách cũ thường được đặt cạnh tiểu sử Đoàn Thị Điểm (段氏點). Đinh Văn Tuấn ghi nhận nhiều thư tịch từng gọi Đoàn Thị Điểm là Nguyễn Thị Điểm (阮氏點), trong đó Đăng khoa lục sưu giảng cho biết Tiến sĩ Nguyễn Trác Luân có người em gái tên Nguyễn Thị Điểm.[6] Tuy nhiên, tác giả cho rằng hiện không có bằng chứng thư tịch cổ xác nhận Nguyễn Trác Luân có em gái tên Nguyễn Thị Điểm. Theo cách giải thích này, việc Đoàn Thị Điểm từng cư ngụ, dạy học ở Hải Dương và có anh là Đoàn Doãn Luân có thể đã khiến một số sách lẫn bà với em gái của Nguyễn Trác Luân.[6] Bài viết cũng lưu ý tên đúng của Nguyễn Trác Luân trong văn bia tiến sĩ và thư tịch cổ là 阮卓倫, trong khi một số sách như Đăng khoa lục sưu giảngĐại Nam kỳ truyện chép chữ Luân thành 輪.[6]

Trong mạch thần phả tại di tích Khê Than, tên Nguyễn Trác Luân xuất hiện ở đình, quán Khê Than, huyện Chương Mỹ. Bài viết của Người Hà Nội, căn cứ thần phả lưu tại di tích, ghi ba vị Nguyễn An Định, Nguyễn Diên Phúc và Nguyễn Cương Nghị là con của Nguyễn Trác Luân, sinh tại trang Bình Lao ngày 10 tháng mười một và về sau được thờ tại đình, quán Khê Than.[9] Thông tin này thuộc mạch thần phả và tín ngưỡng địa phương, khác với các ghi chép khoa cử và chính sử về Nguyễn Trác Luân.[9]

Tham khảo

  1. ^ a b c "Văn khắc Hán-Nôm Văn Miếu - Quốc Tử Giám: Hoành phi, câu đối, văn bia, minh chuông" (PDF). Kiosk Văn Miếu (bằng tiếng Việt và Trung). Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám. tr. 515–517. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  2. ^ a b c "大越史記全書/續編卷之三". Wikisource (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  3. ^ a b c d e f g h i j k Quách Thu Hiền (ngày 11 tháng 8 năm 2009). "Những vấn đề văn bản, tác gia, tác phẩm của Vịnh sử thi quyển". Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  4. ^ "大越史記全書/續編卷之二". Wikisource (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  5. ^ a b "欽定越史通鑑綱目/正編/卷之三十八". Wikisource (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  6. ^ a b c d Đinh Văn Tuấn (ngày 30 tháng 12 năm 2025). "Một số vấn đề về tiểu sử Đoàn Thị Điểm". Tạp chí Sông Hương. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  7. ^ "Cổ Đô: Từ làng lụa, làng tiến sỹ đến làng họa sỹ nổi danh". VietnamPlus. ngày 2 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  8. ^ a b c Phan Kế Bính. "Trang:Nam Hai di nhan liet truyen.pdf/141". Wikisource tiếng Việt. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  9. ^ a b Sơn Dương (ngày 14 tháng 4 năm 2023). "Đình, quán Khê Than (huyện Chương Mỹ)". Người Hà Nội. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.