Oerlikon GDF[4] hay Oerlikon 35 mm nòng đôi là một loại pháo phòng không xe kéo do Oerlikon Contraves chế tạo (sau đổi tên thành Rheinmetall Air Defence AG khi sáp nhập với Rheinmetall năm 2009). Ban đầu hệ thống mang định danh 2 ZLA/353 ML nhưng sau đó được đổi thành GDF-001. Hệ thống được phát triển vào cuối những năm 1950 và được sử dụng bởi quân đội của khoảng 30 quốc gia.[5]

Oerlikon GDF
Pháo nòng đôi cỡ 35 mm Oerlikon của Thụy Sỹ (1979)
LoạiPháo tự động
Nơi chế tạoThụy Sỹ (1958-nay)
Lược sử hoạt động
Phục vụ1963–Present[1]
Sử dụng bởiXem Các nước trang bị
TrậnChiến tranh Iran-Iraq
Chiến tranh Falklands
Chiến tranh giành độc lập Namibia
Ấn Độ không kích Pakistan 2025
Chiến tranh Iran – Israel
Lược sử chế tạo
Người thiết kếOerlikon
Nhà sản xuấtOerlikon (1958-2009) Rheinmetall (2009-Present)
Giai đoạn sản xuất1958–nay
Thông số
Khối lượng6.700 kg (14.800 lb) (với đạn dược đầy đủ)
Chiều dài7,8 m (25 ft 7 in) (hành quân)
Độ dài nòng3,15 m (10 ft 4 in) (barrel)
Chiều rộng2,26 m (7 ft 5 in) (hành quân)
Chiều cao2,6 m (8 ft 6 in) (hành quân)
Kíp chiến đấu3[2]

Đạn pháoComplete round: 35×228mm, 1.565 kg (3.450 lb 4 oz)
Cỡ đạn35 mm (1,4 in)
Cơ cấu lên đạnNạp đạn bằng khí nén[3], propped-lock locking system
Bệ pháoBệ pháo 4 bánh
Góc nâng−5°/+92°
Xoay ngangFull 360°
Tốc độ bắn550 phát/phút (mỗi nòng)
Sơ tốc đầu nòng1.175 m/s (3.850 ft/s) (HEI-T)
Tầm bắn hiệu quảTrần bắn tối đa: 4.000 m (13.000 ft)

Thiết kế và phát triển

Hệ thống sử dụng pháo tự động nòng đôi, bắn đạn 35×228mm chuẩn NATO. Ban đầu hệ thống được định danh là 353 MK, và hiện nay được gọi là dòng KD. Các pháo 35 mm thuộc dòng KD này cũng được sử dụng trên các hệ thống như Flakpanzer Gepard (dựa trên khung gầm Leopard 1), pháo phòng không tự hành Mitsubishi Type 87 (dựa trên khung gầm xe tăng Type 74) và phương tiện phòng không tự hành Marksman. Hệ thống có thể kết hợp với radar điều khiển hỏa lực đặt ngoài pháo (điều khiển từ xa) Super Fledermaus, và đến cuối những năm 1970 đã được nâng cấp lên hệ thống Skyguard.

Pháo có thể được ngắm bắn:

  • trực tiếp thông qua hệ thống ngắm tiên tiến.
  • hoặc tự động bằng cách khóa mục tiêu qua radar.

Ban đầu hệ thống được thiết kế để mang theo 112 viên sẵn sàng khai hỏa, cùng 126 viên dự trữ trên khung xe. Các phiên bản sau với hệ thống nạp đạn tự động có tổng cộng 280 viên. Một loạt bắn tiêu chuẩn thường gồm 28 viên đạn.[4]

Năm 1980, một phiên bản nâng cấp là GDF-002 được sản xuất, với hệ thống ngắm cải tiến và khả năng được điều khiển bởi hệ thống điều khiển số đặt ngoài pháo.

Vài năm sau, phiên bản thứ ba GDF-003 được đưa vào sản xuất, nhìn chung tương tự GDF-002 nhưng có thêm một số cải tiến như cơ cấu tự bôi trơn và các tấm che bảo vệ tích hợp.

Ngoài ra, còn tồn tại một concept pháo phòng không tự hành mang tên GDF-001 Escorter 35..[6][7][8]

Năm 1985, một phiên bản nâng cấp tiếp theo là GDF-005 được sản xuất, với hệ thống ngắm Gunking 3D điều khiển bằng máy tính, tích hợp máy đo xa laser và hệ thống điều khiển số. GDF-005 cũng có hệ thống xử lý đạn dược tự động, loại bỏ nhu cầu cần hai người nạp đạn, qua đó giảm kíp chiến đấu từ 3 người xuống còn 1 người.[4]

Pháo phòng không thường được kéo bằng xe tải 5 tấn 6x6.

Dòng pháo KD

 
Một hệ thống pháo GDF-005 của Áo (định danh FIAK85). Lưu ý thiết bị đo vận tốc đầu nòng được gắn ở đầu mỗi khẩu pháo.

Việc phát triển dòng pháo KD bắt đầu vào khoảng năm 1952, ngay sau khi Oerlikon xác định rằng cỡ nòng 35 mm là tối ưu cho pháo phòng không.

Các pháo dòng KD được phát triển dựa trên thiết kế của pháo 20 mm KAA 204 Gk thời hậu chiến. Nhiều thiết kế khác nhau đã được nghiên cứu, bao gồm cả một phiên bản làm mát bằng nước mang định danh Mk 352, từng được Hải quân Hoa Kỳ thử nghiệm.

Thiết kế cuối cùng là Mk 323, được phát triển thành hai biến thể:

  • KDA: sử dụng băng đạn (belt-fed)
  • KDC: sử dụng kẹp đạn 7 viên (linkless)

Cả hai biến thể đều hoạt động theo nguyên lý trích khí (gas-operated), với cơ cấu khóa kiểu khóa chống (propped-lock locking system).[9]

Super Fledermaus

 
Pháo phòng không Gepard trong quân đội Đức

Hệ thống điều khiển hỏa lực Super Fledermaus được thiết kế và chế tạo bởi công ty Contraves (khi đó còn hoạt động độc lập).

Hệ thống bao gồm một rơ-moóc kéo bốn bánh, trang bị:

  • radar tìm kiếm xung Doppler băng tần E/F với tầm khoảng 15 km
  • radar bám bắt mục tiêu xung Doppler băng tần J, cũng có tầm khoảng 15 km

Hệ thống này cũng được sử dụng làm hệ thống điều khiển hỏa lực trên Flakpanzer Gepard.

Skyguard

 
Một hệ thống radar Skyguard của Không quân Úc
 
Bốn ống phóng tên lửa Aspide/Sparrow.
 
Hệ thống Skyguard được trưng bày tại Bảo tàng Chengkungling, Đài Loan

Hệ thống điều khiển hỏa lực Skyguard được phát triển bởi Contraves và được đưa vào sử dụng từ năm 1977 để thay thế hệ thống Super Fledermaus trong Không quân Thụy Sĩ.[10] Hệ thống được sản xuất bởi Oerlikon-Buehrle (nay là Rheinmetall Air Defence). Các phiên bản nâng cấp đã được triển khai vào các năm 1975, 1995 và 2010. Đây là hệ thống phòng không mọi thời tiết, hoạt động ở độ cao thấp đến trung bình (tối đa khoảng 3.000 m), với tầm hiệu quả tối đa 4.000 m.

Hệ thống Skyguard thực hiện các chức năng:

  • trinh sát trên không
  • phát hiện và bắt bám mục tiêu
  • tính toán phần tử bắn
  • điều khiển hỏa lực cho pháo đôi 35 mm hoặc tên lửa

Trên nóc rơ-moóc kéo có trang bị:

  • radar tìm kiếm xung Doppler
  • radar bám bắt xung Doppler
  • camera truyền hình đồng trục

Hệ thống được vận hành bởi 4 người. Radar có thể triển khai nhanh nhờ hệ thống thủy lực dựng ăng-ten. Rơ-moóc chứa 2 thành viên kíp vận hành cùng một máy phát điện nhỏ.

Một đơn vị hỏa lực điển hình bao gồm hai bệ pháo đôi 35 mm cùng với một radar điều khiển hỏa lực Skyguard.

Hệ thống Skyguard cũng có thể tích hợp mô-đun tên lửa phòng không (SAM) tùy chọn, dựa trên giá pháo và hệ thống radar của GDF nhưng thay pháo bằng 4 ống phóng tên lửa. Hệ thống có thể sử dụng các loại tên lửa như:

Hệ thống radar Skyguard cũng được Không quân Đức sử dụng để giám sát các khu vực bay tầm thấp.

Trong biên chế của quân đội Đài Loan, hệ thống bao gồm:

  • radar Sky Sentinel
  • hai pháo đôi Oerlikon 35 mm
  • bệ phóng tên lửa AIM-7 Sparrow

Trong biên chế của Hy Lạp, hệ thống Skyguard sử dụng tên lửa RIM-7M được gọi là VELOS.[11] Trong biên chế của Tây Ban Nha, Toledo là một hệ thống Skyguard kết hợp với bệ phóng tên lửa Aspide, trong đó khối điều khiển hỏa lực đã được thay thế bằng hệ thống Skydor do Navantia phát triển.

Tổng cộng có 468 hệ thống được chế tạo đến năm 1994, trong đó các quốc gia sử dụng chính gồm:

  • Ý (84 hệ thống)
  • Tây Ban Nha (64 hệ thống)
  • Pakistan (32 hệ thống)[10]

Đạn dược

Định danh NATO HE-T/HEI-T HE/HEI HEI(BF) SAPHEI/SAPHEI-T APDS/FAPDS TP-T/TP AHEAD ATOM 35mm
Trọng lượng đạn 535 g (18,9 oz) 550 g (19 oz) 550 g (19 oz) 550 g (19 oz) 375 g (13,2 oz) 550 g (19 oz) 750 g (26 oz) n/a
Lượng thuốc nổ 98 g (3,5 oz) 112 g (4,0 oz) 70 g (2,5 oz) 22 g (0,78 oz) n/a n/a n/a n/a
Lượng chất đẩy 330 g (12 oz) n/a
Tổng khối lượng 1.565 g (55,2 oz) 1.580 g (56 oz) 1.580 g (56 oz) 1.552 g (54,7 oz) 1.440 g (51 oz) 1.580 g (56 oz) 1.780 g (63 oz) 1.750 g (62 oz)
Vận tốc đầu nòng 1.175 m/s (3.850 ft/s) 1.175 m/s (3.850 ft/s) 1.175 m/s (3.850 ft/s) 1.175 m/s (3.850 ft/s) 1.440 m/s (4.700 ft/s) 1.175 m/s (3.850 ft/s) 1.050 m/s (3.400 ft/s) 1.020 m/s (3.300 ft/s)
 
Lính Romania đang khai hỏa đạn huấn luyện TP.
Định danh:
  • HEI: Đạn nổ phá cháy (có vạch đường)
  • SAPHEI: Đạn xuyên giáp bán phần nổ phá cháy
  • FAPDS: Đạn xuyên giáp lõi tách vỏ (vật liệu giòn)
  • TP: Đạn huấn luyện (có vạch đường)
  • AHEAD: Đạn đánh chặn (chống tên lửa), bắn ra "152 viên bi kim loại tungsten nặng"
  • ATOM 35mm: Đạn nổ trên không do ASELSAN phát triển, bắn ra các viên bi tungsten làm phần tử sát thương. Được thiết kế chủ yếu để tiêu diệt:
    • tên lửa hành trình
    • tên lửa chống hạm
    • UAV
    • vũ khí dẫn đường chính xác
    • máy bay cánh cố định và trực thăng
    • các mục tiêu mặt đất khác.[12][13][14]
    • Đặc điểm:[12][13]
      • Chiều dài đạn: 387 mm
      • Ngòi nổ: ngòi lập trình thời gian, có chức năng tự hủy điện tử
      • Tầm hiệu quả: 4.000 m
      • Tầm bắn tối đa: 12.500 m

Ngoài Oerlikon, công ty Nammo của Na Uy cũng cung cấp một số biến thể đạn này.[15][16] Đạn do Na Uy cung cấp cho Ukraine năm 2022 để sử dụng trên Flakpanzer Gepard đã gặp vấn đề không tương thích, và phải tiến hành điều chỉnh lại để sử dụng được.[17]

Các phiên bản

GDF-001 / 2 ZLA/353 MK

  • Sử dụng hệ thống ngắm XABA

GDF-002

  • Giới thiệu năm 1980
  • Hệ thống ngắm Ferranti cải tiến và bus dữ liệu số
  • 112 viên nạp đạn sẵn + 126 viên dự trữ (tổng 238 viên)

GDF-003

  • Cải tiến nhỏ: tấm che bảo vệ và tự bôi trơn

GDF-005

  • Giới thiệu năm 1985
  • Hệ thống ngắm Gunking 3D điều khiển bằng máy tính, tích hợp máy đo xa laser và điều khiển hỏa lực số
  • Nguồn điện và chẩn đoán tích hợp
  • 280 viên + nạp đạn tự động

GDF-006

  • GDF-001/002/003 nâng cấp với hệ thống AHEAD

GDF-007

  • GDF-005 nâng cấp với AHEAD

GDF-009

  • Được giới thiệu tại Triển lãm IDEF 2015 (Istanbul)
  • Thiết kế bên ngoài thay đổi đáng kể nhưng vẫn giữ cấu trúc cơ bản
  • Sử dụng nguồn điện tích hợp
  • Khung gầm 4 bánh, triển khai bằng 3 chân chống
  • Có hệ thống tự cân bằng (bù nghiêng tối đa 7°)
  • Pin tích hợp có thể sạc từ nguồn ngoài[18]
 
Phiên bản của Nhật Bản
 
Pháo Oerlikon 35mm nòng đôi của Không quân Singapore
 
Type 87 SPAAG của Nhật Bản
 
ITPSV 90 của Phần Lan
 
ITPSV Leopard 2 Marksman của Phần Lan
 
PZA Loara-A
 
Samavat gần Cơ sở hạt nhân Natanz

Nâng cấp và biến thể tại các quốc gia

AHEAD

  • Đạn nổ lập trình, phát nổ trước mục tiêu và tạo chùm 152 viên tungsten
  • Được sử dụng bởi: Canada, Pakistan, Hy Lạp, Oman, Tây Ban Nha, Đài Loan, Chile (chưa xác nhận)

MKE GDF-003B

  • Phiên bản Thổ Nhĩ Kỳ, sản xuất theo giấy phép bởi MKE.[19][20]

MKE/Aselsan GDF-003B Modernized:

  • Nâng cấp bởi Aselsan[20]
  • Tích hợp hệ thống điều khiển hỏa lực tương tự Skyguard
  • Radar: tìm kiếm 3D + điều khiển hỏa lực + cảm biến quang điện
  • Tốc độ bắn: 1100 viên/phút (2×550)
  • Tầm hiệu quả: 4 km[21][22]
  • Bắn được đạn ATOM 35mm
  • Có thể tích hợp tên lửa phòng không tầm thấp

Việc nâng cấp này cho phép hệ thống bắn được đạn ATOM 35mm, loại đạn nổ trên không tại điểm được tính toán trước phía trước mục tiêu, tạo ra một hình nón các viên bi tungsten hướng vào mục tiêu.[12][13] Pháo cũng có thể sử dụng các loại đạn:

  • HEI (nổ phá cháy)
  • TP-T (đạn huấn luyện có vạch đường)[22]

Khái niệm đạn nổ trên không ATOM 35 mm được phát triển nhằm tăng hiệu quả của hệ thống pháo trước các mục tiêu hiện đại, bao gồm:

  • máy bay cánh cố định và trực thăng
  • tên lửa hành trình
  • tên lửa không đối đất
  • UAV
  • các loại vũ khí dẫn đường chính xác khác[12][13][22]

Hệ thống điều khiển hỏa lực và chỉ huy của Aselsan cũng có thể tích hợp tên lửa phòng không tầm thấp cùng với nền tảng pháo 35 mm.[22]

Tương tự GDF-009, mỗi bệ pháo đều được trang bị pin tích hợp, đóng vai trò là nguồn cấp điện, và có thể sạc lại từ nguồn bên ngoài khi cần thiết.[22]

KORKUT: Biến thể pháo phòng không tự hành (SPAAG) của Thổ Nhĩ Kỳ do Aselsan thiết kế. Hệ thống được phát triển từ GDF-003B hiện đại hóa và dựa trên khung gầm lội nước FNSS ACV-30. Pháo KDC-02 của hệ thống được sản xuất theo giấy phép bởi MKE.[23] Mỗi hệ thống KORKUT bao gồm một xe chỉ huy – điều khiển và ba xe hỏa lực. Xe chỉ huy – điều khiển được trang bị radar tìm kiếm 3D với tầm hiệu quả 70 km. Mỗi xe hỏa lực mang pháo đôi 35 mm kín, radar điều khiển hỏa lực và các cảm biến quang điện (E/O).[24][25][26]


Aselsan GOKDENIZ

Phiên bản hệ thống vũ khí tầm gần (CIWS) trên hải quân của KORKUT. Mục đích chính của hệ thống là phòng thủ chống tên lửa chống hạm bay bám biển, phương tiện bay không người lái và các loại vũ khí dẫn đường chính xác khác.[14][27]


Flakpanzer Gepard

Biến thể pháo phòng không tự hành dựa trên khung gầm Leopard 1.


Marksman SPAAG

Biến thể tự hành sử dụng tháp pháo Marksman, có thể lắp trên nhiều loại khung gầm xe tăng. Phiên bản duy nhất được sản xuất là biến thể dựa trên khung gầm T-55AM cho Phần Lan, với 7 hệ thống ITPSV 90 Marksman được chế tạo. Sau khi được đưa vào niêm cất từ năm 2010, các tháp pháo Marksman được nâng cấp điện tử và chuyển sang khung gầm Leopard 2 vào năm 2015[28], tạo thành ITPSV Leopard 2 Marksman.[29]


Type 87 SPAAG

Biến thể pháo phòng không tự hành của Nhật Bản.


PZA Loara

Biến thể dành cho Ba Lan, dựa trên khung gầm xe tăng PT-91.


Type 90 (PG99)

Bản sao sản xuất theo giấy phép của GDF-002 tại Trung Quốc.[30] PG99 là pháo phòng không kéo, phù hợp cho nhiệm vụ phòng không điểm và phòng không ven biển. Hệ thống thường được triển khai gần căn cứ quân sự, sân bay, đường hầm, đảo, và dọc bờ biển để bảo vệ tuyến giao thông biển (SLOC), cảng, cầu và các mục tiêu quan trọng khác.[31]


MAA-01

Biến thể do Myanmar sản xuất trong nước sử dụng pháo GDF của Trung Quốc, tương tự Type 90.[32]


CS/SA1

Phiên bản nâng cấp của Trung Quốc dựa trên GDF-002.[33] Được lắp trên xe tải 6×6 SX2190, biến PG99 thành biến thể tự hành, trong khi trước đó chỉ tồn tại dưới dạng pháo kéo.[34]


Type 09 SPAAA

Biến thể tự hành dựa trên Type 90. Xuất hiện lần đầu tại lễ duyệt binh kỷ niệm Ngày Chiến thắng năm 2015 của Trung Quốc.


Samavat

Biến thể dành cho quân đội Iran, được trang bị thiết bị ngắm ban đêm và sử dụng cùng các radar điều khiển hỏa lực Skyguard và Super Fledermaus.


Amoun

Biến thể của Ai Cập kết hợp hệ thống Skyguard và tên lửa AIM-7 Sparrow.

Các nước trang bị

 
GDF-005
  •   Argentina: 38 khẩu GDF-002 thuộc biên chế Lục quân sử dụng với radar điều khiển hỏa lực Skyguard; 6 khẩu GDF-001 thuộc Không quân sử dụng với radar điều khiển hỏa lực Super Fledermaus.
  •   Áo: 74 khẩu GDF-005 thuộc Lục quân; Không quân có 18 khẩu GDF-005 cùng 37 radar điều khiển hỏa lực Skyguard.
  •   Bahrain: 12 hệ thống GDF-005, sử dụng radar Skyguard.
  •   Bangladesh: Đã đặt mua 4–8 hệ thống pháo phòng không Oerlikon GDF-009 cùng radar điều khiển hỏa lực Skyguard 3.[35][cần kiểm chứng] Năm 2019, các hệ thống này đã được thử nghiệm tại Cox's Bazar.[36][37]
  •   Brasil: 38 khẩu GDF-001 với radar Super Fledermaus nâng cấp và radar Skyguard do Brazil sản xuất. Dự kiến tích hợp radar Saber M60.
  •   Cameroon: Sử dụng các hệ thống GDF-002 và Type 90.[38]
  •   Canada: 20 hệ thống GDF-005 và 10 radar Skyguard được lưu trữ cho tình huống khẩn cấp.
  •   Chile: 24 hệ thống GDF-005/007, sử dụng với radar Skyguard.[39]
  •   Trung Quốc: Sản xuất theo giấy phép pháo GDF-002 dưới tên định danh là Type 90, số lượng khoảng 400 hệ thống với radar Skyguard.[40]
  •   Colombia: 75 hệ thống GDF-005 trong trạng thái dự trữ.
  •   Síp: 24 hệ thống GDF-005, sử dụng kết hợp với Skyguard và tên lửa Aspide (tên gọi trong quân đội Síp là hệ thống Othellos).
  •   Ecuador: 30 hệ thống GDF-003.
  •   Ai Cập: 72 hệ thống Amoun, sử dụng với Skyguard và tên lửa Sparrow.
  •   Phần Lan: 16 hệ thống, định danh nội địa là 35 ITK 88.
  •   Đức: Trên các xe pháo phòng không tự hành Gepard, có 4 radar Skyguard dùng để giám sát mục tiêu bay thấp.
  •   Hy Lạp: 24 hệ thống GDF-002 được nâng cấp lên GDF-006 (AHEAD), 12 radar Skyguard nâng cấp, sử dụng cùng tên lửa Sparrow.
  •   Iran: 92 hệ thống GDF-002. Iran tự sản xuất biến thể riêng tên là Samavat, sử dụng với radar Skyguard và Super Fledermaus.
  •   Indonesia: 4 hệ thống Type 90 sử dụng với radar Skyguard AF-902, do Thủy quân lục chiến Indonesia vận hành.[41]
  •   Nhật Bản: Khoảng 70 hệ thống GDF-001, sử dụng với radar Super Fledermaus nâng cấp. Sản xuất theo liên doanh: Japan Steel Works (sản xuất pháo 35 mm) và Mitsubishi Electric (các thành phần khác)[42] Ngoài ra có 52 hệ thống lắp trên xe Type 87 SPAAG.
  •   Hàn Quốc: 36 hệ thống GDF-003, sử dụng với radar Skyguard.
  •   Kuwait: 12 hệ thống GDF-005 (Amoun), sử dụng với Skyguard và tên lửa Sparrow.
  •   Malaysia: 28 hệ thống GDF-005, sử dụng với radar Skyguard.
  •   Myanmar: Số lượng không rõ các hệ thống MAA-01 (Type 90) sản xuất nội địa.[32]
  •   Nigeria: 16 hệ thống GDF-002.
  •   Oman: 10 hệ thống GDF-005 được nâng cấp AHEAD, sử dụng với radar Skyguard.
  •   Pakistan: Ước tính 180 hệ thống GDF-005, trong đó 60 hệ thống được nâng cấp AHEAD, sử dụng với radar Skyguard.
  •   România: 43 hệ thống pháo phòng không tự hành Gepard và 72 hệ thống GDF-003.
  •   Ả Rập Xê Út: 128 hệ thống GDF-005 cải tiến, sử dụng với radar Skyguard.
  •   Singapore: 58 hệ thống (34 GDF-001 và 24 GDF-002). Radar điều khiển hỏa lực được nâng cấp nội địa.[43]
  •   Nam Phi: 102 hệ thống GDF-002 và 48 hệ thống GDF-005 cải tiến. Được nâng cấp lên chuẩn Skyshield, GDF-006 AHEAD và GDF-007 AHEAD vào năm 2017. Khoảng 169 hệ thống GDF-00x cùng 75 radar Super Fledermaus đã được trang bị cho SADF.
  •   Tây Ban Nha: 92 hệ thống GDF-007 (nâng cấp từ GDF-005 giai đoạn 2003–2006), sử dụng với 27 radar Skydor và 18 radar Skyguard.[44]
  •   Thụy Sĩ: Khoảng 24 hệ thống GDF-005 cải tiến (trong tổng số 264 hệ thống GDF-001/002), sử dụng với radar Skyguard.
  •   Đài Loan: 24 radar điều khiển hỏa lực Skyguard "Sky Sentinel" liên kết với khoảng 50 pháo nòng đôi GDF-003 35 mm. Từ năm 2009 đã nâng cấp lên GDF-006 để sử dụng đạn AHEAD.
  •   Thái Lan: 8 hệ thống GDF-007, sử dụng với 4 radar Skyguard 3.
  •   Thổ Nhĩ Kỳ: Pháo Oerlikon 35 mm sản xuất theo giấy phép bởi MKE.[20][45] có 120 hệ thống GDF-003 (phiên bản nội địa là MKE GDF-003B).[20][46] Nhiều hệ thống đã được nâng cấp lên chuẩn GDF-003B M (Modernized) với hệ thống điều khiển hỏa lực của Aselsan.[20][21][22]
  •   Ukraina: 30 hệ thống sử dụng trên các xe Gepard SPAAG.
  •   UAE: 30 hệ thống GDF-005.
  •   Anh Quốc: 5 khẩu pháo GDF-002 bị thu giữ trong Chiến tranh Falklands, cùng 6 radar Skyguard và 1 radar Super Fledermaus. Hiện 4 radar Skyguard được sử dụng để phát hiện máy bay quân sự Anh bay vượt giới hạn trên khu dân cư.[47] Các pháo GDF-002 hiện được lưu kho hoặc trưng bày trong bảo tàng quân sự.

Hoạt động tác chiến

 
Harrier XZ988, bị bắn rơi ngày 27/5[48]

Năm 1982 – Chiến tranh Falklands

Hệ thống được Lực lượng Vũ trang Argentina sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Falklands.

  • Radar điều khiển hỏa lực Skyguard được sử dụng bởi Nhóm Pháo phòng không 601, trong khi hệ thống Super Fledermaus được Không quân Argentina triển khai.
  • Lực lượng này đã bắn hạ một máy bay Sea Harrier (XZ450) vào ngày 4/5/1982 tại Goose Green, buộc máy bay Anh phải hoạt động ngoài tầm bắn.
  • Một máy bay Harrier (XZ988) của Không quân Hoàng gia Anh (RAF) cũng bị bắn hạ ngày 27/5.[49] Một chiếc khác (XW919) bị hư hại bởi mảnh đạn pháo 35 mm trên khu vực Sapper Hill ngày 12/6.[50][51]

Ngoài nhiệm vụ phòng không, hệ thống còn được sử dụng trong vai trò bắn trực xạ:

  • Trong trận Goose Green: tiêu diệt 2 binh sĩ, làm bị thương 11 người[52][53]
  • Tại Wireless Ridge: sử dụng ngay trước khi Argentina đầu hàng[54]

Sự cố bắn nhầm (friendly fire)

Hệ thống liên quan đến hai vụ bắn nhầm:

  • 1/5/1982: Một khẩu đội thuộc GADA 601 bắn hạ máy bay Mirage III (I-019) của Argentina gần sân bay Stanley, khiến phi công Đại úy Gustavo Cuerva thiệt mạng.[55][56]
  • 24/5/1982: Một máy bay A-4 Skyhawk (C-244) bay vào khu vực cấm trên Goose Green và bị bắn hạ, phi công Trung úy Gavazzi thiệt mạng.[57][58]

Đối đầu với Không quân Anh (RAF)

Các radar Skyguard đã trở thành mục tiêu của Không quân Hoàng gia Anh trong Chiến dịch Black Buck vào các ngày 31 tháng 5 và 3 tháng 6. Một radar đã bị phá hủy bởi tên lửa chống radar Shrike, khiến bốn nhân viên vận hành thiệt mạng.

Lực lượng Anh đã thu giữ 15 khẩu pháo phòng không 35 mm Oerlikon GDF và 6 hệ thống Skyguard, sau đó tiến hành tân trang lại chúng trong "Chiến dịch Skyguard". Sau đó, 12 khẩu pháo và 4 radar đã được đưa vào biên chế Không quân Hoàng gia Anh trong biên chế 1339 Wing Royal Auxiliary Air Force, do các phi đội 2729 và 2890 vận hành tại căn cứ Không quân Waddington. Hai hệ thống Skyguard bổ sung cũng được mua thêm, tuy nhiên việc cắt giảm ngân sách và chi phí bảo trì cuối cùng đã khiến các hệ thống này bị loại biên.[59][60] Một khẩu pháo hiện được trưng bày tại RAF Regiment Heritage Centre ở RAF Honington, trong khi hệ thống Skyguard vẫn tiếp tục được RAF sử dụng để giám sát các chuyến bay ở độ cao thấp.

Ngày 12 tháng 10 năm 2007, một khẩu pháo phòng không 35 mm GDF-005 bị trục trặc đã khiến chín binh sĩ của SANDF thiệt mạng và mười bốn người khác bị thương trong một cuộc diễn tập tại Lohatla, Bắc Cape Town. Khẩu pháo bị kẹt, sau đó chuyển sang chế độ tự động và khai hỏa một loạt đạn trong khi xoay không kiểm soát.[61][62] Báo cáo của SANDF năm 2008 cho rằng nguyên nhân là do một chốt lò xo bị gãy, trong khi một số ý kiến khác cho rằng nguyên nhân xuất phát từ việc huấn luyện không đầy đủ.[63]

Vào tháng 5 năm 2025, trong xung đột Ấn Độ–Pakistan 2025,[64] Quân đoàn Phòng không Lục quân Pakistan đã triển khai các khẩu pháo 35 mm Oerlikon GDF-002. Ấn Độ đã phóng nhiều UAV cảm tử IAI Harop, và lực lượng phòng không Pakistan được cho là đã bắn hạ 77 chiếc.[65][66][67]

Xem thêm

Các dự án phát triển vũ khí liên quan

Tham khảo

Notes
  1. ^ "Oerlikon GDF". WeaponSystems.net. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2021.
  2. ^ Foss, Christopher (1977). Jane's pocket book of towed artillery. New York: Collier. tr. 227. ISBN 0020806000. OCLC 911907988.
  3. ^ Friedman, Norman (1997–1998). "Oerlikon 35mm (Type GDM-A and GDM-C)". The Naval Institute Guide to World Naval Weapons Systems, 1997–1998. Annapolis, Md.: Naval Institute Press. tr. 455. ISBN 978-1-55750-268-1. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2012.
  4. ^ a b c "GDF - Weaponsystems.net". weaponsystems.net. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2017.
  5. ^ "GDF | Weaponsystems.net". old.weaponsystems.net.
  6. ^ Christopher F. Foss. Jane's armour and artillery 1983-84 . ISBN 9780710607812.
  7. ^ The Directory of the World's Weapons. Blitz Editions. 1996. ISBN 1-85605-348-2.
  8. ^ "Oerlikon GDF-DO3 35mm 'Escorter' SPAAG". www.globalsecurity.org.
  9. ^ George M. Chinn, The Machine Gun, Volume V
  10. ^ a b www.forecastinternational.com https://web.archive.org/web/20250125123352/https://www.forecastinternational.com/archive/disp_old_pdf.cfm?ARC_ID=875. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  11. ^ "VELOS". haf.gr. Hellenic Air Force. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019.
  12. ^ a b c d "ATOM 35mm Airburst Ammunition". Aselsan. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2021.
  13. ^ a b c d "ATOM" (PDF). Aselsan. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2021.
  14. ^ a b "GOKDENIZ" (PDF). Aselsan. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  15. ^ Moss, Matthew (ngày 26 tháng 4 năm 2022). "Germany To Transfer Gepard Anti-Air Systems to Ukraine, But Switzerland Blocks Ammunition Transfer". overtdefense.com. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2022.
  16. ^ "35 mm-series". nammo.com. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2022.
  17. ^ Nikolov, Boyko (ngày 31 tháng 7 năm 2022). "Norway-delivered Gepard SPAAG 35mm shells are useless in Ukraine". BulgarianMilitary.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2022.
  18. ^ "New anti-aircraft gun Oerlikon GDF-009 from Rheinmetall". WeaponNews. Unknown. ngày 25 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019.
  19. ^ "35 mm Twin Barrel Anti-Aircraft Gun: GDF-003B". www.mkek.gov.tr. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  20. ^ a b c d e "GUNS and HOWITZERS: 35MM TWIN BARREL ANTI AIRCRAFT GUN". TURKISH DEFENCE INDUSTRY PRODUCT CATALOGUE. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
  21. ^ a b "Modernization of 35 mm Towed Air Defense Guns". Aselsan. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  22. ^ a b c d e f "Modernization of 35 mm Towed Air Defense Guns" (PDF). Aselsan. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  23. ^ "İlk "KORKUT" sistemi teslim edildi". SVT | Savunma ve Teknoloji (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  24. ^ "KORKUT Self Propelled Air Defense Gun System". Aselsan. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  25. ^ "KORKUT SSA" (PDF). Aselsan. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  26. ^ "KORKUT KKA" (PDF). Aselsan. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  27. ^ "WEAPONS and TURRETS for NAVAL PLATFORM: GOKDENIZ". TURKISH DEFENCE INDUSTRY PRODUCT CATALOGUE. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  28. ^ Huhtanen, Jarmo (ngày 25 tháng 5 năm 2015). "Armeija ottaa vanhojen Marksman-vaunujen tykkitornit uuteen käyttöön" [Army takes old Marksman tank turrets to new use]. Helsingin Sanomat (bằng tiếng Phần Lan). Sanoma Media Finland. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2021.
  29. ^ "Maavoimien liikkuvuuden ja tulivoiman roll out Panssariprikaatissa 5.8.2015 – Esiteltävä kalusto" [Army Mobility and Firepower roll out in Armoured Brigade, 5 August 2015 – Equipment Presentation] (PDF) (bằng tiếng Phần Lan). Finnish Defence Forces. ngày 5 tháng 8 năm 2015. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2021.
  30. ^ "Type 90 Twin-35mm Towed Anti-Aircraft Artillery". sinodefence.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2013.
  31. ^ "Wide range of defence solutions available from ChinaPoly Technologies Inc". Jane's Information Group. ngày 20 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2013.
  32. ^ a b "SIPRI Trade Register". Stockholm International Peace Research Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2011.
  33. ^ "Pakistan Acquires Chinese Made Air Defence Artillery". Kanwa Daily News. ngày 28 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2013.
  34. ^ Andrew, Martin (ngày 16 tháng 3 năm 2009). "PLA Mechanised Infantry Division Air Defence Systems / PLA Point Defence Systems". tr. 1. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2013.
  35. ^ "Technical Specification and Other Requirements for Item SER No 1. Carts High Explosive Incendiary (HEI) for Radar Control Air Defence Gun System 35 mm Oerlikon GDF 009/Skyguard 3, QTY-1,000 NOS" (PDF). DGDP. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019.
  36. ^ "Newly Addition in Bangladesh Army Orelikon Radar Controlled Gun Test Firing Held at Coxbazar". ISPR (bằng tiếng Bangla). Bangladesh. ngày 13 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2019.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  37. ^ Anti-Aircraft Gun, Oerlikon GDF 009 (ngày 14 tháng 10 năm 2019). "Oerlikon Radar Controlled Gun". The Financial Express. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2019.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  38. ^ de Cherisey, Erwan (ngày 13 tháng 7 năm 2016). "New Cameroonian air-defence capabilities revealed". IHS Jane's 360 (bằng tiếng Anh). Paris. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2016.
  39. ^ "GDF-007 FACH".
  40. ^ Type 90 Twin-35mm Towed Anti-Aircraft Artillery. Lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2013 tại Wayback Machine Retrieved on 1 August 2008.
  41. ^ "Peace Research Institute". Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2025.
  42. ^ (bằng tiếng Nhật) 35mm 2連装高射機関砲 L-90. Lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2008 tại Wayback Machine Retrieved on 1 August 2008.
  43. ^ "SIPRI arms transfer database". Stockholm International Peace Research Institute. ngày 18 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2011.
  44. ^ "Cuartel General del Mando de Artillería Antiaérea" [Anti-aircraft Artillery Command]. Spanish Minister of Defense official website (bằng tiếng Tây Ban Nha). tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2016.
  45. ^ "MKEK - Makina ve Kimya Endüstrisi Kurumu" [MKEK - Mechanical and Chemical Industry Corporation]. www.mkek.gov.tr (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2014.
  46. ^ Pike, John. "Turkey - Major Army Equipment". www.globalsecurity.org. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2014.
  47. ^ "Skyguard", House of Commons Debates, Hansard, 31902, ngày 11 tháng 2 năm 2002, lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2018.
  48. ^ Hawker Siddeley Harrier GR.3
  49. ^ Pook, page 109
  50. ^ "RAF Diaries, 12 June entry". Royal Air Force. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2015.
  51. ^ Rodríguez Mottino, Jorge (2001). Malvinas: El Conflicto Bélico (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ediciones Argentas. tr. 91.
  52. ^ David Aldea. "Goose Green: The Argentinian Story". British Small Wars. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013.
  53. ^ Reynolds, David (2002). Task Force: The Illustrated History of the Falklands War. Sutton. tr. 150. ISBN 0-7509-2845-X.
  54. ^ Pook, page 162
  55. ^ Rodríguez Mottino, Jorge (2001). Malvinas: El Conflicto Bélico (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ediciones Argentas. tr. 170.
  56. ^ "El derribo del primer avión argentino en Malvinas". Misiones Online (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2011.
  57. ^ "Argentine aircraft losses – Naval-History.net".
  58. ^ Fernández Reguera, José (1987). La Guerra de las Malvinas (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ediciones de la UCA. tr. 572.
  59. ^ "Falklands Campaign (Captured Weapons)". Parliamentary Debates (Hansard). ngày 31 tháng 1 năm 1985. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2009.
  60. ^ "Britain's Small Wars – Argentine Weapons". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2009.
  61. ^ Shachtman, Noah. "Robot Cannon Kills 9, Wounds 14". Wired. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2009.
  62. ^ "SANDF Training Accident Report". IOL.
  63. ^ "Pretoria News, page 3". ngày 26 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2009.
  64. ^ Altman, Howard (ngày 8 tháng 5 năm 2025). "Israeli-Made Harop Attack Drones Launched By India By The Dozens, Pakistan Claims". TWZ.
  65. ^ "Number of Indian drones downed by Pakistan reaches 77". E Tribune. ngày 9 tháng 5 năm 2025.
  66. ^ "All you need to know about Israel-made Harop drones used by India in Pakistan". Dawn. ngày 8 tháng 5 năm 2025.
  67. ^ "29 shot down Harop drones cost India Rs5.73bn". The News International. ngày 9 tháng 5 năm 2025.
Bibliography
  • Jane's Land-Based Air Defence 2005–2006, by James C O'Halloran, ISBN 0-7106-2697-5
  • RAF Harrier Ground Attack-Falklands, by Jerry Pook, ISBN 978-1-84415-551-4
  • The Machine Gun, Volume V, George M. Chinn
  • La Artillería Argentina en Malvinas, by Horacio Rodríguez Mottino. (bằng tiếng Tây Ban Nha)

Liên kết ngoài

Thể loịa: Pháo 35 mm