Phạm Quang Trạch
Phạm Quang Trạch (1653 – 1716) là vị quan thời Lê trung hưng. Ông từng giữ chức Lễ bộ Hữu Thị lang, là tác giả cuốn Nam chưởng kỷ lược[1] về mối bang giao giữa Đại Việt và Ai Lao. Phạm Quang Trạch tên húy là Tiêu 鑣, tự là Quang Trạch, sau tránh quốc húy, đổi là Công Trạch. Ông là con trai thứ 2 cụ Tham chính Phạm Thọ Trinh, là chút[1] cụ Khai khoa Tiến sĩ Phạm Lân Đính, chắt[2] cụ Hoàng giáp Phạm Thọ Chỉ, điệt tôn[3] cụ Tiến sĩ Phạm Hiển Danh, chú các Tiến sĩ Phạm Công Hoàn (Quang Hoàn), Phạm Quang Dung (Công Dung), cha Tiến sĩ Phạm Nguyên Ninh (Gia Ninh), thuộc dòng họ Phạm gốc ở làng Đông Ngạc (tên Nôm là làng Vẽ), nay là phường Đông Ngạc, Tp. Hà Nội.
Phạm Quang Trạch | |
|---|---|
| Sinh | 1653 2 tháng 11 năm Quý Tỵ (1653) |
| Mất | 1716 Đông Ngạc |
| Nơi an táng | Xứ Đình Triền, thôn Lỗ Khê, huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội |
| Nghề nghiệp | Lễ bộ Hữu Thị lang, tước Ngạc lĩnh nam Gia tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Hộ bộ Thượng thư, tước Ngạc quận công |
| Quốc tịch | Đại Việt |
| Dân tộc | Kinh |
| Tư cách công dân | Đại Việt |
| Tác phẩm nổi bật | Nam chưởng kỷ lược |
| Phối ngẫu | Phạm Thị Cấu Nguyễn Thị Ái Phạm Thị Trường Ông Thị Ngọc Nguyễn Thị Ngọc Lê Thị Nhưng |
| Con cái | Liêm Quận công Phạm Công Hoành Hương cống Phạm Gia Thẩm Tiến sĩ Phạm Gia Ninh Hương cống Phạm Gia Vũ Hương cố Phạm Công Vận Hương cống Phạm Gia Bảo |
[1] Chút: cháu 5 đời
[2] Chắt: Cháu 4 đời
[3] Điệt tôn: Cháu của bác hoặc chú, ở đây cụ Phạm Hiển danh là bác họ cụ Bảng
Thân thế
Năm Kỷ Dậu (1669), niên hiệu Cảnh Trị thứ 7 triều vua Lê Huyền Tông, 16 tuổi thi hương, lần đầu đã đỗ Hương Cống, đứng hàng thứ 2 (Á nguyên). Dưới thời Nho học, ông là một trong những người đỗ Hương cống trẻ nhất cả nước. Cuối năm Quý Hợi (1683) đời Lê Hy Tông, 31 tuổi, thi Hội đỗ đầu Hội nguyên (Tiến sĩ). Đầu năm sau, Giáp Tý (1684) thi Đình đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhị danh (tức Bảng nhãn).[2]
Sự nghiệp
Bảng nhãn Phạm Quang Trạch làm quan dưới triều Lê Trung hưng trải qua các vị trí: Đầu tiên ông được bổ chức Hàn Lâm Thị Thư và Khâm sai đi Đốc đồng xứ Hải Dương. Năm Bính Dần (1686), thăng chức Tham Chính Sứ trấn Kinh Bắc.
Năm Nhâm Thân (1692)[3], niên hiệu Chính Hòa nặm thứ 13, Bảng nhãn Phạm Quang Trạch phụng sai tham gia trong đoàn thanh tra lên xứ Tuyên Quang hội đồng (phối hợp) với quan Ủy sai (như Khâm sai) của nhà Thanh khảo xét cương giới châu Bảo Lạc (Tuyên Quang), giải quyết vấn đề biên giới. Đây là một trong những vụ khảo xét biên giới sớm được ghi nhận khá rõ trong lịch sử Việt Nam thời Lê Trung Hưng và là tiền đề cho triều đình Lê – Trịnh kiên trì chính sách ngoại giao để đòi lại đất. Kết quả là nhà Thanh phải trả lại 120 dặm vào các năm 1726 và 1728. Sau khi hoàn thành việc khảo xét cương giới trở về ông được bổ làm Dực quốc phủ Nội tán, Tri Binh phiên Vương Phủ, Bồi Tụng ở Vương Phủ của Chiêu tổ Khang vương Trịnh Căn, Tri Thủy sư.
Năm Giáp Tuất (1694), Bảng nhãn Phạm Quang Trạch phụng sai (vâng lệnh) cùng đi với Thạc Quận Công Lê Thì Hải (1639 -1716) đi khám xét, phá án việc cả làng Đa Giá (Đa Giá Thượng nằm ở phía nam bến đò Khuốt ) huyện Gia Viễn (Ninh Bình) lập hương ước giết người cướp của khách qua làng trong hơn 20 năm. Tổng số người bị giết hại khoảng 318 người. Đây là vụ án có 1 không 2 trong dưới triều Lê – Trịnh được phá, cả làng ăn cướp kẻ thì bị xử chém, người thì bị lưu đầy, trả lại bình yên và công bằng cho nhân dân và những người đã chết. Vụ án có 290 bị cáo, 52 án tử hình, những tên còn lại bị chặt ngón tay rồi đưa đi đày, một ngôi làng bị san phẳng, xóa bỏ tên làng để không gợi lại nỗi đau cho hậu thế. Triều đình sai làm lễ tế để an ủi vong hồn các nạn nhân, bài văn tế này do Bảng nhãn Phạm Quang Trạch soạn hiện còn lưu ở Viện Hán Nôm. Nguyên bản viết bằng chữ Hán trong sách Quốc âm văn tế sao lục, ký hiệu VNV.256[4]. Bài “Văn tế xót thương u hồn ở xã Đa Giá Thượng” (chuẩn tuất u hồn tại Đa Giá Thượng xã tế văn) viết vào tháng 5 năm Giáp Tuất (1694), lời văn thống thiết, cảm động lòng người[5]. Nội dung bài văn tế đề cập đến số người bị sát hại, nghề nghiệp của họ, do công việc cần thiết hoặc là đi ngao du thưởng ngoạn thắng cảnh non nước mà đi qua vùng này và bị xát hại. Một khi triều đình biết đến liền thẳng tay trừng trị.
Năm Ất Hợi (1695) phụng sai làm Đốc trấn xứ Cao Bằng, đến năm Canh Thìn (1700) được về kinh. Năm Bính Tuất (1706), triều Lê Dụ Tông, được thăng Thiêm Đô Ngự sử, Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm Mậu Tý (1708), khâm sai Đốc đồng xứ Kinh Bắc, năm Kỷ Sửu (1709), thăng chức Đại Lý Tự Khanh. Năm Giáp Ngọ (1714), được thăng Hình bộ Tả Thị Lang, Bồi Tụng, rồi Lễ bộ Hữu Thị lang, tước Ngạc Lĩnh Nam.
Ông năm Bính Thân (1716), thọ 64 tuổi, hiệu là Minh Cảo, được vua Lê Dụ Tông ban tên thụy là Vĩ Đạt, tặng chức Lễ bộ Tả Thị Lang, tước Ngạc Lĩnh Tử. Bảng nhãn Phạm Quang Trạch làm quan ở triều 34 năm, trải qua 2 triều Vua Lê: 2 đời chúa với nhiều chức vụ khác nhau.
Năm Tân Dậu (1741), Cảnh Hưng 2, đời vua Lê Hiển Tông, Bảng nhãn Phạm Quang Trạch được gia tặng chức Hộ bộ Thượng Thư, tước Ngạc Quận Công.
Nhà thờ Bảng nhãn Phạm Quang Trạch được xây dựng từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII tại làng Vẽ, nay là phường Đông Ngạc, TP. Hà Nội, đến nay đã hơn 300 năm song vẫn được giữ gần như nguyên vẹn với cấu trúc cổ từ thời Lê và còn lưu giữ được một số đồ thờ, hoành phi và câu đối thờ và đặc biệt còn giữ được án thờ do vua ban cùng các họa tiết chạm trổ tinh xảo thời Lê Trung Hưng. Nhà thờ Bảng nhãn Phạm Quang Trạch là nhà cổ nhất tại làng Đông Ngạc còn tồn tại đến ngày nay.
Nhà thờ ông là nơi thờ tự của đại chi Ất Nhị họ Phạm Đông Ngạc (gồm 4 chi lớn là: Ất nhị 1, Ất nhị 2, Ất nhị 3 và Ất nhị 4), hàng năm, vào ngày 24/6 âm lịch, vào ngày giỗ các thế hệ con cháu họ Phạm Đông Ngạc vẫn về tưởng nhớ ông, tri ân công đức tổ tiên và cũng là dịp để giáo dục truyền thống hiếu học và gắn kết các thành viên trong dòng tộc.
Đối với quê hương ông là người rất tâm huyết, theo bài văn Bia trùng tu đình làng lần thứ nhất dựng năm Kỷ Hợi (1719), là người đầu tiên đề xuất việc tu sửa đình, nhưng do ông mất năm Bính Thân (1716) nên chưa kịp thực hiện. Sau khi ông mất, con nuôi ông là Tiến sĩ Phạm Công Hoàn và cháu gọi bằng chú là Tiến sĩ Phạm Công Dung đã tiếp tục thực hiện và hoàn thành tốt đẹp nguyện vọng của ông[6].
Ông là một trong những bậc tiền bối của dòng họ đã nêu cao truyền thống học giỏi, đỗ cao, ông là người đỗ Đại khoa (Tiến sĩ) thứ 4 của họ Phạm Đông Ngạc và vận dụng hiệu quả những tri thức đã học để phục vụ cho dân, cho nước.
Sự tích kể rằng thuở nhỏ ham học tới mức đêm đông, lúc ngồi học, ông lấy khăn vải tẩm nước đặt lên đùi để không thể ngủ gật.[7][8]
Về khoa bảng thời kỳ Hán học, ông là người có học vị cao nhất của làng Đông Ngạc và cũng là của cả huyện Từ Liêm (theo địa giới hành chính của huyện Từ Liêm trước năm 2014 mà sau này hình thành nên hai quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm)[9], đạt học vị Bảng nhãn là danh hiệu cao thứ 2 của học vị Tiến sĩ (người đỗ thứ 2 của một kỳ thi Đình, cao nhất là Trạng Nguyên) và là người đầu tiên của làng Đông Ngạc được gia tặng hàm Thượng thư và tước Quận công.
Trên bia Văn chỉ phủ Hoài Đức (với địa giới hành chính theo cải cánh hành chính năm Minh Mệnh 12 (1831)) ghi tên 143 Tiến sĩ triều Lê quê phủ Hoài Đức. Chia theo huyện, trong đó có 34 người quê thuộc huyện Từ Liêm, tên ông Phạm Quang Trạch đứng hàng đầu tiên trong số 34 người.[10]
Bảng nhãn Phạm Quang Trạch có một môn sinh đặc biệt là cống Nguyễn Quỳnh (Cống Quỳnh)[5][11], hiệu là Như Ôn, tên thụy là Điệp Hiên người làng Thuần Đông, xã Bột Thượng, huyện Hoằng Hóa (nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Cụ Nguyễn Quỳnh được coi là nguyên mẫu nhân vật trạng Quỳnh được lưu truyền trong các truyện cười dân gian (một ông Trạng dân gian nổi tiếng với tính trào lộng). Đương thời cụ Trạng Quỳnh có tiếng trong Nam ngoài Bắc bởi tính hài hước trào lộng nên dù là người có tài, có tiếng là hay chữ nhưng đi thi chỉ đỗ được đến Hương cống song được coi như là một danh sĩ thời Lê Trung hưng, có tài năng xuất chúng, được nhân dân đương thời ca tụng liệt vào "Tràng An tứ hổ" (Nhất Quỳnh (Nguyễn Quỳnh), nhì Nham (Nguyễn Nham, người thôn Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, cùng quê với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi, Vĩnh Thịnh 11 (1715), tam Hoàn (Phạm Quang Hoàn, người Đông Ngạc, đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Tuấn, Chính Hòa 15 (1694), tứ Tuấn).
Gia đình và dòng họ
Phạm Quang Trạch là cháu viễn Lân Đính, chắt ruột Thọ Chỉ và là cháu (gọi bằng bác) của Hiển Danh – cả ba đều là người đều đỗ Tiến sĩ; ông còn là chú ruột của Quang Hoàn, Quang Dung cũng đỗ Tiến sĩ.[12][13]
Phạm Quang Trạch lấy vợ là Nguyễn Thị Ái là con gái Thượng thư Mai quận công Nguyễn Viết Thứ. Con Quang Trạch là Tiến sĩ Phạm Nguyên Ninh (Gia Ninh) làm con rể Tham tụng Hộ bộ Thượng thư Nguyễn Huy Nhuận. Một con trai khác của ông là Gia Thẩm làm con rể quan Hình bộ Lang trung Nguyễn Quý Hành. Gia Ninh lại thông gia với Tiến sĩ Ngô Đình Oánh, Binh bộ Thượng thư. Gia Huệ (con của Gia Ninh) có con trai là Gia Điển làm rể Thủ đề đốc Đỗ Thế Dận (con trai Đại vương Đỗ Thế Giai). Gia Kỷ là con trai thứ ba của Gia Điền lại làm rể quan Lễ bộ Thượng thư Phan Huy Ích.[12][13]
Phạm Gia Chuyên là cháu 4 đời của Phạm Quang Trạch, cháu 3 đời của Tiến sĩ Phạm Nguyên Ninh, đỗ Tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân năm 1832. Ông làm quan thời nhà Nguyễn, đã từng giữ các chức Tri phủ Kiến Xương (Thái Bình), Lễ bộ Viên ngoại lang, Đốc học tỉnh Ninh Bình, Tu nghiệp Quốc tử giám và tham gia soạn cuốn Quốc sử lược biên.[7][14]
Tiến sĩ Nguyễn Mậu Thịnh (Nguyễn Mậu Áng) người làng Then, xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội, là môn sinh Bảng Phạm Quang Trạch, đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi (1691), làm Phó Đô ngự sử, Bồi tụng, tặng Hộ bộ Tả Thị lang, tước Kế Võ Hầu. Tiến sĩ Nguyễn Mậu Áng lấy người con gái lớn của Bảng nhãn Phạm Quang Trạch là Phạm Thị Thiềm (1675).[5] Tiến sĩ Nguyễn Mậu Áng cũng là người soạn văn bi trùng tu đình Đông Ngạc (đình Vẽ lần thứ nhất, bia dựng năm 1719).[6]
Con giá thứ hai, Phạm Thị Trang (1692) lấy ông Trịnh Khuê (chắt chúa Trịnh Căn, em chúa Trịnh Cương), Hữu Đô đốc, tước Kinh Quận Công, tặng hàm Thái Bảo, người xã Thắng Lãm, huyện Thanh Oai.
Bà con gái thứ 3 là Phạm Thị Quần cụ xuất gia từ nhỏ, cắt tóc ăn chay, hiệu là Diệu Thước, sau đổi là Như Kỳ (Như Bích), tu ở chùa trên núi Quảng Nghiêm (chùa Quảng Nghiêm) xã Tiên Lữ, huyện Chương Mỹ tức là chùa Trăm Gian, một danh lam nổi tiếng. Đương thời cụ là ni sư rất nổi tiếng, nhiều lần được triệu vào Vương phủ cúng đàn chay, tấu điệp. Ngôi chùa lớn với quy mô như hiện nay có công đóng góp không nhỏ của ni sư. Khi viên tịch cụ được táng ở tháp đá chùa Tiên Lữ và chùa lập am để thờ. Từ Huệ Tháp, tỳ kheo ni Như Bích, tháp được lập năm Cảnh Hưng thứ 16 (1755) cùng với bia tháp để ghi dấu ấn về công đức và việc tu tập trọn vẹn của Thiền Sư. Ni sư được coi là sư tổ đời thứ 2 của chùa Trăm Gian[15].
Trong Bài Minh và Tự trên bia tháp đá từ ân chùa Quảng Nghiêm, nơi quàn của chân thân Bồ Tát được chọn vào cõi Phật nói về Sư tổ đời thứ 2 của chùa Trăm Gian là Tỳ kheo ni, pháp hiệu Như Kỳ Chân Tĩnh Thiền sư, là lệnh ái của cụ Bảng nhãn Thượng thư Phạm Quận công, người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Bài Minh có nói đến cha của Tỳ kheo ni như sau: "Cha: Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Hộ bộ Thượng thư, Ngạc Quận công Phạm tướng công, được ban thụy là Vĩ Đạt, hiệu Minh Cảo"[5].
Tác phẩm, tư liệu di sản Hán Nôm
- Nam chưởng kỷ lược
- Bài trướng của Bảng nhãn Phạm Quang Trạch mừng Nguyễn Quang Luân người xã Lý Mai, huyện Yên Lãng, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa thi năm 1703 (tư liệu lưu trữ tại viện Hán Nôm, ký hiệu: A. 421)
- Đông Ngạc phạm tốc gia tiên di cảo: Văn thơ của dòng họ Phạm Đông Ngạc gồm 10 bài của Bảng nhãn (P. Quang Trạch) (tư liệu lưu trữ tại viện Hán Nôm, ký hiệu : A 1704/1-2)
- Văn tế xót thương u hồn ở xã Đa Giá Thượng (Chuẩn tuất u hồn tại Đa Giá Thượng xã tế văn). Nguyên bản viết bằng chữ Hán chép trong sách Quốc âm văn tế sao lục, ký hiệu VNv.256 tại viện Hán Nôm. Bài văn viết vào tháng 5 năm Giáp Tuất (1694)[4][5].
- Gia tiên di cảo: Văn thơ của gia tiên họ Phạm ở x. Đông Ngạc, h. Từ Liêm, Hà Nội, gồm: Bảng nhãn công văn: văn sách, thơ, trướng của Phạm Quang Trạch đệ nhất giáp TS cập đệ (BN) khoa Quý Hợi, năm Chính Hoà 4 (1683). Tư liệu lưu trữ tại viện Hán Nôm, ký hiệu: A. 2366
- Một số tờ tâu về việc quân, việc dân viết bằng chữ Nôm. trong tập Hoàng các di văn [Hoàng Lê hoàng các di văn] : Tập I: Phần Tiên.[16]
Chú thích
- ^ Lưu giữ tại trường Viễn Đông Bác cổ Pháp dưới dạng microfilm, số I 127.
- ^ Theo sách Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa - Nhà xuất bản Hồng Đức - 2018; Sách Văn Miếu Quốc Tử Giám và 82 bia Tiến sĩ của Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám do Ngô Đức Thọ chủ biên - 2007; Phạm Tộc Thế phả
- ^ Theo sách "Cội nguồn" viết về "Dòng họ với truyền thống dân tộc - tập 2" là chủ đề của hội thảo khoa học do Hiệp hội câu lạc bộ UNESCO Việt Nam - Câu lạc bộ UNESCO thông tin các dòng họ tổ chức, năm 1997.
- ^ a b "Tap chi Han Nom so 6/2005". hannom.vass.gov.vn. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2026.
- ^ a b c d e Phạm tộc thế phả. Bản in năm 2016
- ^ a b Theo sách Đông Ngạc xã chí, người dịch Nguyễn Hữu Chế, Phạm Quang Đại, chỉnh lý và chú thích Phạm Quang Đại, 2007. Lịch sử Đình Vẽ. Ban quản lý di tích lịch sử văn hóa xã Đông Ngạc, 2008
- ^ a b "Họ Phạm làng Đông Ngạc - dòng họ khoa bảng hiếu học truyền đời". congdankhuyenhoc.vn. ngày 5 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Những dòng họ nổi tiếng làng Vẽ". vovgiaothong.vn. ngày 31 tháng 1 năm 2019.
- ^ Theo sách Từ Liêm huyện đăng khoa chí do Bùi Xuân Nghi biên soạn, TS. Nguyễn Hữu Mùi và TS. Nguyễn Thúy Nga thuộc Viện Nghiên cứ Hán Nôm dịch và biên soạn lại. NXB Dân Trí, 2010
- ^ Sách Từ Liêm huyện đăng khoa chí do Bùi Xuân Nghi biên soạn, TS. Nguyễn Hữu Mùi và TS. Nguyễn Thúy Nga thuộc Viện Nghiên cứ Hán Nôm dịch và biên soạn lại. NXB Dân Trí, 2010
- ^ Nôm, Viện Nghiên cứu Hán-. "58.Ân tình thầy trò qua văn thơ Nguyễn Quỳnh (TBHNH 2001)". Viện Nghiên cứu Hán - Nôm. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2026.
- ^ a b "HỆ THỐNG GIA PHẢ Ở LÀNG ĐÔNG NGẠC". hannom.org.vn. ngày 3 tháng 4 năm 2007.[liên kết hỏng]
- ^ a b "HỆ THỐNG GIA PHẢ Ở LÀNG ĐÔNG NGẠC". timcoinguon.blogspot.com. ngày 3 tháng 6 năm 2013.
- ^ "Họ Phạm làng Đông Ngạc". phucchau.wordpress.com. ngày 14 tháng 3 năm 2012.
- ^ "Chùa Quảng Nghiêm", Wikipedia tiếng Việt, ngày 10 tháng 3 năm 2026, truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2026
- ^ "Tap chi Han Nom so 1/1987". hannom.vass.gov.vn. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2026.