Satō Takeru
Satō Takeru (
Satō Takeru | |
|---|---|
| Thông tin nghệ sĩ | |
| Sinh | 21 tháng 3, 1989 Iwatsuki-ku, Saitama, Nhật Bản |
| Quốc tịch | |
| Dân tộc | Nhật |
| Học vấn | Trường Trung học Koshigaya Kita (Khoa học và Toán học) |
| Nghề nghiệp | |
| Năm hoạt động | 2006 – nay |
| Công ty quản lý | Amuse Inc. (2006–2021) Co-LaVo (2021–nay) |
| Quê quán | Iwatsuki-ku, Saitama |
| Chiều cao | 1,70 m (5 ft 7 in) |
| Tên tiếng Nhật | |
| Kanji | Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). |
| Hiragana | Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). |
| Rōmaji | Satō Takeru |
| Chữ ký | |
Tiểu sử
Satō Takeru sinh ngày 21 tháng 3 năm 1989 tại quận Iwatsuki, tỉnh Saitama. Anh từng có thời gian ngắn làm diễn viên nhí trong khoảng 3 đến 4 năm, thường xuyên xuất hiện trong các quảng cáo và các buổi chụp hình cho tạp chí. Khi lên cấp tiểu học, Satō đã quyết định không tiếp tục theo đuổi công việc này nữa vì "tính cách nhút nhát" của mình.[1] Anh tốt nghiệp trường Trung học Koshigaya Kita tại tỉnh Saitama vào năm 2007.[2] Cũng trong năm đó, khi đang quay bộ phim Kamen Rider Den-O, anh được chẩn đoán mắc bệnh tràn khí màng phổi nguyên phát sau khi cảm thấy đau ở vùng ngực trái; kể từ đó đến nay anh đã hoàn toàn bình phục.[3]
Sự nghiệp
2006–2008: Những tác phẩm đầu tay
Satō được một nhân viên của công ty giải trí Amuse, Inc. phát hiện tại Harajuku, Tokyo khi anh còn đang học trung học phổ thông.[4] Anh chính thức ra mắt công chúng vào năm 2006.[5] Bộ phim truyền hình đầu tay của anh là Princess Princess D (đài TV Asahi), trong đó anh vào vai Kouno Toru. Đến năm 2007, anh tham gia với tư cách khách mời trong phim Shinigami no Ballad (vai Ishihara Kentaroh) và bắt đầu trở nên nổi tiếng khi đảm nhận vai chính Nogami Ryotaro trong phần thứ 17 của loạt phim Kamen Rider (Kamen Rider Den-O). Satō cho rằng thành công và sự yêu mến dành cho Den-O phần lớn là nhờ vào những tình tiết hài hước đúng thời điểm của bộ phim.[6]
2009–2011: Bước đột phá
Sau thành công rực rỡ của Kamen Rider Den-O cùng hai phần phim điện ảnh tiếp theo, vào mùa xuân năm 2008, Satō đã góp mặt trong bộ phim truyền hình đình đám của đài TBS - Rookies. Anh vào vai Yuya Okada, một thành viên trong câu lạc bộ bóng chày trung học gồm những học sinh cá biệt. Dù chỉ là một vai phụ, Satō vẫn coi đây là vai diễn đột phá của mình vì bộ phim được phát sóng vào khung giờ vàng, giúp anh tiếp cận được lượng khán giả lớn hơn rất nhiều so với các tác phẩm trước đó. Anh cũng tiếp tục góp mặt trong phiên bản điện ảnh của bộ phim này vào mùa hè năm 2009.
Tháng 10 năm 2008, anh trở lại với vai Ryotaro (Den-O) trong phần phim điện ảnh thứ ba của Kamen Rider Den-O. Sau đó, anh đóng chính trong bộ phim truyền hình Bloody Monday, được chuyển thể từ bộ manga cùng tên.[7]
Trong hai năm tiếp theo, Satō liên tục xuất hiện với vai trò chính thức hoặc khách mời trong các chương trình truyền hình như Mei's Butler, Mr. Brain, True Horror Stories và MW Dai-0-sho; cùng các phim điện ảnh như Goemon và Beck.[8] Năm 2010, anh vào vai Izo Okada trong bộ phim Taiga (phim dã sử dài tập của đài NHK) đầu tiên của mình mang tên Ryōmaden, và nhận vai chính đầu tiên trong khung giờ vàng với bộ phim dành cho thanh thiếu niên Q10.
Ngày 28 tháng 6 năm 2011, Satō Takeru chính thức được xác nhận sẽ đảm nhận vai nam chính Himura Kenshin trong dự án điện ảnh chuyển thể từ bộ truyện tranh huyền thoại Rurouni Kenshin.[9]
2012–Nay: Loạt phim Rurouni Kenshin và sự mở rộng sự nghiệp
Phần phim Rurouni Kenshin đầu tiên ra mắt vào tháng 8 năm 2012 đã thu về tổng cộng 3,01 tỷ yên tại thị trường nội địa.[10] Cũng trong tháng 5 năm 2012, Satō có màn ra mắt trên sân khấu kịch với vai Romeo trong vở kịch kinh điển Romeo và Juliet phiên bản Nhật.
Các dự án tiếp theo của anh bao gồm bộ phim truyền hình Tonbi (dựa trên tiểu thuyết của Shigematsu Kiyoshi), phim điện ảnh khoa học viễn tưởng kỳ bí Real của đạo diễn Kurosawa Kiyoshi, và The Liar and His Lover – phim chuyển thể từ manga Kanojo wa Uso o Aishisugiteru.
Năm 2014, Satō vào vai một thám tử tân binh trong phim Bitter Blood của đài Fuji TV.[11] Anh tiếp tục trở lại với vai Himura Kenshin trong hai phần hậu truyện: Kyoto Inferno và The Legend Ends, cả hai đều ra mắt năm 2014.[12][13] Tác giả bộ truyện Rurouni Kenshin, Watsuki Nobuhiro, đã dành lời khen ngợi cho diễn xuất của Satō và gọi anh là nam diễn viên lý tưởng nhất để hóa thân thành Kenshin.[14] Ngày 7 tháng 8 năm 2014, anh cùng các bạn diễn Takei Emi, Aoki Munetaka và đạo diễn Otomo Keishi đã được hội đồng thành phố Makati bổ nhiệm làm "Đại sứ Giao lưu Văn hóa" tại Philippines.[15]
Đầu năm 2015, Satō trở lại màn ảnh nhỏ với bộ phim truyền hình được đánh giá cao của đài TBS - The Emperor's Cook.[16][17] Sau đó, anh tham gia ba bộ phim của hãng Toho trong năm 2015 và 2016, bao gồm: Bakuman (chuyển thể từ manga), If Cats Disappeared from the World (chuyển thể từ light novel) và Someone.[18][19] Vai diễn trong bộ phim The 8-Year Engagement năm 2017 đã mang về cho anh đề cử Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải thưởng Viện hàn lâm Nhật Bản lần thứ 41. Năm 2018, anh tỏa sáng trong hai bộ phim truyền hình đạt giải thưởng: phim buổi sáng (Asadora) của đài NHK Half Blue Sky và phim Stepmom and Daughter Blues của đài TBS. Cùng năm đó, anh gây bất ngờ khi tái hiện vai diễn Nogami Ryotaro trong bộ phim điện ảnh Kamen Rider cuối cùng của thời kỳ Bình Thành (Heisei).
Năm 2018, có thông báo rằng loạt phim Rurouni Kenshin sẽ có thêm hai phần mới (một phần tiền truyện và một phần hậu truyện), với Satō tiếp tục thủ vai chính. Việc quay phim kết thúc vào tháng 6 năm 2019 và các phim được công chiếu vào năm 2020.[20]
Năm 2021, Satō cùng ban nhạc One OK Rock và diễn viên Kamiki Ryunosuke đã rời công ty Amuse, Inc. để thành lập công ty quản lý mới mang tên Co-LaVo. Một chi tiết thú vị là kể từ ngày 14 tháng 12 năm 2021, anh cũng trở thành thành viên không chính thức của Bộ tứ siêu đẳng (Elite Four) trong trò chơi thẻ bài Pokémon (Pokémon Trading Card Game).[21]
Đời tư
Takeru có một em gái. Cha mẹ anh ly hôn từ khi anh còn học trung học cơ sở. Anh từng chơi bóng chày trong suốt những năm học tiểu học và trung học cơ sở,[22] đồng thời anh còn sở hữu huyền đai (đai đen) môn võ Shorinji Kempo (Thiếu Lâm Tự Quyền pháp).[23]
Danh sách phim
Phim điện ảnh
| Năm | Tựa đề | Vai diễn | Ghi chú | Ng. |
|---|---|---|---|---|
| 2007 | Kamen Rider Den-O: I'm Born! | Nogami Ryotaro/Kamen Rider Den-O | Vai chính | [24] |
| 2008 | Kamen Rider Den-O & Kiva: Climax Deka | Nogami Ryotaro/Kamen Rider Den-O | Vai chính | [24] |
| Saraba Kamen Rider Den-O: Final Countdown | Nogami Ryotaro/Kamen Rider Den-O | Xuất hiện đặc biệt | [25] | |
| 2009 | Siêu Đạo Chích | Saizo Kirigakure lúc trẻ | [26] | |
| Rookies: Graduation | Okada Yuya | [27] | ||
| 2010 | Trick The Movie: Psychic Battle Royale | Nakamori Shohei | [28] | |
| Beck | Tanaka "Koyuki" Yukio | [29] | ||
| 2012 | Lãng Khách Kenshin | Himura Kenshin | Vai chính | [30] |
| 2013 | Real | Fujita Koichi | Vai chính | [31] |
| Kẻ nói dối và người tình | Ogasawara Aki | Vai chính | [32][33] | |
| 2014 | Rurouni Kenshin: Đại hỏa Kyoto | Himura Kenshin | Vai chính | [30] [34] |
| Lãng khách Kenshin 3: Kết thúc một huyền thoại | Himura Kenshin | Vai chính | ||
| 2015 | Bức Pieta trong nhà xí | Lao công | Khách mời | |
| Bakuman | Mashiro Moritaka | Vai chính | [35] | |
| 2016 | Thế gian này, nếu chẳng còn Mèo | Bưu tá | Vai chính | [36] |
| Someone | Ninomiya Takuto | Vai chính | [37] | |
| 2017 | Ajin: Á Nhân | Nagai Kei | Vai chính | [38] |
| 8 Năm Hẹn Ước | Hisashi | Vai chính | [39] | |
| 2018 | Ông Bác Siêu Nhân | Shishigami Hiro | Vai chính | [40] |
| Million Dollar Man | Kazuo | Vai chính | [41] | |
| Hardcore | Gondoh Sakon | Vai chính | [42] | |
| Kamen Rider Heisei Generations Forever | Nogami Ryotaro | Khách mời | [43] | |
| 2019 | Samurai Marathon | Karasawa Jin'nai | Vai chính | [44] |
| Dấu ấn rồng thiêng: Câu chuyện của bạn | Ruka | Lồng tiếng | [45] | |
| One Night | Yuji | Vai chính | [46][47] | |
| 2020 | Chết Thử Một Lần | Bồi bàn quán bar | Khách mời | [48] |
| 2021 | Lãng Khách Kenshin: Hồi Kết | Himura Kenshin | Vai chính | [49] [50] |
| Lãng Khách Kenshin: Khởi Đầu | Himura Kenshin | Vai chính | ||
| Belle Rồng và công chúa tàn nhang | Rồng | Lồng tiếng | [51] | |
| Vì những người không được bảo vệ | Tone Yasuhisa | Vai chính | [52] | |
| 2024 | Tháng tư, ngày em đến | Fujishiro Shun | Vai chính | [53] |
| Khi các tế bào làm việc | Bạch cầu trung tính / Bạch cầu (U-1146) | Vai chính | [54] |
Kịch sân khấu
- 2012: Romeo and Juliet. Đạo diễn: Jonathan Munby, Akasaka ACT Theater, Theatre Brava!; vai diễn: Romeo[55]
Giải thưởng và đề cử
| Năm | Giải thưởng | Hạng mục | Tác phẩm đề cử/Người nhận | Kết quả | Ng. |
|---|---|---|---|---|---|
| 2009 | Television Drama Academy Awards lần thứ 60 | Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất | Mei's Butler | Đoạt giải | [56] |
| 2010 | Japan Movie Critics Award lần thứ 20 | Nam diễn viên mới xuất sắc nhất | Beck | Đoạt giải | [57] |
| 2011 | Elan d'or Awards lần thứ 35 | Gương mặt mới của năm | Satō Takeru | Đoạt giải | [58] |
| 2012 | Japan Action Awards 2012 | Nam diễn viên hành động xuất sắc nhất | Lãng khách Kenshin | Đoạt giải | [59] |
| 2013 | Television Drama Academy Awards lần thứ 76 | Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất | Tonbi | Đề cử | [60] |
| 2014 | Hochi Film Awards lần thứ 39 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | Kẻ nói dối và người tình, Rurouni Kenshin: Đại hỏa Kyoto & Lãng khách Kenshin 3: Kết thúc một huyền thoại | Đề cử | [61] |
| 2015 | Japan Action Awards 2015 | Cảnh hành động hay nhất | Rurouni Kenshin: Đại hỏa Kyoto & Lãng khách Kenshin 3: Kết thúc một huyền thoại | Đoạt giải | [62] |
| Nam diễn viên hành động xuất sắc nhất | Đoạt giải | ||||
| Asian Film Awards lần thứ 9 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | Lãng khách Kenshin 3: Kết thúc một huyền thoại | Đề cử | [63] | |
| Television Drama Academy Awards lần thứ 85 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | The Emperor's Cook | Đoạt giải | [64] | |
| Tokyo Drama Awards lần thứ 8 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | Đoạt giải | [65] | ||
| 2016 | Hashida Award lần thứ 24 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | Đoạt giải | [66] | |
| Broadcasting Culture Fund Award lần thứ 42 | Giải thưởng diễn xuất cá nhân | Đoạt giải | [67] | ||
| 2018 | Japan Academy Film Prize lần thứ 41 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | 8 Năm Hẹn Ước | Đề cử | [68] |
| Japan Action Awards 2018 | Nam diễn viên hành động xuất sắc nhất | Ajin: Á Nhân | Đoạt giải | [69] | |
| Television Drama Academy Awards lần thứ 98 | Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất | Half Blue Sky | Đoạt giải | [70] | |
| Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất | Blues of Stepmother and Daughter | Đề cử | |||
| CONFiDENCE Award Drama Prize lần thứ 13 | Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất | Half Blue Sky, Blues of Stepmother and Daughter | Đoạt giải | [71] | |
| 2019 | CONFiDENCE Award Drama Prize 2018 Annual Awards | Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất | Đoạt giải | [72] | |
| Hochi Film Awards lần thứ 44 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | Samurai Marathon, One Night | Đề cử | [73] | |
| Nikkan Sports Film Awards lần thứ 32 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | Đề cử | [74] | ||
| 2020 | Television Drama Academy Awards lần thứ 104 | Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất | An Incurable Case of Love | Đoạt giải | [75] |
| Tokyo Drama Awards lần thứ 13 | Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất | Đoạt giải | [76] | ||
| Yahoo! Japan Search Awards lần thứ 7 | Giải Quán quân | Đoạt giải | [77] | ||
| Cá nhân (Diễn viên nam) | Đoạt giải | ||||
| 2021 | Nikkan Sports Film Awards lần thứ 34 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | Lãng Khách Kenshin: Hồi Kết/Lãng Khách Kenshin: Khởi Đầu, In the Wake | Đề cử | [78] |
| Hochi Film Awards lần thứ 46 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | Đề cử | [79] | ||
| 2022 | Mainichi Film Awards lần thứ 76 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | In the Wake | Đoạt giải | [80] |
| Blue Ribbon Awards lần thứ 64 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | Lãng Khách Kenshin: Hồi Kết, In the Wake | Đề cử | [81] | |
| Japan Academy Film Prize lần thứ 45 | Nam diễn viên xuất sắc nhất | In the Wake | Đề cử | [82] | |
| 2023 | Asia Contents Awards & Global OTT Awards | Nam diễn viên chính xuất sắc nhất | First Love | Đề cử | [83] |
| 2025 | Asia Artist Awards lần thứ 10 | Nghệ sĩ xuất sắc nhất | Đoạt giải | [84] |
Tham khảo
- ^ 佐藤健が『ZIP!』で子役時代を語る 高橋一生と出演する映画『億男』公開中 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2019.
- ^ 裸にしたい男「佐藤健」 (Television production). [NHK]. 2012.
- ^ 「最弱ライダー」佐藤健、肺気胸で療養 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018.
- ^ "【佐藤健】平成生まれも態度で示す"昭和の男" 美学は「自己アピールしない」" (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Corporate History". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.
- ^ "佐藤健、「仮面ライダー電王」人気の秘密は..." (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015.
- ^ "Bloody Monday". TBS (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Takeru Sato on the upcoming Beck live-action film". The Hochi Shimbun (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015.
- ^ ""Rurouni Kenshin" to get film adaptation starring Satoh Takeru!" (bằng tiếng Anh). Tokyohive.com. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011.
- ^ "Kenshin sequel heats up Japan box office" (bằng tiếng Anh). Film Business Asia. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 1 2015. Truy cập 27 tháng 12 2014.
- ^ ""Bitter Blood" between father-son detectives; a Tokyo take on "The Long Goodbye"; CM of the week: JT". The Japan Times (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 4 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Japanese Box Office: 'Rurouni Kenshin: The Legend Ends' Rules". Variety (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.
- ^ "ANIME NEWS: Two-part sequel to live-action 'Rurouni Kenshin' gets premiere dates". Asahi Shimbun (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 27 tháng 12 2014. Truy cập 27 tháng 12 2014.
- ^ "Rurouni Kenshin Manga Gets Live-Action Film in 2012 (Updated)" (bằng tiếng Anh). Anime News Network. ngày 27 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2017.
- ^ "See the 'Kenshin'-themed jeepney, plus Takeru Satoh's 'Oro' moment" (bằng tiếng Anh). Rappler. ngày 7 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
- ^ 『天皇の料理番』が4冠獲得 「東京ドラマアウォード2015」. ORICON STYLE (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017.
- ^ 佐藤健、『天皇の料理番』で放送文化基金賞受賞. ORICON STYLE (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017.
- ^ "Bakuman". Toho (bằng tiếng Nhật). Toho. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015.
- ^ "Filmart 2015: Hot titles - Japan" (bằng tiếng Anh). Screen International. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015.
- ^ "Live-Action Rurouni Kenshin Films' 'Final Chapter' Wraps Filming" (bằng tiếng Anh). Anime news Network. ngày 28 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2019.
- ^ 佐藤健vsポケカ世界チャンピオン ガチバトル!! (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2023, truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2021 Anh đã đấu tay đôi riêng với nhà vô địch thế giới trò chơi thẻ bài Pokémon, Ito Shintaro, và đặt cược rằng nếu thắng, anh sẽ ghi danh hiệu "Tứ Đại Thiên Vương" vào trang Wikipedia của mình. Nhờ chiến thắng trong trận đấu riêng này, anh tuyên bố trong video trên kênh YouTube của mình rằng anh (không chính thức) đã thừa hưởng danh hiệu một trong Tứ Đại Thiên Vương.
- ^ 月刊4B[フォー・ビー] 2009年5月号「特集 ルーキーズ伝説、再び! (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2009.
- ^ 【FREE】『るろうに剣心』台湾公開、佐藤健現地入り (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2019.
- ^ a b 佐藤健. eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018.
- ^ "劇場版 さらば仮面ライダー電王 ファイナル・カウントダウン". eiga.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Goemon". eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Rookies 卒業". eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ "劇場版 Trick 霊能力者バトルロイヤル". eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ "BECK". eiga.com (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b "Rurouni Kenshin live-action films official website" (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2014.
- ^ Schilling, Mark (ngày 18 tháng 7 năm 2012). "Sato, Ayase to star in Kurosawa pic". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Kanojo wa Uso o Ai Shisugiteru Romance Manga Gets Film" (bằng tiếng Anh). Anime News Network. ngày 22 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2012.
- ^ "Kenshin's Satoh Stars in Kano-Uso Shohjo Manga's Film" (bằng tiếng Anh). Anime News Network. ngày 6 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2013.
- ^ "Live-Action Rurouni Kenshin Sequels' Summer Compilation TV Spot Streamed" (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014.
- ^ バクマン。. eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018.
- ^ 世界から猫が消えたなら. eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018.
- ^ 佐藤健、『何者』映画化で主演 有村架純、菅田将暉ら若手主役級そろう (bằng tiếng Nhật). Oricon. ngày 11 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2016.
- ^ "Ajin - Demi Human Manga Gets Live-Action Film With Rurouni Kenshin's Takeru Satoh" (bằng tiếng Anh). Anime News Network. ngày 3 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2016.
- ^ 8年越しの花嫁 奇跡の実話. eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018.
- ^ いぬやしき. eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018.
- ^ 億男. eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018.
- ^ ハード・コア. eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018.
- ^ "佐藤健:10年ぶり仮面ライダー作品出演 劇場版最新作に登場 「感謝の気持ちをお伝えしたい」". Mantan-web (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
- ^ サムライマラソン. eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018.
- ^ "アニメ映画『ドラクエ』豪華キャスト13人公開 主人公に佐藤健、ビアンカに有村架純、フローラに波瑠". Oricon (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2019.
- ^ "佐藤健×白石和彌"念願"タッグで舞台「ひとよ」映画化!鈴木亮平&松岡茉優と三兄妹に". Cinema Cafe (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2019.
- ^ "One Night". Nikkatsu (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019.
- ^ 広瀬すず主演『一度死んでみた』 佐藤健、池田エライザ、西野七瀬ら追加キャスト23人発表. oricon.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2019.
- ^ "佐藤健主演「るろうに剣心」最終章の製作決定! 追憶編&人誅編もとに2020年夏2作連続公開". eiga.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2019.
- ^ "るろうに剣心:実写映画最終章のタイトルは「The Final/The Beginning」 ティザービジュアルも公開". Mantan-web (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2019.
- ^ "竜とそばかすの姫:謎の竜の声優は佐藤健 細田守監督最新作". Mantan-web (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2021.
- ^ "佐藤健と阿部寛が10年ぶりの共演!中山七里原作『護られなかった者たちへ』映画化決定". eiga.com (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2020.
- ^ "佐藤健、長澤まさみ、森七菜が映画「四月になれば彼女は」で共演 公開日は来年3月29日". Natalie (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2023.
- ^ "永野芽郁と佐藤健が映画「はたらく細胞」でW主演!赤血球&白血球役に". Natalie (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Sato Takeru and Ishihara Satomi talk "Romeo & Juliet"" (bằng tiếng Anh). Tokyohive. ngày 30 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2016.
- ^ 第60回ザテレビジョンドラマアカデミー賞 助演男優賞 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ 过去の受赏作品 日本映画批评家大赏 (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2013.
- ^ 「2011年エランドール賞」新人賞6名が決定! 松下&向井の“ゲゲゲ夫妻”らが受賞 (bằng tiếng Nhật). ngày 3 tháng 2 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ 俳優部門は佐藤健らが受賞! 第1回ジャパンアクションアワード授賞式が開催 (bằng tiếng Nhật). PIA Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015.
- ^ 第76回ザテレビジョンドラマアカデミー賞 助演男優賞 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ 第39回報知映画賞ノミネート一覧 (bằng tiếng Nhật). hochi.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ 2015年アクション界のトップが決まる! (bằng tiếng Nhật). worsal.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015.
- ^ Rurouni Kenshin, Parasyte, Tokyo Tribes Nominated for 9th Asian Film Awards Lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2015 tại Wayback Machine. Anime News Network. Retrieved 2015-02-25.
- ^ 第85回ザテレビジョンドラマアカデミー賞主演男優賞 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ 佐藤健、黒木華、鈴木亮平ら受賞「東京ドラマアウォード2015」 (bằng tiếng Nhật). modelpress. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015.
- ^ 吉田羊、熱愛報道後初公の場 関係者が制止で言及せず (bằng tiếng Nhật). Oricon. ngày 10 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016.
- ^ 佐藤健「志の高い作品に声を掛けていただいた」 「天皇の料理番」で放送文化基金賞演技賞を受賞 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ 第41回日本アカデミー賞 最優秀賞決定! (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ 第6回ジャパンアクションアワード「HiGH&LOW」が2冠、最優秀男優賞は佐藤健 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ 第98回ザテレビジョンドラマアカデミー賞 助演男優賞 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ :第13回『コンフィデンスアワード・ドラマ賞』発表 「ぎぼむす」ほか全7部門受賞者から喜びのコメント到着 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2019.
- ^ :『コンフィデンスアワード・ドラマ賞 年間大賞 2018』発表 『おっさんずラブ』ほか全7部門受賞者から喜びのコメント (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2019.
- ^ : 報知映画賞2019年末ノミネート全受賞結果一覧(第44回) (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019.
- ^ "映画「イエスタデイ」、日刊スポーツ映画大賞にノミネート". つれづれなるままにWINGSFAN. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2019.
- ^ 第104回ザテレビジョンドラマアカデミー賞 助演男優賞 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Tokyo Drama Awards". International Drama Festival in Tokyo. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2020.
- ^ Lynzee, Loveridge (ngày 11 tháng 12 năm 2020). "Demon Slayer: Kimetsu no Yaiba Tops Yahoo! Japan Search Awards in Anime for 2nd Year". Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2021.
- ^ "日刊スポーツ映画大賞". Nikkan Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
- ^ "第46回報知映画賞ノミネート決定". PR Times. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2021.
- ^ "毎日映画コンクール 候補作が決定 「ドライブ・マイ・カー」最多10ノミネート". Sponichi. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2021.
- ^ "ブルーリボン賞「ドライブ・マイ・カー」が最多候補入り、「ヤクザと家族」なども". Natalie. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2022.
- ^ "『第45回日本アカデミー賞』受賞者・作品発表 司会は羽鳥慎一&長澤まさみ". Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2021.
- ^ Park, Jae-hwan (ngày 12 tháng 9 năm 2023). "아시아콘텐츠어워즈&글로벌OTT어워즈 후보작 발표.. "더 글로리, 무빙, 만장적계절, 그리고 퍼스트러브하츠코이" [Asian Content Awards & Global OTT Awards Nominees Announced... "The Glory, Moving, All Seasons, and First Love Hatsukoi"] (bằng tiếng Hàn). KBS. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2023 – qua Naver.
- ^ https://www.asiaartistawards.com/winner/2025