Senjou no Valkyria -Gallian Chronicles-
Trang Mô đun:Message box/ambox.css không có nội dung.
Xin hãy phát triển bài viết này. Nếu bài viết đã được phát triển, hãy gỡ bản mẫu này. Thông tin thêm có thể được tìm thấy tại trang thảo luận. |
| Senjou no Valkyria -Gallian Chronicles- | |
| Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found. | |
| Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Lang/data/iana scripts' not found. (Senjō no Varukyuria -Gallian Chronicles-) | |
|---|---|
| Trò chơi điện tử | |
| Phát triển | Sega |
| Phát hành | Sega |
| Đạo diễn | |
| Thiết kế | Ozawa Takeshi |
| Minh họa | |
| Âm nhạc | Sakimoto Hitoshi |
| Thể loại | Nhập vai chiến thuật theo lượt |
| Dòng trò chơi | Senjou no Valkyria |
| Hệ máy | PlayStation 3, Microsoft Windows |
| Bộ máy | CANVAS Engine |
| Ngày phát hành | PlayStation 3 Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:CountryData/summary' not found.Microsoft Windows Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:CountryData/summary' not found. |
| Chế độ | Chơi đơn |
| Manga | |
| Senjou no Valkyria -wish your smile- | |
| Tác giả | Sega |
| Minh họa | Tokito Kyusei |
| Nhà xuất bản | Enterbrain |
| Tạp chí | Comics B's Log |
| Đăng tải | Ngày 12 tháng 11 năm 2008 – Ngày 01 tháng 3 năm 2010 |
| Số tập | 2 |
| Manga | |
| Tác giả | Sega |
| Minh họa | En Kito |
| Nhà xuất bản | Kadokawa Shoten |
| Đối tượng | Shōnen |
| Tạp chí | Comp Ace |
| Đăng tải | Ngày 26 tháng 11 năm 2008 – Ngày 26 tháng 3 năm 2010 |
| Số tập | 4 |
| Anime truyền hình | |
| Đạo diễn | Yamamoto Yasutaka |
| Kịch bản | Yokote Michiko |
| Hãng phim | A-1 Pictures |
| Kênh gốc | Chiba TV, MBS, Television Kanagawa, Animax, Tokyo MX, CBC, Television Hokkaido, BS11, TVQ Kyushu Broadcasting |
| Phát sóng | Ngày 04 tháng 4 năm 2009 – Ngày 26 tháng 9 năm 2009 |
| Số tập | 26 |
| Manga | |
| Senjou no Valkyria Anthology Comic | |
| Tác giả | Sega |
| Nhà xuất bản | Enterbrain |
| Tạp chí | Bros Comics EX |
| Phát hành | Ngày 28 tháng 12 năm 2009 |
| Số tập | 1 |
| Manga | |
| Senjou no Valkyria 4 Koma Anthology | |
| Tác giả | Sega |
| Nhà xuất bản | Enterbrain |
| Tạp chí | Bros Comics EX |
| Phát hành | Ngày 01 tháng 03 năm 2010 |
| Số tập | 1 |
Senjou no Valkyria -Gallian Chronicles- (戦場のヴァルキュリア -Gallian Chronicles-, せんじょうのヴァルキュリア -Gallian Chronicles-) là trò chơi điện tử thể loại nhập vai chiến thuật theo lượt do hãng Sega phát triển và phát hành cho hệ PlayStation 3 vào ngày 24 tháng 4 năm 2008, phiên bản dành cho hệ điều hành Microsoft Windows đã phát hành vào ngày 11 tháng 11 năm 2014.
Lấy bối cảnh địa chính trị giả tưởng tại châu Âu năm 1935 tại một đất nước nhỏ tên Gallia đang phải đương đầu với hai thế lực hùng mạnh đang muốn thôn tính mình, một là liên minh các Đế quốc ở hướng đông và hai là liên bang Atlantic ở phía tây. Liên minh Đế quốc tấn công Gallia trước với mục đích là giành một nguồn tài nguyên rất quan trọng là Ragnite có rất nhiều tại đất nước này. Cốt truyện xoay quanh Welkin Gunther một nhà sinh vật học với giấc mơ trở thành thầy giáo, nhưng khi chiến tranh nổ ra anh đã trở thành chỉ huy của Đội 7 cùng cô gái Alicia Melchiott người mà anh chiến đấu cùng từ khi bắt đầu cuộc chiến và trong suốt các nhiệm vụ khó khăn để bảo vệ đất nước tình cảm bắt đầu hình thành thành giữ hai nhân vật. Trò chơi có phong cách chiến đấu theo lượt mỗi nhân vật sẽ chỉ có thể di chuyển ở một khoảng cách nhất định tùy theo loại quân và cấp độ hoặc tấn công một lần duy nhất cho mỗi lượt, sau đó phải chuyển lượt cho các nhân vật khác. Các nhân vật của tất cả các phe trên chiến trường sẽ có khả năng tự phòng thủ khi đối phương tiến lại gần. Sau mỗi trận chiến thì người chơi sẽ nhận được kinh nghiệm và tiền, kinh nghiệm để nâng cấp kỹ năng cho các loại quân và tiền để mua sắm các trang thiết bị mới cho cho Đội 7. Mỗi loại quân có các kỹ năng khác nhau, dùng các vũ khí khác nhau và khi lên đến cấp nào đó sẽ có thể dùng những loại vũ khí chuyên biệt mới. Ngoài ra từng nhân vật cũng có lịch sử riêng của mình và chúng sẽ dần mở ra sau các nhiệm vụ cùng với nó là những đặc điểm có thể ảnh hưởng đến chiến trận.
Trò chơi đã nhận được các đánh giá tích cực và nhận được nhiều giải thưởng tại các sự kiện chuyên về trò chơi điện tử. Phiên bản nối tiếp là Senjou no Valkyria 2 -Gallian Ouritsu Shikan Gakkou- đã phát hành vào ngày 21 tháng 1 năm 2010 và Senjou no Valkyria 3 -Unrecorded Chronicles- đã phát hành vào ngày 27 tháng 1 năm 2011. Tác phẩm cũng đã được chuyển thể sang các loại hình truyền thông khác như manga và anime. A-1 Pictures đã thực hiện chuyển thể anime và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 04 tháng 4 đến ngày 26 tháng 9 năm 2009.
Tổng quan
Sơ lược cốt truyện
Trang Mô đun:Message box/ambox.css không có nội dung.
Phần này cần được mở rộng. Bạn có thể giúp bằng cách mở rộng nội dung của nó. |
Cách chơi
Trang Mô đun:Message box/ambox.css không có nội dung.
Phần này cần được mở rộng. Bạn có thể giúp bằng cách mở rộng nội dung của nó. |
Nhân vật
Trang Mô đun:Message box/ambox.css không có nội dung.
Phần này cần được mở rộng. Bạn có thể giúp bằng cách mở rộng nội dung của nó. |
Gallian
Đội 7
Chính
- Welkin Gunther (ウェルキン・ギュンター)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Alicia Melchiott (アリシア・メルキオット)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Isara Gunther (イサラ・ギュンター)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Rosie (ロージー) / Brigitte Stark (ブリジット・シュターク)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Largo Potter (ラルゴ・ポッテル)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Zaka (ザカ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Trinh sát
- Aika Thompson (アイカ・トンプソン)
- Cherry Stijnen (チェリー・スタイネン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Freesia York (フロージア・ヨーク)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Hermes Kissinger (ヒルメス・キッシンジャー)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Juno Coren (ユーノ・コレン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Melville Young (メルビル・ヤング)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Montley Leonard (モントリィ・レオナール)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Nancy Dufour (ナンシー・デュフォー)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Noce Wordsworth (ノーチェ・ワーズワーズ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Ramona Linton (レミィ・リントン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Susie Evans (スージー・エヴァンス)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Ted Ustinov (テッド・ユスチノフ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Wavy (ワヴィ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Tấn công
- Aisha Neumann (アイシャ・ノーマン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Alex Raymond (アレス・レイモンド)
- Coby Caird (コビー・ケアード)
- Dorothy Howard (ドロシー・ハワード)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Edy Nelson (イーディ・ネルソン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Hannes Salinger (ハンネス・サリンジャー)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Jane Turner (ジェーン・ターナ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Kevin Abbott (ケビン・アボット)
- Mica Hawkins (ミッコリ・ホーキング)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Nina Streiss (ニィナ・ストレイス)
- Salinas Milton (サリナス・ミルトン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Vyse Inglebard (ヴァイス・イングルバード)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Wendy Cheslock (ウェンディ・チェスロック)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Chống tăng
- Elysse Moore (エリシス・ムーア)
- Hector Calvey (ヘクター・カルヴェ)
- Jann Walker (ヤン・ウォーカー)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Nils Daerden (ニルス・デールデン)
- Rosina Selden (ロジーナ・セルデン)
- Theold Bohr (セオルド・ボーア)
- Walter Nash (ウォルター・ナッシュ)
- Yoko Martens (ヨーコ・マルテンス)
Công binh
- Claudia Mann (クローディア・モーンス)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Dallas Wyatt (ターリス・ワイアット)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Herbert Nielsen (ヘルバート・ニールセン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Homer Peron (ホーマー・ピエローニ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Karl Landzaat (カロス・ランザート)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Nadine (ネーディレス)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Ramsey Clement (ラミィ・クレメント)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Bắn tỉa
- Catherine O'Hara (キャスリン・オハラ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Cezary Regard (ツェザーリ・ルガード)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Marina Wulfstan (マリーナ・ウルフスタン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Oscar Bielert (オスカー・ベイラート)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Ẩn
- Audrey Heitinga (オードリィ・ハイディンガ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Emile Bielert (エミール・ベイラート)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Knute Jung (ヌッティ・ユング)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Lynn (リィン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Musaad Mayfield (ムサード・メイフィールド)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Khác
- Fina Sellers (ファイナ・セラーズ)
- Kreis Czherny (クライス・チェルニー)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Hans (ハンス)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Chỉ huy
- Eleanor Varrot (エレノア・バーロット)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Quân đội hoàng gia
- Cordelia Gi Randgriz (コーデリア・ギ・ランドグリーズ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Maurits von Borg (マウリッツ・ヴォン・ボルグ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Georg von Damon (ゲオルグ・ヴォン・ダモン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Calvaro Rodriguez (カレルヴォ・ロドリゲス)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Leon Schmidt (リオン・シュミット)
- Faldio Landzaat (ファルディオ・ランツァート)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Dân thường
- Irene Ellet (イレーヌ・エレット)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Martha Lipponen (マーサ・リッポネン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Nazo no shinshi (謎の紳士)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Khác
- Belgen Gunther (ベルゲン・ギュンター)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Theimer (テイマー)
- Isara Gunther (イサラ・ギュンター) (em gái của Welkin)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Manga/Anime
- Mintz (ミンツ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Julius Klotz (ユリウス・クローゼ)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Ramal Valt (ラマール・ヴァルト)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Liên minh Đế quốc
Chỉ huy
- Maximilian (マクシミリアン)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Selvaria Bles (セルベリア・ブレス)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Radi Jaeger (ラディ・イェーガー)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Berthold Gregor (ベルホルト・グレゴール)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Khác
- Giorgios Geld (ヨルギオス・ゲルド)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Johann Oswald Eisen (カール・オザヴァルド)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Kōtaishi (皇太子)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
- Kōtei (皇帝)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Liên bang Atlantic
- Jean Townshend (ジャン・タウンゼント)
- Bản mẫu:Lồng tiếng anime
Phát triển
Đội ngũ phát triển của trò chơi bao gồm chủ yếu là các nhân viên đã tham gia phát triển trong dòng trò chơi Sakura Taisen với Nonaka Ryutaro làm chỉ đạo và Tanaka Shuntaro đạo diễn. Làm việc cùng nhau, nhóm muốn tạo ra một trò chơi mà có sự kết hợp các đặc điểm của các tác phẩm trước đó của mình như: Yếu tố chiến lược của Sakura Taisen, góc nhìn người thứ ba trong trò chơi Kunoichi của Nonaka và yếu tố nhập vai trong Eternal Arcadia của Tanaka. Tên phát triển ban đầu của trò chơi là Gallian Panzers, trong giai đoạn này nhóm phát triển tập trung vào việc làm cho phần chiến lược và hành động của trò chơi quan trọng như nhau. Kế hoạch phát triển cách chơi nhấn mạnh các hệ thống kỹ năng cùng các khả năng tiềm tàng riêng của từng nhân vật mà người chơi phải để ý đến như thích thú hay bị dị ứng với thứ nào đó trong các môi trường khác nhau ảnh hưởng đến khả năng chiến đấu. Khác với nhịp độ ổn định của các trò chơi chiến thuật theo lượt khác hệ thống BLiTZ (ブリッツ) làm cho trò chơi có một bầu không khí đầy áp lực và căng thẳng, một phần bởi vì đối phương có thể bắn vào nhân vật đang tiến lại gần và ngược lại.
Đồ họa của trò chơi được dựng bằng công cụ CANVAS tạo ra một hình ảnh giống như tranh vẽ để thu hút sự chú ý của người chơi dù không chơi thể loại này nhưng đã trải qua những tựa chiến đấu với hình ảnh thực tế hơn. Với cách sử dụng tông màu ấm áp đã giảm nhẹ đi "Sự khủng khiếp, bản chất thật của chiến tranh" như Nonaka đã nói trong cuộc phỏng vấn với Gamespy thay vào đó trò chơi tập trung vào các nhân vật và cốt truyện. Còn Tanaka nói thêm rằng "Chúng tôi muốn thể hiện rằng hiện thực không phải là thứ duy nhất có thể làm với đồ họa 3D". Honjou Raita là người nhận trách nhiệm chính thiết kế các nhân vật, ban đầu nhóm đã dựa vào những hình tượng thường thấy trong chiến tranh thế giới thứ hai nhưng kết quả lại thấy là các nhân vật trông quá hiện đại so với những gì mà nhóm muốn vì thế đã chuyển sang các hình tượng của chiến tranh thế giới thứ nhất để mộc mạc hơn. Thiết kế chiến tranh thế giới thứ nhất được dùng cho các nhân vật tại Gallia còn thiết kế chiến tranh thế giới thứ hai được dùng cho một số nhân vật bên Liên minh Đế quốc.
Phát hành
Trò chơi đã phát hành cho hệ PlayStation 3 vào ngày 24 tháng 4 năm 2008. Các bản mở rộng dùng để tải về cũng đã được thực hiện và phân phối thông qua PlayStation Network. Các bản này thêm các thứ như chế độ Hard EX làm cho chiếc xe tăng Edelweiss không thể được dùng trong các màn tập trận phát hành vào ngày 08 tháng 8 năm 2008, thêm các màn chơi ngoại truyện như Edy Buntai Daisakusen! (イーディ分隊大作戦!) xoay quanh việc một nhóm nhỏ bị tách ra khỏi Đội 7 và phải tác chiến một mình với sự chỉ huy của nhân vật Edy Nelson phát hành vào ngày 08 tháng 8 năm 2008, Ute, Selvaria to Tomoni (撃て、セルベリアと共に) cốt truyện xoay quanh nhân vật Selvaria Bles thực hiện các nhiệm vụ cho Liên minh Đế quốc vào đầu cuộc chiến phát hành vào ngày 31 tháng 10 năm 2008 và Edy Buntai no Chousenjou! (イーディ分隊の挑戦状!) người chơi sẽ điều khiển nhóm của nhân vật Edy Nelson của bản mở rộng trước vượt qua các thử thách khác nhau phát hành vào ngày 26 tháng 6 năm 2009.
Phiên bản The Best đã phát hành vào ngày 05 tháng 3 năm 2009. Phiên bản này có chứa sẵn các bản mở rộng của nhân vật Edy.
Steam bắt đầu phân phối phiên bản cho hệ máy tính cá nhân vào ngày 11 tháng 11 năm 2014. Phiên bản này chứa tất cả các bản mở rộng của trò chơi.
Truyền thông
Manga
Hãng Sega đã cho thực hiện một ngoại truyện với sự minh hoạ của Tokito Kyusei có tựa Senjou no Valkyria -wish your smile- (戦場のヴァルキュリア-wish your smile-) và đăng trên tạp chí dành cho shōjo là B's-LOG COMIC của Enterbrain từ ngày 12 tháng 11 năm 2008 đến ngày 22 tháng 1 năm 2010. Cốt truyện xoay quanh hai nhân vật trong trò chơi là hai nhân vật Mintz và Julius Klose. Enterbrain sau đó đã tập hợp các chương lại và phát hành thành 2 tankōbon.
Hãng Sega cũng đã cho thực hiện một chuyển thể manga của tác phẩm với sự minh hoạ của En Kito và đăng trên tạp chí Comp Ace của Kadokawa Shoten từ ngày 26 tháng 11 năm 2008 đến ngày 26 tháng 3 năm 2010. Các chương sau đó đã được tập hợp lại và phát hành thành 4 tankōbon.
Tạp chí Bros Comics EX của Enterbrain đã đăng chuyển thể các chương truyện ngắn lấy hài hước hài hước làm chủ đạo và sau đó tập hợp lại để phát hành thành một tankōbon có tựa Senjou no Valkyria Anthology Comics (戦場のヴァルキュリア アンソロジーコミック) vào ngày 28 tháng 12 năm 2009.
Tạp chí Bros Comics EX cũng đã đăng các chương truyện ngắn theo phong cách yonkoma và sau đó tập hợp lại để phát hành thành một tankōbon có tựa Senjou no Valkyria 4 Koma Anthology (戦場のヴァルキュリア 4コマアンソロジー) vào ngày 01 tháng 3 năm 2010.
Internet radio
Một loạt chương trình phát thanh trên mạng có tựa Senjou no Valkyria GBS Dai 7 Shoutai Bunkyoku (戦場のヴァルキュリア GBS第7小隊分局) đã phát sóng trên trang Animate.tv từ ngày 07 tháng 4 đến ngày 08 tháng 12 năm 2009 với tổng cộng 18 chương trình. Người dẫn chương trình chính là ba nhân vật Welkin Gunther, Edy Nelson và Homer Pieroni nói về các sự kiện diễn ra trong anime và trả lời thư của người hâm mộ gửi đến. Các chương trình sau đó đã được tập hợp lại và Geneon Universal đã phát hành thành một đĩa vào ngày 26 tháng 8 năm 2009.
Drama CD
Geneon Universal đã thực hiện hai đĩa drama CD và phát hành vào ngày 24 tháng 7 và 07 tháng 10 năm 2009.
Anime
A-1 Pictures đã thực hiện chuyển thể anime với sự đạo diễn của Yamamoto Yasutaka và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 04 tháng 4 đến ngày 26 tháng 9 năm 2009 với 26 tập trên kênh Chiba TV, MBS và Television Kanagawa sau đó phát lại sau vài ngày trên các kênh Animax, Tokyo MX, CBC, Television Hokkaido, BS11 và TVQ Kyushu Broadcasting.
Âm nhạc
Âm nhạc của trò chơi do Sakimoto Hitoshi đảm nhiệm việc biên soạn và việc này được thực hiện trong 8 tháng. Bản nhạc Main Theme (メインテーマ) là sự kết hợp của rất nhiều tác phẩm trước của nhạc sĩ, ông đã lọc chúng lại và sắp xếp sao cho có thể tạo ra một bản nhạc với các giai điệu tương phản nhau. Sakimoto nói rằng cốt truyện của trò chơi là nguồn cảm hứng lớn nhất của mình với các mối quan hệ giữa các nhân vật chính với nhau và thêm vào đó màu sắc của quân đội. Album chứa các bản nhạc dùng trong trò chơi đã phát hành vào ngày 21 tháng 5 năm 2008. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Track listing/configuration' not found.
Bộ anime có 5 bài hát chủ đề, 2 mở đầu và 3 kết thúc. Bài hát mở đầu thứ nhất có tên Asu e no Kizuna (明日へのキズナ) do HIMEKA trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 27 tháng 5 năm 2009. Bài hát mở đầu thứ hai là bài Kanashimi Rensa (カナシミレンサ) do MARIA trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 12 tháng 8 năm 2009. Bài hát kết thúc thứ nhất là bài Ano Kaze ni Notte (アノ風ニノッテ) do pe’zmoku trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 27 tháng 5 năm 2009 với hai phiên bản giới hạn và bình thường, phiên bản giới hạn có thêm một bản nhạc. Bài hát kết thúc thứ hai có tên Hitotsu no Negai (ひとつの願い) do Inoue Hikari trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 05 tháng 8 năm 2009. Bài hát kết thúc thứ ba dùng trong tập 26 là bài Brightest Morning do Inoue Hikari trình bày cùng Đội 7, bài hát đã phát hành chung trong album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày vào ngày 21 tháng 4 năm 2010. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 30 tháng 9 năm 2009. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Track listing/configuration' not found. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Track listing/configuration' not found. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Track listing/configuration' not found. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Track listing/configuration' not found. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Track listing/configuration' not found. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Track listing/configuration' not found. Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Track listing/configuration' not found.
Đón nhận
Trò chơi đã nhận được các đánh giá tích cực kể từ khi phát hành. IGN đã đánh giá trò chơi là 9/10, Gamerankings là 87%, Gamespot là 8.5/10, Metacritic là 85%... Kevin VanOrd tại Gamespot đã đánh giá cao thiết kế của trò chơi với nhận xét "Là một trò chơi RPG chiến thuật cách tân táo bạo vừa đẹp để ngắm và vừa thứ vị để chơi" với nhiều khoảnh khắc đánh nhớ cùng cách chơi độc đáo và tự do hiếm thấy trong các trò chơi cùng loại. IGN AU đã đánh giá phiên bản tiếng Nhật lồng tiếng rất tuyệt cũng như cốt truyện nằm ở ranh giới giữa thực và ảo nó không quá tưởng tượng để người chơi tin chắc đó không phải là sự thật nhưng nó cũng không hẳn là sự thật lịch sử và nhận xét "Đây có thể là trò chơi hay nhất của SEGA trong gần một thập niên".
Trò chơi đã tiêu thụ được 141.589 bản tại Nhật tính đến đến hết năm 2008. Tác phẩm đã đứng hạng một trong danh sách các trò chơi bán chạy nhất cho hệ PS3 trong tuần thứ hai của tháng 4 năm 2009 tại Nhật hơn cả Biohazard 5 và hạng 5 tại Bắc Mỹ cùng thời điểm. Tính đến giữa năm 2015 thì trò chơi đã tiêu thụ được hơn 1,24 triệu bản cho hệ PS3. Steam đã phân phối trực tuyến hơn 210000 bản cho hệ máy tính cá nhân tính đến đầu tháng 3 năm 2015.
Tác phẩm đã được trao nhiều danh hiệu từ các trang mạng chuyên về trò chơi điện tử như Gamespot đã trao cho trò chơi danh hiệu Đồ hoạ nghệ thuật đẹp nhất còn GameSpy thì trao danh hiệu Nhạc nền hay nhất cho mục trò chơi chiến thuật năm 2008. GameTrailers đã xếp trò chơi vào danh mục Trò chơi nhập vai hay nhất. IGN thì trao cho trò chơi danh hiệu Trò chơi chiến thuật của năm 2008 trên hệ PlayStation 3, RPGFan thì trao Trò chơi nhập vai của năm trên hệ PlayStation 3 và Trò chơi chiến thuật hay nhất trên các hệ máy chơi trò chơi điện tử chuyên dụng... Còn sách Kỷ lục Guinness thì ghi nhận trò chơi là Trò chơi chiến thuật hay nhất trên hệ PlayStation 3.
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
Liên kết ngoài
- Valkyria Chronicles official website Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “In lang”.
- http://valkyria.jp/topics.html Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Ngày chuẩn' not found.
- http://www.gamespot.com/valkyria-chronicles/
- http://www.ign.com/games/valkyria-chronicles/ps3-950634
- http://www.gamerankings.com/ps3/942165-valkyria-chronicles/index.html
- http://www.metacritic.com/game/pc/valkyria-chronicles
- https://web.archive.org/web/20090508235738/http://www.gamasutra.com/newswire?story=23247
- http://segabits.com/blog/2015/03/05/valkyria-chronicles-sold-over-200000-copies-on-steam/
- http://blogs.sega.com/2010/06/17/e3-2010-guinness-world-records/ Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Ngày chuẩn' not found.
- http://www.vgchartz.com/game/18897/valkyria-chronicles/
- Trailer
- http://www.valkyria-anime.com/special/interview/03-01.html
- Official anime website Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “In lang”.
- Senjou no Valkyria -Gallian Chronicles- (anime) tại từ điển bách khoa của Anime News Network