Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst-infobox”.

"Telephone" là bài hát được sáng tác bởi nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Lady Gaga trích từ EP phòng thu thứ ba của cô mang tên The Fame Monster. Trong ca khúc này, cô hợp tác cùng với nữ ca sĩ R&B Beyoncé Knowles. "Telephone" được Lady Gaga viết cho Britney Spears cho album Circus nhưng lại bị Britney Spears từ chối, vì vậy cô đã thu âm ca khúc này cho chính mình. Bài hát được các nhà phê bình đánh giá cao, họ cho nó là ca khúc nổi bật nhất trong The Fame Monster. "Telephone" đã leo lên bảng xếp hạng ở một số nước do doanh số bán hàng kỹ thuật số trên mạng, cụ thể là tại Hoa Kỳ, Úc, Canada, Hà Lan, New Zealand, Thụy ĐiểnHungary. Bài hát đặc biệt thành công vượt trội ở châu Âu, giành vị trí quán quân ở Bỉ, Đan Mạch, Ireland, Na Uy... và Vương quốc Anh. Lady Gaga trình bày đoạn điệp khúc của "Telephone" pha lẫn với ca khúc "Dance in the Dark" tại lễ trao giải BRIT 2010 để tưởng nhớ đến nhà thiết kế thời trang Alexander McQueen. Nó cũng được cô trình diễn ở chuyến lưu diễn The Monster Ball Tour. Đến cuối năm 2010, Telephone đã tiêu thụ hết 7.400.000 bản, trở thành một trong những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại. Và ca khúc cũng là đĩa đơn bán chạy thứ tư của nữ ca sĩ tài năng này.[1]

Lady Gaga giải thích rằng video "Telephone" là một sự tiếp nối của video "Paparazzi". Trong clip, cô bị bắt giam vì tội giết bạn trai của mình, nhưng sau đó cô được "một tên ngốc nào đó" (Beyoncé) trả tiền bảo lãnh ra tù. Sau đó họ đi đến một quán ăn và giết chết hàng loạt những người khách tại đó bằng bữa ăn sáng của họ. Video kết thúc bằng cảnh Gaga và Beyonce thoát khỏi cảnh sát, nhưng khi chiếc xe đã đi xa thì một chiếc trực thăng của cảnh sát chạy theo đằng sau, dòng chữ "To be continued" (còn nữa) chạy dài trên màn hình. Video vừa mới được tung ra thì ngay tức khắc đã nhận được rất nhiều lời ca ngợi từ phía các nhà phê bình nhưng với nội dung này thì nó không phù hợp với những người có độ tuổi -18.

Tổng quan

Lady Gaga đã viết "Telephone" cho Britney Spears trong album phòng thu năm 2008 của Britney, Circus. Tuy nhiên, sau khi "Telephone" không được chọn làm ca khúc cuối cùng trong album của Britney, Lady Gaga đã thu âm ca khúc này cho mình cùng với Beyonce Knowles trong album The Fame Monster.[2] Cô nói: "Tôi đã viết ca khúc này cho cô ấy (Britney) từ lâu rồi và cuối cùng thì cô ấy lại không dùng nó cho album của cô ấy. Cũng tốt thôi, bởi vì tôi yêu ca khúc này và tôi sẽ thể hiện nó ngay bây giờ".[3]

Sáng tác

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Listen”. "Telephone" được sáng tác bởi Lady Gaga, Rodney Jerkins, LaShawn Daniels, Lazonate Franklin và Beyoncé.[4] Lời bài hát của "Telephone" nói về một cô ca sĩ thích sàn nhảy hơn là việc trả lời cuộc gọi từ bạn trai. Theo Lady Gaga, chiếc điện thoại hiện diện trong lời bài hát không phải là một chiếc điện thoại vô tri, đó là một người luôn xuất hiện trong đầu cô ấy, luôn thúc giục cô làm việc chăm chỉ hơn nữa. Lady Gaga giải thích: "Đó là nỗi sợ của tôi - đó là tiếng chuông điện thoại reo và đầu tôi cũng rung theo...". Dù cho đó chỉ là một chiếc điện thoại hay chỉ là những ý nghĩ trong đầu tôi, nó vẫn là một nỗi sợ hãi của tôi".

Video âm nhạc

Tập tin:LG & B telephone MV 02.jpg
Lady Gaga và Beyonce trong chiếc xe Pussy Wagon nổi tiếng của phim Kill Bill, được đích thân đạo diễn Quentin Tarantino cho Gaga mượn.

Clip "Telephone" được quay vào ngày 28 tháng 1 năm 2010 bởi đạo diễn Jonas Åkerlund.[5] Giải thích về đoạn video, Gaga nói:

"Lúc nào cũng có một thông điệp ẩn chứa trong các video của tôi. Tôi có thể nói là tôi luôn cố gắng làm cho mọi người hiểu rằng một video nhạc pop nên làm như thế nào. Thực sự "Paparazzi" có chất lượng đáng kinh ngạc, nó có cả chất lượng của nhạc pop đơn thuần và có cả lời dẫn giải về văn hóa nổi tiếng. Làm việc với nhà đạo diễn Jonas Akerlund luôn đạt được chất lượng cao về nghệ thuật và ở cách quay phim. Tôi muốn làm điều tương tự với video này, chọn một bài hát nhạc pop mà bề mặt có ý nghĩa nông cạn thôi và biến nó thành một điều gì đó sâu sắc hơn".[6]

Cô cũng nói: "Tôi cảm thấy video Bad Romance thật tệ, bởi Telephone là một video thật sự tuyệt hơn hẳn Bad Romance". Là một video được dàn dựng công phu có thời gian lên tới hơn 9 phút, các cảnh quay đều mang tính nghệ thuật cao cộng với trang phục bắt mắt và kỳ lạ nhưng cũng không kém phần gợi cảm, "Telephone" ắt hẳn là món quà tuyệt vời nhất mà Lady Gaga muốn truyền tải đến những người hâm mộ yêu quý của mình.

Diễn biến trên bảng xếp hạng

Trong tháng 11 năm 2009, vì là một bản nhạc có số lượng bán ra lớn nên "Telephone" đã xuất hiện trong các bảng xếp hạng ở Ireland, ÚcAnh Quốc ở các vị trí 26, 29 và 30.[7] Ca khúc đã lọt vào top 5 trên Billboard Hot 100 ở vị trí thứ 3.[8] Ca khúc cũng đã đạt vị trí quán quân ở Hot Dance Club Songs vào ngày 27 tháng 2.[9] Tại Anh, ca khúc xuất hiện lần đầu ở vị trí thứ 12 vào ngày 15 tháng 3 năm 2010. Đến ngày 21 tháng 3, "Telephone" đứng đầu bảng xếp hạng UK Singles Chart. Bài hát đã trở thành đĩa đơn thứ tư quán quân tại Anh của Lady Gaga khi chưa đầy 3 năm, giúp cô trở thành nghệ sĩ duy nhất trong lịch sử có thể làm điều này. Tại Ireland, bài hát ra mắt tại vị trí 26 và leo lên đến vị trí á quân.

Tại Úc, "Telephone" đã leo lên hạng 3 và được chứng nhận Bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc (ARIA). Ở New Zealand, bài hát ra mắt tại vị trí 31, và leo lên vị trí thứ ba vào ngày 5 tháng 4 năm 2010. "Telephone" ra mắt tại vị trí thứ 14 trên bảng xếp hạng Hot 100 của Canada và lên đến vị trí thứ 3. Bài hát đã được chứng nhận ba lần bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp Canada (CRIA). "Telephone" ra mắt tại số 33 trên bảng xếp hạng Thụy Điển và nằm trong top 10 ở vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Hungary.

Biểu diễn

Tập tin:Lady Gaga Telephone Monster Ball.jpg
Lady Gaga biểu diễn "Telephone" trong The Monster Ball Tour.

Lady Gaga đã biểu diễn "Telephone" tại lễ trao giải BRIT Awards vào ngày 16 tháng 2 năm 2010 ở Earls Court Exhibition Centre. Phần biểu diễn của cô được lấy cảm hứng từ cái chết của người bạn thân của cô, nhà thiết kế thời trang Alexander McQueen. Lúc đầu, cô đã có kế hoạch về một phần trình diễn khác nhưng đã thay đổi vào phút cuối, khi cô ấy muốn tỏ lòng kính trọng của mình với Alexander McQueen. Do đó, cô đã thể hiện "Telephone" và "Dance in the Dark" ở phiên bản acoustic. Trước buổi diễn, cô đã viết trên Twitter của mình như sau: "Buổi trình diễn tối nay được lấy cảm hứng từ những người bạn của chúng ta. Mặt nạ thiết kế bởi Phillip Treacy, điêu khắc bởi Nick Knight, âm nhạc bởi Lady Gaga. Chúng tôi nhớ anh".[10] Cô ấy đã bắt đầu biểu diễn cùng câu nói: "Dành cho Alexander McQueen".

Giải thưởng

Lễ trao giải MTV Video Music Awards 2010 diễn ra tại Nhà hát Nokia tại Los Angeles vào ngày 12/9 tới. Tên người chiến thắng được quyết định qua số phiếu bầu chọn của khán giả qua trang web chính thức của MTV.[11][12] Lady Gaga đã giành được 1 giải trên tổng số 3 đề cử.[13]

Năm Giải thưởng Đề mục Kết quả
2010 Giải MuchMusic Video Giải được bình chọn: Video quốc tế được yêu thích Đề cử
Video của nghệ sĩ Quốc tế xuất sắc nhất Đề cử
Giải Teen Choice Choice Music: Hook Up Đề cử
Giải MP3 Music Awards The MIC Award – Music / Industry / Choice Đoạt giải
Giải Nickelodeon Australian Kids' Choice Fave song Đề cử
Giải MTV Video Music Video của năm Đề cử
Sự cộng tác xuất sắc nhất Đoạt giải
Vũ đạo xuất sắc nhất Đề cử

Danh sách ca khúc và định dạng

Biên tập và tổ chức

(Nguồn:[4])

  • Lady Gaga – đồng sản xuất, sáng tác, hát
  • Beyoncé Knowles – Sáng tác, hát
  • LaShawn Daniels – sáng tác
  • Lazonate Franklin – sáng tác
  • Hisashi Mizoguchi – ghi âm (phần hát của Beyonce)
  • Mark "Spike" Stent – mixing
  • Mike "Handz" Donaldson – ghi âm, hiệu ứng đặc biệt
  • Paul Foley – ghi âm
  • Rodney Jerkins – sáng tác, sáng tác, phối, sản xuất

Xếp hạng và đánh giá

Thành công trên các bảng xếp hạng

Thứ tự chức vụ
Tiền nhiệm
"Russian Roulette" của Rihanna
Đĩa đơn quán quân ‘‘Billboard’’ Hot Dance Club Play (Mỹ)
Ngày 27 tháng 2 năm 2010 – Ngày 6 tháng 3 năm 2010
Kế nhiệm
"Hard" của Rihanna hợp tác với Jeezy
Tiền nhiệm
"Pass Out" của Tinie Tempah
Đĩa đơn quán quân UK Singles Chart
Ngày 21 tháng 3 năm 2010 – Ngày 3 tháng 4 năm 2010
Kế nhiệm
"This Ain't a Love Song" của Scouting for Girls
Tiền nhiệm
"Gave It All Away" của Boyzone
Đĩa đơn quán quân Irish Singles Chart
Ngày 25 tháng 3 năm 2010 – Ngày 15 tháng 4 năm 2010
Kế nhiệm
"Gives You Hell" của Glee Cast
Tiền nhiệm
"Yes Man" của Bjørn Johan Muri
Đĩa đơn quán quân Norwegian Singles Chart
Ngày 31 tháng 3 năm 2010 – Ngày 14 tháng 4 năm 2010
Kế nhiệm
"Fight for This Love" của Cheryl Cole
Tiền nhiệm
"Tik Tok" của Kesha
Đĩa đơn quán quân ‘‘Billboard’’ Pop Songs (Mỹ)
Ngày 27 tháng 3 năm 2010 – Ngày 24 tháng 4 năm 2010
Kế nhiệm
"In My Head" của Jason Derulo
Tiền nhiệm
"Memories" của David Guetta hợp tác với Kid Cudi
"Alors on danse" của Stromae
Đĩa đơn quán quân Belgian Singles Chart (Wallonia)
Ngày 3 tháng 4 năm 2010 – Ngày 1 tháng 5 năm 2010 (Lần 1)
Ngày 15 tháng 5 năm 2010 – Ngày 2 tháng 5 năm 2010 (Lần 2)
Kế nhiệm
"Alors on danse" của Stromae
"Alors on danse" của Stromae
Tiền nhiệm
"Me and My Guitar" của Tom Dice
Đĩa đơn quán quân Belgian Singles Chart (Flanders)
Ngày 3 tháng 4 năm 2010 – Ngày 1 tháng 5 năm 2010
Kế nhiệm
"Alors on danse" của Stromae
Tiền nhiệm
"My Dream" của Thomas Ring
Đĩa đơn quán quân Danish Singles Chart
Ngày 16 tháng 4 năm 2010 – Ngày 23 tháng 4 năm 2010
Kế nhiệm
"Mest ondt" của Burhan GMedina
Tiền nhiệm
"Alors on danse" của Stromae
Đĩa đơn quán quân European Hot 100
Ngày 24 tháng 4 năm 2010 – Ngày 8 tháng 5 năm 2010
Kế nhiệm
"Alors on danse" của Stromae

Lịch sử phát hành

Quốc gia Ngày Định dạng
Hoa Kỳ 26 tháng 1 năm 2010 Top 40,[82] Rhythmic,[83] Urban,[84] Hot AC[85]
Pháp 15 tháng 2 năm 2010 Tải về nhạc số[86]
Hoa Kỳ 2 tháng 3 năm 2010 The Remixes EP – Nhạc số tải về
Vương quốc Anh[87]
Canada[88]
Pháp[89]
Đan Mạch[90]
Thụy Điển[91]
Thụy Sĩ[92]
Bỉ[93]
Ireland[94]
Hà Lan[95]
Vương Quốc Anh 15 tháng 3 năm 2010 CD single,[96] 7", Nhạc số tải về[97]
Hoa Kỳ 30 tháng 3 năm 2010 The Remixes EP – CD Single[25]
Đức 2 tháng 4 năm 2010 CD single[98]
Pháp 5 tháng 4 năm 2010 Nhạc số tải về[99]
6 tháng 4 năm 2010 CD single[100]

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ a ă The Fame Monster (Ghi chú đĩa) Interscope Records (2009)
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ a ă â b c d đ e ê g Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.
  32. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.
  33. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  38. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  39. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  40. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  41. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  42. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  43. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  44. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  45. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  46. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  47. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  48. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  49. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  50. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  51. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  52. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  53. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  54. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  55. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  56. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  57. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  58. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  59. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  60. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  61. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  62. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  63. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  64. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  65. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  66. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  67. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  68. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  69. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  70. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  71. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  72. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  73. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  74. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  75. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  76. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  77. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  78. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  79. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  80. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  81. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  82. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  83. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  84. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  85. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  86. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  87. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  88. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  89. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  90. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  91. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  92. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  93. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  94. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  95. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  96. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  97. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  98. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  99. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  100. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Bài hát của Lady Gaga Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”.