Thuật Luật Bình (chữ Hán: 述律平, tiếng Nga: Шулюй, tiếng Anh: Shulü Ping, 19 tháng 10 năm 879 - 1 tháng 8 năm 953)[1], họ Tiêu (蕭), tiểu tự Nguyệt Lý Đóa (月裏朵), là Hoàng hậu duy nhất của Liêu Thái Tổ Gia Luật A Bảo Cơ trong lịch sử Trung Quốc.

Thuật Luật Bình
述律平
Hoàng hậu nhà Liêu
Tại vị916 - 926
Tiền nhiệmHoàng hậu đầu tiên
Kế nhiệmThuật Luật Ôn
Thông tin chung
Sinh19 tháng 10 năm 879
Hữu Đại bộ, Khiết Đan
Mất1 tháng 8 năm 953
Tổ Châu
Phối ngẫuLiêu Thái Tổ Gia Luật A Bảo Cơ
Hậu duệxem văn bản
Tên tự
Nguyệt Lý Đóa (月裏朵)
Thụy hiệu
Thuần Khâm Hoàng hậu (淳钦皇后)
Thân phụThuật Luật Bà Cô
Thân mẫuGia Luật Tất Cát Chỉ

Bà là cánh tay phải đắc lực của Thái Tổ trong việc thống nhất các bộ tộc Khiết Đan, trực tiếp tham gia vào việc kế vị hai đời Hoàng đế là Liêu Thái TôngLiêu Thế Tông, hoàn toàn làm thay đổi quan niệm về góa phụ trong xã hội đương thời.

Cuộc đời

Xuất thân

Thuật Luật Bình sinh ngày 19 tháng 10 năm 879, sinh ra tại Hữu Đại bộ, Khiết Đan, xuất thân trong gia tộc Diêu Liễn thị (遥辇氏) nhiều đời có quan hệ thông gia với thủ lĩnh bộ tộc Điệt Lạt của Thái Tổ. Liêu sử có ghi chép rằng họ Thuật Luật vốn là hậu duệ của Nấu Tư người Hồi Cốt[2], tuy nhiên có ghi nhận rằng Thuật Luật Bình không thông thạo thứ tiếng này. Khiết Đan quốc chí của Diệp Long Lễ thời Nam Tống lại chép "vốn là người Khiết Đan trong nước".

Vào nửa đầu thế kỷ thứ 8, Hồi Cốt hưng thịnh, Khiết Đan phải quy thuộc. Tổ tiên của bà là Thuật Luật Nhu Tư (述律糯思) chính là một trong những Giám sứ được Khả hãn Hồi Cốt phái tới Khiết Đan để đốc thúc nộp cống phẩm. Sau khi Hãn quốc Hồi Cốt sụp đổ, họ Thuật Luật đã định cư tại khu vực sông Liêu thuộc địa phận Khiết Đan. Gia tộc của ông được ban họ Tiêu (蕭), cùng với Bạt Lý thị (拔里氏) và Ất Thát Kỷ thị (乙室己氏) hợp thành "Ngoại thích tam tộc" mang họ Tiêu. Sinh mẫu của 5 vị Hoàng đế nhà Liêu bao gồm Liêu Thái Tông, Liêu Mục Tông, Liêu Cảnh Tông, Liêu Hưng Tông, Liêu Đạo Tông đều xuất thân từ họ Thuật Luật.

Thân phụ của bà, Thuật Luật Bà Cô (述律婆姑), tên Hán là Nguyệt Uyển (月碗), đảm nhiệm chức A trát cát chỉ của bộ tộc Diêu Liễn, thành hôn với Gia Luật Tát Cất Chỉ (撒葛只迷己). Thuận tiện nhắc đến, Gia Luật Tát Cất Chỉ là con gái của Gia Luật Quân Đức Thật (耶律勻德實), chính là tổ phụ của Liêu Thái Tổ. Trước khi kết hôn với Thuật Luật Bà Cô, Gia Luật Tát Cất Chỉ vốn có một đời chồng, sinh ra Địch Lỗ (敵魯), về sau lại lấy Gia Luật Dư Lỗ Đổ Cô (耶律馀虏睹姑), em gái Thái Tổ. Trong nhà, bà là con gái lớn nhất, về sau còn có ba người em trai, trong đó người em lớn nhất là Tiêu Á Cổ Chỉ (蕭阿古只) làm đến Bắc phủ Tể tướng, sinh ra Hoài Tiết Hoàng hậu của Liêu Thế Tông, tổ tiên Khâm Ai Hoàng hậu, sinh mẫu Liêu Hưng TôngNhân Ý Hoàng hậu của Liêu Hưng Tông; người thứ hai là Thát Lỗ (室鲁) lại lấy chính con gái bà là Gia Luật Chất Cổ (耶律质古), sinh ra Chương Đức Hoàng hậu của Liêu Thái Tông; người thứ ba là Tiêu Miễn Tự (萧勉思) không có ghi chép gì[3][4]. Trước mắt có thể thấy, hôn nhân của họ Thuật Luật và nhà Liêu là cực kỳ phức tạp và chặt chẽ.

Hành trạng

Bà được ghi nhận là "tính tình giản dị, uy nghiêm lại quyết đoán", kết hôn với Thái Tổ trước năm 899. Năm 907, nước Khiết Đan được thành lập, quần thần dâng tôn hiệu là Địa Hoàng hậu (地皇后)[5]. Sang niên hiệu Thần Sách (916), thêm bốn chữ Ứng Thiên Đại Minh (應天大明)[6]. Thái Tổ từng dẫn quân tiến đánh Đảng Hạng, lúc đó gia quyến hai bộ tộc Thất Vi là Hoàng ĐầuXú Bát mưu đồ thừa cơ tập kích A Bảo Cơ. Thuật Luật Hoàng hậu nghe tin bèn lập tức dẫn quân nghênh kích và đánh tan hoàn toàn quân địch, từ đó uy danh chấn động bốn phương.

Bấy giờ, Lý Tồn Úc muốn kết liên minh với Khiết Đan, bèn dùng lễ thúc mẫu (cháu đối với cô) để đối đáp với Thuật Luật Hoàng hậu. Lưu Thủ Quang khi ấy ở U Châu cũng sai Hàn Diên Huy (韓延徽) đến cầu viện nhưng nhất quyết không quỳ bái, Thái Tổ nổi giận bắt hắn ở lại chăn ngựa. Hoàng hậu bèn khuyên: "Người này giữ khí tiết không chịu khuất phục, thực sự là bậc hiền tài, nên đối đãi bằng lễ nghĩa." Thái Tổ nghe xong bèn triệu Hàn Diên Huy đến đàm đạo, sau đó bổ nhiệm làm tham mưu. Về sau, đối với quân quốc đại sự của nước Liêu, bà đều nắm giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Ngay cả việc bình định Bột Hải Quốc, Hoàng hậu cũng lập được nhiều công lao.

Sau khi Thái Tổ băng hà, Thuật Luật Bình tiến hành nhiếp chính, nắm giữ toàn bộ quân quyền và quốc sự. Khi Thái Tổ băng, bà từng có ý tuẫn táng đi theo, sau khi được quần thần ra sức can ngăn, bà đã tự chặt đứt bàn tay phải của mình rồi bỏ vào trong linh cữu của Thái Tổ để làm vật bồi táng[7]. Lại có ghi chép khác cho rằng sau khi A Bảo Cơ qua đời, Thuật Luật Hoàng hậu mượn danh nghĩa bồi táng để lần lượt trừ khử các đại thần của A Bảo Cơ. Khi Triệu Tư Ôn (趙思溫) từ chối bồi táng và vặn hỏi lại vì sao Hoàng hậu không tự mình tuẫn táng, Thuật Luật Hoàng hậu bèn chặt tay để bồi táng.

Dưới sự ngầm ám thị của bà, quần thần đã tôn Gia Luật Đức Quang lên làm Hoàng đế, tức Liêu Thái Tông. Sau khi Thái Tông tức vị, liền tôn bà làm Ứng Thiên Hoàng thái hậu (應天皇太后). Đến những năm đầu niên hiệu Hội Đồng, gia phong thêm các chữ Quảng Đức Chí Nhân Chiêu Liệt Sùng Giản, đầy đủ là Quảng Đức Chí Nhân Chiêu Liệt Sùng Giản Ứng Thiên Hoàng thái hậu (廣德至仁昭烈崇簡應天皇太后). Đến khi Thái Tông băng, con trai ông là Gia Luật Nguyễn tự lập làm đế, tức Liêu Thế Tông. Thuật Luật Thái hậu bèn sai người con út mà bà yêu quý nhất là Gia Luật Lý Hồ dẫn quân đi chinh phạt, nhưng Gia Luật Lý Hồ thất bại thảm hại, liền muốn tự mình ra trận. Gia Luật Ốc Chất (耶律屋質) ra sớ can gián, bà mới từ bỏ ý định này.

Sau sự việc, Thái hậu bị giam lỏng ở Tổ Châu. Cả Thế Tông và con trai là Liêu Mục Tông đều ghi oán việc bà từng có ý thiên vị lập Gia Luật Lý Hồ, nên không những không giải trừ lệnh giam lỏng mà cũng không tôn bà làm Thái hoàng thái hậu. Ngày 19 tháng 6 năm Ứng Lịch thứ 3 thời Liêu Mục Tông (953), Thái hậu qua đời tại nơi giam lỏng, hưởng thọ 75 tuổi. Ban đầu, thụy hiệu của bà là Trinh Liệt Hoàng hậu (貞烈皇后)[8], về sau đổi thành Thuần Khâm Hoàng hậu (淳欽皇后)[9].

Chú thích

  1. ^ 根据《辽史》记载,辽太宗耶律德光在农历十月初二为皇太后述律平过生日,但是述律平出生于唐僖宗乾符六年,这一年农历有一个十月,还有一个闰十月,如果述律平生于唐僖宗乾符六年十月初二,根据万年历换算为公历是879年10月20日,如果述律平生于唐僖宗乾符六年闰十月初二,根据万年历换算为公历是879年11月19日。补充:《辽史》太宗本纪中天显十一年明确写有“闰月”,因此述律平当不可能生于闰十月。并且她也并非出生于十月初二,“冬十月癸卯朔”很确切是指十月初一,并且“(十二年)冬十月庚辰朔,皇太后永宁节”也以万年历为十月初一。故其出生日当为879年10月19日。
  2. ^ “回鹘使至,无能通其语者,太后为太祖曰:“迭剌聪敏可使。”《辽史·卷六四·皇子表》
  3. ^ “回鹘使至,无能通其语者,太后为太祖曰:“迭剌聪敏可使。”《辽史·卷六四·皇子表》
  4. ^ 《辽史·卷七十一·列传第一》
  5. ^ 《遼史·卷一 本紀第一太祖上》元年春正月庚寅,北宰相轄剌、南宰相耶律歐里思率群臣上尊號曰天皇帝,後曰地皇后。
  6. ^ 《遼史·卷一 本紀第一太祖上》神冊元年春二月丙申,群臣及諸屬國築壇州東,上尊號曰大聖大明天皇帝,後曰應天大明地皇后
  7. ^ 《遼史·卷六十三·列傳第一后妃》天顯元年七月,太祖崩,後稱制,攝軍國事。及葬,欲以身殉,親戚百官力諫,因斷右腕納於柩。
  8. ^ 《遼史·卷六·本紀第六穆宗上》十一月辛丑,謚皇太后曰貞烈,葬祖陵。
  9. ^ 《遼史·卷二十·本紀二十興宗三》八月甲子,增太祖謚大聖大明神烈天皇帝,更謚貞烈皇后日淳欽。