Tiếng timtiếng động được phát ra bởi trái tim đang đập và bởi dòng máu đang chảy qua nó. Một cách cụ thể, đó là âm thanh phản chiếu sự hỗn loạn được tạo ra khi van tim đóng lại. Khi chẩn bệnh về tim người kiểm tra có thể dùng ống nghe để lắng nghe những âm thanh độc nhất và riêng biệt đó nhằm thu nhận được những dữ liệu thính giác quan trọng có liên quan đến tình trạng của tim.

Tiếng tim sinh lý

Ở người trưởng thành khỏe mạnh, có hai tiếng tim bình thường, thường được mô tả là một tiếng lub (tiếng đóng lại của van nhĩ thất, ở Việt Nam gọi là tiếng bùm) và một tiếng dub (hoặc dup, ở Việt Nam gọi là tiếng tặc) (tiếng đóng lại của van bán nguyệt), diễn ra trình tự với mỗi nhịp đập của trái tim. Đó là tiếng tim đầu tiên (S1) và tiếng tim thứ hai (S2), tạo ra bởi việc tương ứng đóng lại của van nhĩ thấtvan bán nguyệt

Tiếng tim bất thường

Ngoài những tiếng tim bình thường này, cũng có thể có mặt nhiều tiếng tim khác bao gồm tiếng thổi, tiếng thêm vào, và tiếng nhịp phi nước đại S3 và S4.

Tiếng thổi tim được phát ra từ dòng chảy hỗn loạn của máu và để nghe được tiếng thổi như tiếng dòng chảy hỗn loạn ấy cần phải có sự chênh lệch áp suất ít nhất 30 mm hg giữa các buồng tim và máu từ buồng có áp lực cao hơn sẽ chảy về buồng có áp lực thấp hơn, điều này xảy trong tình trạng bệnh, dẫn đến shunt trái - phải hoặc shunt phải - trái dựa trên áp lực bên nào chiếm ưu thế hơn. Sự hỗn loạn có thể xảy ra bên trong hoặc bên ngoài tim; nếu xảy ra bên ngoài thì sự hỗn loạn này được gọi là Bruit. Tiếng thổi có thể là sinh lý (lành tính) hoặc bệnh lý (bất thường). Tiếng thổi bất thường có thể gây ra bởi chứng hẹp làm hạn chế mở van tim, dẫn đến sự hỗn loạn khi máu chảy qua. Tiếng thổi bất thường cũng có thể xảy ra với tình trạng suy van tim (hở van tim), dẫn đến dòng máu chảy ngược khi van không đủ lực để đóng lại, hiệu quả tống máu chỉ đạt được một phần. Những tiếng thổi khác nhau có thể được nghe thấy ở những phần khác nhau trong chu kỳ tim, và cũng tùy thuộc vào nguyên nhân gây nên tiếng thổi.

Các vị trí nghe tim

Vùng nghe van động mạch chủ

Vùng van động mạch chủ nằm ở khoang liên sườn 2 cạnh ức phải, là nơi nghe rõ các âm liên quan van động mạch chủ nhất. Đây là vị trí quan trọng để phát hiện hẹp van động mạch chủ, hở van động mạch chủ và đánh giá tiếng T2 ở nền tim.[1]

Vùng nghe van động mạch phổi

Vùng van động mạch phổi nằm ở khoang liên sườn 2 cạnh ức trái, giúp khảo sát các tiếng tim ở đường ra thất phải. Vị trí này thường hữu ích trong phát hiện tăng áp động mạch phổi, hẹp van động mạch phổi hoặc tách đôi T2.[1]

Vùng nghe van ba lá

Vùng van ba lá thường ở bờ trái xương ức thấp, khoảng khoang liên sườn 4–5, là nơi nghe tốt các âm từ tim phải. Đây là vị trí hay dùng để phát hiện hở van ba lá, tiếng thổi tâm thu do tăng áp phổi và một số tiếng bất thường của tim phải.[1]

Vùng nghe van hai lá

Vùng van hai lá nằm ở mỏm tim, thường ở khoang liên sườn 5 đường trung đòn trái, là nơi nghe rõ nhất T1 và nhiều âm từ tim trái. Vị trí này đặc biệt quan trọng trong phát hiện hẹp van hai lá, hở van hai lá và các tiếng T3, T4.[1]

Tài liệu tham khảo

  1. ^ a b c d Taylor, Allen J., biên tập (2015). "Learning Cardiac Auscultation" (bằng tiếng Anh). doi:10.1007/978-1-4471-6738-9. {{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần |magazine= (trợ giúp)