Tràng An (chữ Hán: 長安, chuyển nghĩa: yên ổn dài lâu, muôn đời bình yên), còn được viết là Trường Yên, Tràng Yên hay Trường An, là một địa danh cổ tại miền Bắc Việt Nam. Địa bàn của đất Tràng An gần tương ứng với Cố đô Hoa Lư, nằm trọn trong địa phận tỉnh Ninh Bình, với trung tâm là phường Hoa Lư.

Lược sử

Đất Trường Yên cổ

Tập tin:Codoj6.JPG
Phong cảnh làng cổ Trường Yên

Khu vực phát tích của đất Tràng An được xác địnn ở làng cổ Trường Yên (này thuộc phường Tây Hoa Lư tỉnh Ninh Bình). Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên cạn thuộc sơ kỳ đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Tràng An và một số hang động có di chỉ cư trú của con người thời văn hóa Hòa Bình. Sau thời kỳ văn hóa Hòa Bình, vùng đồng đất này là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam. Quần thể Di sản Thế giới Tràng AnHoa Lư còn lưu giữ nhiều di vật của người tiền sử từ 30.000 năm trước, dấu tích của các triều đại, kinh đô xưa. Cách nay từ 251 đến 200 triệu năm, Tràng An vốn là vùng biển cổ. Các hang động karst đặc sắc nằm ngang xuyên qua lòng các dãy núi lớn, ngập nước thường xuyên ở đây được hình thành cách đây 4.000 năm.[1]

Vùng đất này thời Hồng Bàng thuộc bộ Quân Ninh. Thời An Dương Vương, vùng này thuộc bộ lạc Câu Lậu. Từ thời thuộc Hán qua Tam Quốc đến thời Nam Bắc triều, vùng cố đô Hoa Lư thuộc huyện Câu Lậu, quận Giao Chỉ. Sang thời thuộc Đường, vùng này thuộc Trường châu. Trong thời nhà Ngô, vùng này là nơi cát cứ của Đinh Bộ Lĩnh. Ông ly khai và đã đẩy lui thành công cuộc tấn công của chính quyền trung ương Cổ Loa năm 951 do 2 anh em Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập và Nam Tấn vương Ngô Xương Văn đích thân chỉ huy. Cho tới khi nhà Ngô mất, nơi đây vẫn là vùng cát cứ bất khả xâm phạm của Đinh Bộ Lĩnh.

Kinh đô Tràng An đất Việt

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, lên ngôi Hoàng đế, lập ra triều đại nhà Đinh và trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc. Vua đặt tên nước là Đại Cồ Việt, lấy Hoa Lư quê hương là kinh đô.[2] Đặc điểm địa lý tự nhiên của kinh đô Hoa Lư được mô tả:

"Hoa Lư là nơi núi non trùng điệp. Núi trong sông, sông trong núi. Căn cứ thủy bộ rất thuận tiện. Sau lưng là rừng, trước mặt là đồng bằng, xa nữa là biển cả... Nơi đây non sông tráng lệ, phong thủy hài hòa, xứng đáng chọn để dựng đô được."
Tập tin:Codohoalu1-Model.jpg
Sơ đồ kinh đô Hoa Lư

Tương truyền, vua Đinh Tiên Hoàng muốn khẳng định kinh đô Hoa Lư cũng bề thế như kinh đô Trường An xưa của phương Bắc nên đã sai Nguyễn Bặc làm câu đối:

Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Tràng An.

Dưới thời Đinh, kinh đô Hoa Lư được xây dựng dựa trên địa thế hiểm trở, tận dụng điều kiện tự nhiên với các vách núi đá vôi và hệ thống sông hồ làm thành quách. Thành Hoa Lư là một "quân thành" phòng ngự vững chắc, vừa giảm sức người và ngân khố quốc gia lại vừa đảm bảo đối phó tối ưu với các thế lực thù địch.[3] Kinh thành Hoa Lư được xây dựng với 3 vòng thành liền nhau: thành Đông, thành Tây và thành Nam. Thành Đông nằm ở phía đông, giáp với vùng đồng bằng, là nơi bố trí cung điện nên được gọi là thành Ngoại; thành Tây nằm ở bên trong giáp với vùng núi non, là nơi ở của quan lại và khu vực hậu cần nên được gọi là thành Nội. Thành Nam rộng hơn, là vùng núi cao hiểm trở để phòng thủ, che chở kinh thành được gọi chung là Tràng An. Với đặc thù địa hình như vậy, kinh đô Hoa Lư được ví như kinh đô đá với đặc điểm: núi là thành, sông là đường, hang động là cung điện.

Sau cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất, vua Lê Đại Hành tiếp tục cho mở mang, xây dựng thêm nhiều cung điện lộng lẫy ở Hoa Lư.[4] Ông vẫn chọn Hoa Lư làm kinh đô do vị trí nằm ở trung tâm đất nước thời bấy giờ (giữa ngã ba khu vực Tây Bắc, châu thổ sông HồngBắc Trung Bộ) để phục vụ mục tiêu mở mang bờ cõi xuống phương nam sau này.

Phủ Tràng An

Tập tin:Caudong.jpg
Phong cảnh phố Cầu Đông, núi Chợ ở Hoa Lư

Sau khi Lý Thái Tổ lên ngôi, lập ra nhà Lý, nhận thấy kinh đô Hoa Lư chật hẹp, không thể mở mang thành nơi đô hội được, không phù hợp với vị thế mới của đất nước,[5] vì vậy, ông đã dời đô về Đại La. Tuy vậy, hệ thống triều đình và cơ sở vật chất của kinh thành Thăng Long sau này đều thừa hưởng từ kinh đô Hoa Lư trước đó. Nhiều công trình kiến trúc được nhà Lý cho xây dựng ở kinh đô mới Thăng Long tương tự như ở cố đô Hoa Lư vẫn tồn tại đến tận nay như: Ô Cầu Dền, phố Tràng Tiền, phố Cầu Đông, chùa Một Cột, ngã ba Bồ Đề, cống Trẹm, tháp Báo Thiên, phố Đình Ngang, chùa Vạn Tuế, làng gốm Bát Tràng,...[6][7] Sách Đại Nam nhất thống chí quyển XIV tỉnh Ninh Bình, mục cổ tích chép: "Đô cũ nhà Đinh, nhà Lê ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ về phía tây bắc huyện Gia Viễn, có nội thành và ngoại thành, có cửa xây bằng đá, lại có các danh hiệu: cầu Đông, cầu Dền, cầu Muống, Tràng Tiền, chùa Tháp, chùa Nhất Trụ,... nền cũ vẫn còn. Về sau Lý Thái Tổ dời đô đến Thăng Long đều dùng theo các danh hiệu ấy..."'.

Kinh đô Hoa Lư tồn tại được 42 năm, trong đó 12 năm đầu là triều Đinh (968 - 980), 29 năm kế tiếp là triều Tiền Lê (980 - 1009) và năm cuối (1009 - 1010) là triều Lý. Sau khi dời đô về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã đổi thành Đại La cũ thành kinh thành Thăng Long, cố đô Hoa Lư thành phủ Tràng An. Địa danh phủ Tràng An, tuy có những thời kỳ gián đoạn, thay đổi cấp hành chính từ phủ, lộ, trấn, châu, nhưng nhìn chung tồn tại kéo dài trong hơn 800 năm, cho đến đầu nhà Nguyễn, khi vua Minh Mạng cho đổi tên phủ Tràng An thành phủ Yên Khánh năm 1821.

Di tích

Thành Nam Tràng An là hệ thống phòng thủ phía Nam của kinh thành Hoa Lư nên nơi đây còn nhiều đền phủ, dấu tích của các quan lại triều Đinh và nhà Trần sau này.

Đền Trình

Đền Trình là nơi thờ 2 công thần nhà Đinh là Tả Thanh Trù và Hữu Thanh Trù. Đương triều họ là 2 Giám sát Đại tướng quân cai quản kho vàng, két bạc của vua. Tương truyền, khi vua Đinh Tiên Hoàng băng hà, triều đình rối ren, họ đã mang giấu Đinh Toàn tại đây để tránh sự truy bắt của Lê Hoàn.

Đền Trần

Đền Trần Ninh Bình do vua Đinh Tiên Hoàng xây dựng cùng thời với đền Hùng, sau này vua Trần Thái Tông về đây lập hành cung Vũ Lâm tiếp tục cải tạo bề thế hơn nên được gọi là đền Trần. Đền Trần là nơi thờ thần Quý Minh, vị thần trấn cửa ải phía nam Hoa Lư tứ trấn. Đền còn có tên là đền Nội Lâm (cùng với Vũ Lâm, Văn Lâm hợp thành Tam Lâm dưới triều đại nhà Trần). Lễ hội đền Trần Ninh Bình diễn ra vào ngày 18 tháng 3 âm lịch hàng năm.

Phủ Khống

Phủ Khống là nơi thờ 7 vị quan trung thần triều Đinh, gắn với các truyền thuyết khi vua Đinh Tiên Hoàng băng hà, 7 vị quan trong triều đình mang nhiều quan tài chôn theo các hướng rồi cùng tự sát để giữ kín những bí mật về ngôi mộ thật. Một vị tướng trấn giữ thành nam vô cùng cảm kích trước nghĩa khí của 7 vị trung thần liền lập bát nhang thờ cúng ở đây. Sau khi vị tướng này mất, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ và trồng cây thị ngay trước cửa Phủ để tưởng nhớ các bậc trung thần.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ V.Tiến (ngày 22 tháng 8 năm 2011). "Hang động Tràng An ứng cử di sản thế giới". Báo điện tử VietNamNet. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2013.
  2. ^ Sách Đại Việt sơ lược chép về việc Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi và định đô như sau: "Đến năm thứ nhất niên hiệu Khai Bảo (968) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ, vương xưng Hoàng đế ở động Hoa Lư. Rồi dựng cung điện, chế triều nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế".
  3. ^ Giá trị lịch sử của Cố đô Hoa Lư
  4. ^ Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: "Năm Giáp Thân thứ 5 (984): dựng nhiều cung điện, làm điện Bách Bảo Thiên tức ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng, bạc, làm nơi coi chầu; bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, rồi lại dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân dựng điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc".
  5. ^ "Từ Hoa Lư đến Thăng Long, Tầm nhìn xuyên thế kỷ". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2008.
  6. ^ "Kinh đô Hoa Lư - Thủ đô nước Đại Cồ Việt". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008.
  7. ^ Cố đô Hoa Lư (Nguyễn Văn Trò) – Nhà Xuất bản Văn hóa dân tộc

Tham khảo