Viêm túi thừa
Bài này cần được chia thành nhiều đề mục nhỏ cho dễ đọc và bớt lan man. (tháng 3/2026) |
Viêm túi thừa, cụ thể là viêm túi thừa đại tràng, là một bệnh lý đường tiêu hóa đặc trưng bởi tình trạng viêm các túi bất thường (túi thừa) có thể hình thành trong thành ruột già.[1] Triệu chứng thường gồm đau bụng dưới khởi phát đột ngột (nhưng cũng có thể xuất hiện trong vài ngày),[1] buồn nôn, tiêu chảy hoặc táo bón.[1] Sốt hoặc máu trong phân có thể cho thấy đã xuất hiện biến chứng.[1] Các cơn bệnh có thể tái phát nhiều lần.[2]
| Viêm túi thừa | |
|---|---|
| Tên khác | Viêm túi thừa đại tràng |
| Tập tin:Diverticulitis complete hariadhi.svg | |
| Hình minh họa viêm túi thừa ảnh hưởng đến ruột già | |
| Khoa/Ngành | Ngoại tổng quát |
| Triệu chứng | Đau bụng, sốt, buồn nôn, tiêu chảy, táo bón, máu trong phân[1] |
| Khởi phát | Đột ngột, tuổi > 50[1] |
| Nguyên nhân | Chưa rõ[1] |
| Yếu tố nguy cơ | Béo phì, ít vận động, hút thuốc lá, tiền sử gia đình mắc bệnh, dùng thuốc chống viêm không steroid[1][2] |
| Phương pháp chẩn đoán | Xét nghiệm máu, chụp CT, nội soi đại tràng, chụp X-quang đường tiêu hóa dưới[1] |
| Chẩn đoán phân biệt | Hội chứng ruột kích thích[2] |
| Phòng ngừa | Mesalazine, rifaximin[2] |
| Điều trị | Kháng sinh, chế độ ăn lỏng, nhập viện[1] |
| Dịch tễ | 3,3% dân số (các nước phát triển)[1][3] |
Nguyên nhân gây viêm túi thừa hiện vẫn chưa rõ.[1] Các yếu tố nguy cơ có thể gồm béo phì, ít vận động, hút thuốc, tiền sử gia đình mắc bệnh và sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs).[1][2] Vai trò của chế độ ăn ít chất xơ như một yếu tố nguy cơ vẫn chưa rõ ràng.[2] Việc có các túi trong đại tràng nhưng không bị viêm được gọi là bệnh túi thừa.[1] Khoảng 10-25% người có túi thừa sẽ phát triển thành viêm túi thừa vào một thời điểm nào đó, thường do nhiễm khuẩn.[2][4] Việc chẩn đoán thường dựa vào chụp CT, và các phương pháp hỗ trợ chẩn đoán khác như xét nghiệm máu, nội soi đại tràng hoặc chụp X-quang đường tiêu hóa dưới.[1] Chẩn đoán phân biệt có thể là hội chứng ruột kích thích.[2]
Các biện pháp phòng ngừa bao gồm thay đổi các yếu tố nguy cơ như béo phì, thiếu vận động và hút thuốc.[2] Ở những người bị bệnh túi thừa, Mesalazine và rifaximin có thể giúp phòng ngừa các cơn viêm.[2] Việc tránh ăn hạt hoặc các loại hạt nhỏ hiện nay không còn được khuyến cáo vì chưa có bằng chứng cho thấy chúng đóng vai trò khởi phát viêm túi thừa.[1][5] Đối với viêm túi thừa nhẹ, dùng kháng sinh đường uống và chế độ ăn lỏng thường được khuyến khích,[1] tuy nhiên những biện pháp này có thể không ảnh hưởng đến kết quả điều trị.[6] Đối với các trường hợp nặng, có thể khuyến cáo sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch, nhập viện và cho ruột nghỉ ngơi hoàn toàn.[1] Men vi sinh (probiotic) hiện chưa có bằng chứng rõ ràng về hiệu quả.[2] Các biến chứng như áp xe, lỗ rò và thủng đại tràng có thể cần phẫu thuật.[1]
Bệnh này phổ biến ở các nước phương Tây và hiếm gặp ở châu Phi và châu Á.[1] Ở phương Tây, khoảng 35% người có túi thừa trong khi tại vùng nông thôn châu Phi, tỷ lệ này chỉ dưới 1%,[4] và từ 4-15% số người có túi thừa sẽ phát triển thành viêm túi thừa.[3] Ở Bắc Mỹ và Châu Âu, đau bụng thường ở hố chậu trái (đại tràng sigma), trong khi ở Châu Á, đau thường ở bên phải (đại tràng lên).[2][7] Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi, đặc biệt phổ biến ở người trên 50 tuổi.[1] Tần suất bệnh cũng đang tăng lên trên toàn thế giới.[2] Năm 2003 tại Châu Âu, bệnh đã dẫn đến khoảng 13.000 ca tử vong.[2] Đây là bệnh lý giải phẫu thường gặp nhất của đại tràng.[2] Tại Hoa Kỳ, chi phí liên quan đến bệnh túi thừa ước tính khoảng 2,4 tỷ đô la Mỹ mỗi năm vào năm 2013.[2]
Tài liệu tham khảo
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u "Diverticular Disease". www.niddk.nih.gov. tháng 9 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2016.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p Tursi, A (tháng 3 năm 2016). "Diverticulosis today: unfashionable and still under-researched". Therapeutic Advances in Gastroenterology. 9 (2): 213–28. doi:10.1177/1756283x15621228. PMC 4749857. PMID 26929783.
- ^ a b Pemberton, John H (ngày 16 tháng 6 năm 2016). "Colonic diverticulosis and diverticular disease: Epidemiology, risk factors, and pathogenesis". UpToDate. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2017.
- ^ a b Mandell, Douglas, and Bennett's Principles and Practice of Infectious Diseases. Churchill Livingstone. 2014. tr. 986. ISBN 9781455748013. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2016.
- ^ Young-Fadok, TM (tháng 10 năm 2018). "Diverticulitis". New England Journal of Medicine. 379 (17): 1635–42. doi:10.1056/NEJMcp1800468. PMID 30354951.
- ^ Kolber, Michael. "#370 Antibiotics or no antibiotics for acute diverticulitis, that is the question! – CFPCLearn". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2024.
- ^ Feldman, Mark (2010). Sleisenger & Fordtran's Gastrointestinal and liver disease pathophysiology, diagnosis, management (ấn bản thứ 9). [S.l.]: MD Consult. tr. 2084. ISBN 9781437727678. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2016.