Viện Kurchatov (tiếng Nga: Национальный исследовательский центр «Курчатовский Институт», tiếng Anh: National Research Centre "Kurchatov Institute") là Viện nghiên cứu hàng đầu của Nga trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Viện được đặt theo tên Viện sĩ Igor Kurchatov và nằm ở số 1 quảng trường Kurchatov, Moskva.

Viện Kurchatov
Kurchatov2.jpg
Thành lập February 11, 1943
Lĩnh vực nghiên cứu
  • Năng lượng hạt nhân và y học hạt nhân
  • Plasma
  • Vật lý máy gia tốc[1]
Giám đốc Alexander Blagov
Mikhail Kovalchuk
Vị trí Moskva, tỉnh Moskva, Nga
Địa chỉ Số 1 quảng trường Kurchatov
Collaborations
Website kcsni.nrcki.ru/en.shtml
Kurchatov Institute logo.svg

Tại Liên Xô, viện này được biết đến với tên gọi Viện Năng lượng Nguyên tử I. V. Kurchatov (tiếng Nga: Институт Атомной Энергии им. И.В. Курчатова), viết tắt là KIAE (tiếng Nga: КИАЭ).

Trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2010, viện mang tên Trung tâm Khoa học Nga “Viện Kurchatov” (tiếng Nga: Российский научный центр «Курчатовский Институт»), trước khi được đổi tên thành Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia “Viện Kurchatov” như hiện nay.

Lịch sử

Tập tin:RIAN archive 723980 Kurchatov Institute for nuclear energy.jpg
Viện Năng lượng Nguyên tử Kurchatov, cùng đội ngũ nhân sự của một dự án từ trường năm 1974.
Tập tin:RIAN archive 502968 At Kurchatov Institute of Atomic Energy.jpg
Một bệ thử nghiệm các hệ thống từ tại Kurchatov Institute, được chụp vào năm 1986.
Tập tin:RUSMARKA-2336.jpg
Tem bưu chính năm 2018 do Nga phát hành nhân dịp kỷ niệm 75 năm thành lập Viện Kurchatov.
Tập tin:T-15MD Toroidal winding and poloidal field coils.jpg
Hình ảnh tokamak T-15MD tokamak đang trong quá trình xây dựng.

Trước năm 1955, viện này được biết đến dưới tên bí mật “Phòng thí nghiệm số 2 của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Viện Kurchatov được thành lập vào năm 1943 với mục đích ban đầu là phát triển vũ khí hạt nhân. Phần lớn các lò phản ứng hạt nhân của Liên Xô đã được thiết kế tại đây, bao gồm lò F-1 đặt ngay trong khuôn viên viện, vốn là lò phản ứng hạt nhân đầu tiên ngoài Bắc Mỹ đạt tới trạng thái tới hạn.

Từ năm 1955, viện cũng trở thành trung tâm cho các công trình thực nghiệm khoa học lớn trong các lĩnh vực nhiệt hạch và vật lý plasma. Đặc biệt, các hệ thống tokamak đầu tiên đã được phát triển tại đây, trong đó thành công nhất là T-3 và phiên bản lớn hơn của nó là T-4. T-4 được thử nghiệm vào năm 1968 tại Novosibirsk, nơi đã thực hiện phản ứng nhiệt hạch gần như ổn định đầu tiên trong lịch sử.[2]

Trong thập niên 1980, các nhân viên của Viện Kurchatov cùng các kỹ sư máy tính đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành văn hóa máy tính tại Liên Xô thông qua việc tham gia phát triển hệ điều hành DEMOS. Điều này góp phần thúc đẩy sự lan rộng của Internet tại Nga và gián tiếp ảnh hưởng đến sự tan rã của Liên Xô.[3]

Cho đến năm 1991, Bộ Năng lượng Nguyên tử quản lý hoạt động của viện. Sau khi được chuyển đổi thành Trung tâm Khoa học Nhà nước vào tháng 11 năm 1991, viện trực thuộc trực tiếp chính phủ Nga. Theo điều lệ của viện, giám đốc được Thủ tướng bổ nhiệm dựa trên đề xuất từ Rosatom. Vào tháng 2 năm 2005, Mikhail Kovalchuk được bổ nhiệm làm giám đốc viện; từ năm 2015 ông giữ chức chủ tịch viện, trong khi vị trí giám đốc lần lượt do V. Ilgisonis, D. Minkin và (từ tháng 11 năm 2018) Alexander Blagov đảm nhiệm.

Tháng 2 năm 2007, Viện Kurchatov đã giành được gói thầu để trở thành tổ chức chủ chốt điều phối các nỗ lực phát triển công nghệ nano tại Nga.

Viện Kurchatov cũng chịu trách nhiệm điều phối sự tham gia của Nga trong các dự án khoa học quy mô lớn mang tính quốc tế, bao gồm cơ sở nghiên cứu laser tia X European XFEL tại Hamburg và cơ sở nghiên cứu phản proton và ion Facility for Antiproton and Ion Research tại Darmstadt, đều thuộc Đức. Ngoài ra, viện còn tham gia dự án lò phản ứng nhiệt hạch quốc tế ITER tại Cadarache và cơ sở bức xạ synchrotron châu Âu (European Synchrotron Radiation Facility) tại Grenoble, đều thuộc Pháp, cũng như trung tâm nghiên cứu vật lý hạt CERN đặt tại Pháp và Thụy Sĩ.

Ngay sau khi bắt đầu Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga năm 2022, viện đã đưa ra một tuyên bố ủng hộ chiến dịch này, cho rằng quốc gia láng giềng đã bị biến thành “một bàn đạp tân phát xít, chủ yếu do nỗ lực của các đối tác phương Tây”, và rằng cuộc xâm lược là chính đáng vì nhằm “ngăn chặn mối đe dọa về một cuộc tấn công trực tiếp vào đất nước chúng ta từ lãnh thổ đó”.[4][5]

Lịch sử các lò phản ứng tokamak tại Viện [6]
Tokamak Năm Bán kính lớn của hình xuyến (m) Bán kính nhỏ của cột plasma (m) Từ trường xuyến (T) Dòng điện plasma dọc (MA) Notes
R a Bt I
TMF 1955 0,8 0,13 1,5 0,26 Thí nghiệm tokamak đầu tiên
T-1 1958 0,62 0,13 1 0,04 Tokamak đầu tiên dùng buồng kim loại hoàn toàn, vượt hệ số an toàn 1
T-2 ? ~0,62 ~0,13 ~1 ~0,04
T-3 1960 1 0,06 4 0,06
T-5 1961 0,625 0,2 1,2 0,045
TM-2 1962 0,4 0,08 2,2 0,02
TM-3 1966 0,4 0,08 2,5 0,1 Thí nghiệm gia nhiệt cộng hưởng cyclotron electron đầu tiên (1972)
T-3A 1967 1 0,15 3,8 0,14 Tokamak đầu tiên tạo phản ứng nhiệt hạch (1969)
T-6 1970 0,7 0,25 1,5 0,27
T-4 1971 0,9 0,16 5 0,25 Tokamak đầu tiên dùng limiter carbon
TO-1 1972 0,6 0,13 1,5 0,07
T-8 1973 0,28 0,05 0,9 0,024 Tokamak đầu tiên dùng buồng dạng chữ D
T-9 1973 0,36 0,07 1 0,04
T-11 1976
T-10 1975 1,5 0,39 4 0,6
TO-2 1976
TMG 1976 0,4 0,078 3,2 0,082 Tokamak đầu tiên có thành trong bằng graphite
T-7 1979 1,2 0,3 3 0,3 Tokamak đầu tiên dùng nam châm siêu dẫn
T-15 1988 2,4 0,7 3,6 1
T-15MD 2021 1,48 0,67 2 2 Hỗ trợ ITER, phục vụ nghiên cứu hybrid phân hạch

Các dự án quốc tế

Viện Kurchatov đã tham gia các dự án hợp tác quốc tế:

Lò phản ứng

Các lò phản ứng do Viện phát triển:

Phản ứng phân hạch

Phản ứng hợp hạch

Tham khảo

  1. ^ NRCKI Official website [liên kết hỏng]
  2. ^ Bản mẫu:GSEn
  3. ^ "Вышла биография основателя Рунета Антона Носика. Беседуем с автором книги". Российская газета. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2023.
  4. ^ "International Megaprojects" (bằng tiếng Anh). Kurchatov Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2022.
  5. ^ "Учёным России" (bằng tiếng Nga). Kurchatov Institute. ngày 4 tháng 3 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2022.
  6. ^ Azizov, E A (ngày 28 tháng 2 năm 2012). "Tokamaks: from A D Sakharov to the present (the 60-year history of tokamaks)". Physics-Uspekhi. 55 (2): 190–203. doi:10.3367/UFNe.0182.201202j.0202. ISSN 1063-7869. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.

Liên kết ngoài