Bản mẫu:Infobox

Won (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.) (Ký hiệu: ₩; code: KRW) là đơn vị tiền tệ của Đại Hàn Dân Quốc. Một Won được chia thành 100 jeon. Jeon không còn được dùng để giao dịch hằng ngày nữa và chỉ xuất hiện trong tỷ giá hối đoái. Won được ban hành bởi Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, có trụ sở tại thành phố thủ đô Seoul. Tiền tệ chính thức của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên được ban hành bởi Ngân hàng Trung ương của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có trụ sở tại thủ đô Pyongyang, được gọi là Won Triều Tiên.

Nguồn gốc

"Won" cũ là từ có cùng gốc với Yuan Trung QuốcYên Nhật. Nó có nguồn gốc từ Hanja Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”. (Hangul: 원, Hán-Việt: Viên), nó là một từ cùng gốc với ký tự Trung Quốc 圓 (yuan) có nghĩa là "hình tròn." Một Won được chia thành 100 "jeon" (Bản mẫu:Ko-hhrm, Hán-Việt: tiền), nó là một từ cùng gốc với ký tự Trung Quốc 錢 (qian) có nghĩa là "tiền tệ" và cũng được sử dụng như một đơn vị tiền tệ cổ.

Won Hàn Quốc đầu tiên

Trong suốt thời kỳ Triều Tiên thuộc Nhật, won được thay thế bằng yên, tạo thành Yên Hàn Quốc.

Vào năm 1945 sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Triều Tiên bị chia cắt, kết quả là chia thành hai loại tiền tệ, đều gọi là won cho cả Nam và Bắc. Cả Won Nam và Won Bắc thay thế tiền yên. Won Hàn Quốc đầu tiên được chia thành 100 joen.

Won Hàn Quốc ban đầu được ấn định với Đô la Mỹ với tỷ giá 15Won = 1 Đô la. Một loạt đợt mất giá tiếp theo, những đợt cuối cùng là do Chiến tranh Triều Tiên. Các đợt như sau:

Cột mốc tiền Won Hàn Quốc đầu tiên
Ngày Giá trị của Đô la Mỹ với Won
Tháng 10, 1945 15
15 tháng 7 năm 1947 50
1 tháng 10 năm 1948 450
14 tháng 6 năm 1949 900 (giao dịch phi chính phủ)
1 tháng 5 năm 1950 1800
1 tháng 11 năm 1950 2500
1 tháng 4 năm 1951 6000

Tiền giấy

Vào năm 1946, Ngân hàng Joseon giới thiệu tiền giấy 10 và 100 won. Tiếp theo đó là vào năm 1949, tiền giấy 5 và 1000 won.

Một ngân hàng trung ương mới, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, được thành lập vào 12 tháng 6 năm 1950,[1] và giả định các nhiệm vụ của Ngân hàng Joseon. Tiền giấy được giới thiệu (1949) mệnh giá 5, 10 và 50 Jeon, 100 Won và 1000 Won. Tiền giấy 500 Won được giới thiệu vào 1952. Vào năm 1953, một loạt tiền giấy được ban hành, đồng thời tiền Won Hàn Quốc đầu tiên được thay thế bởi tiền Hwan vào 15 tháng 2 năm 1953. Từ 9 tháng 6 năm 1962, Won là đơn vị tiền tệ của Đại Hàn Dân Quốc được sử dụng chính thức.

Năm 2016, ngân hàng Trung ương Hàn Quốc thông báo ngừng lưu hành tiền giấy dưới 1000 Won

Các mệnh giá đang áp dụng trong lưu thông:

  • 1 Won: tiền kim loại bằng nhôm, màu trắng.
  • 5 Won: tiền kim loại bằng hợp kim đồng và kẽm, màu vàng.
  • 10 Won: tiền kim loại bằng hộp kim đồng và kẽm màu vàng hoặc hợp kim đồng và nhôm màu hồng.
  • 50 Won: tiền kim loại bằng hợp kim đồng, nhôm và nickel, màu trắng.
  • 100 Won: tiền kim loại bằng hợp kim đồng và nickel, màu trắng.
  • 500 Won: tiền kim loại bằng hợp kim đồng và nickel, màu trắng.
  • 1000 Won: tiền giấy, màu xanh da trời.
  • 5000 Won: tiền giấy, màu đỏ và vàng.
  • 10000 Won: tiền giấy, màu xanh lá cây.
  • 50000 Won: tiền giấy,màu cam.

Tỷ giá hối đoái hiện tại

Bản mẫu:Tỷ giá hối đoái

 
tỷ giá Won Hàn Quốc sang đô la Mỹ
 
tỷ giá Won Hàn Quốc sang euro

Bản mẫu:Bảng Unicode Ký hiệu tiền tệ

Tham khảo

Bản mẫu:Thể loại Commons-inline

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Article stub box”.

Bản mẫu:Navbox Bản mẫu:Side box