Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Bản mẫu:Tên người Triều Tiên/Họ.

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”.

Yoo Seung-ho (sinh ngày 17 tháng 8 năm 1993) là một nam diễn viên người Hàn Quốc. Anh từng là diễn viên nhí nổi tiếng trong Đường về nhà (2002), Heart is (2006), The Legend (2007)... Một số tác phẩm tiêu biểu của Yoo Seung-ho có thể kể đến Nữ hoàng Seon Deok (2009), Cao thủ học đường (2010), Nhớ em (2012)...

Tiểu sử

Yoo Seung-ho sinh ngày 17 tháng 8 năm 1993 trong một gia đình nghèo ở Jakjeon-dong, quận Gyeyang, Incheon, Hàn Quốc. Anh sống cùng cha mẹ và chị gái.[1][2]

Sau khi tốt nghiệp trường Trung học Baekshin, anh đã từ bỏ con đường vào Đại học dù nhận được lời mời từ nhiều trường danh tiếng để tập trung diễn xuất và không muốn giành lấy cơ hội của các sinh viên khác. Anh cho biết, "Tôi sẽ không hối tiếc. Tôi tham dự thi bởi vì tôi cần thành tích học tập. Nhà trường cần tôi bởi vì họ cần những người nổi tiếng, mối quan hệ này không có ý nghĩa".[3]

Sau vai diễn mang tính đột phá trong phim Nhớ em (2012), anh nhập ngũ vào năm 19 tuổi.[4]

Sự nghiệp

1999-2012: Trước khi tham gia nghĩa vụ quân sự

Yoo Seung-ho đóng quảng cáo đầu tiên vào năm 1999. Anh ra mắt với vai trò diễn viên nhí vào năm 2000 trong phim Daddy Fish. Cậu gây tiếng vang lớn với phim điện ảnh đầu tiên Đường về nhà (2002) với vai diễn cậu bé thành phố kiêu căng phải về quê sống với người bà bị câm điếc. Trước đó, đoàn làm phim đã rất khó khăn trong việc tìm kiếm diễn viên có thể vào vai cậu bé Sang-woo. Đạo diễn đã lựa chọn Yoo Seung-ho vì ánh mắt biểu cảm trong những bức ảnh. Bộ phim thành công vang dội và bán được hơn 4 triệu vé vào thời điểm đó.[5]

Sau đó, Yoo Seung-ho tiếp tục thử sức trong những bộ phim như: Happy Ero Christmas (2003); Don't Tell Papa (2004); Heart is... (2006); Do you see Seoul? (2008);... Mỗi vai diễn đều để lại ấn tượng, người xem đều công nhận khả năng diễn xuất của Yoo Seung-ho.[6] Đặc biệt với Heart is..., bộ phim cảm động về hai anh em và chú chó trung thành, Seung-ho gây chấn động vì sự vụt lớn của mình.[7]

Đến với phim truyền hình trễ hơn, Yoo Seung-ho đóng một vài vai lúc nhỏ của nhân vật chính như Sad Love Story (vai của Kwon Sang-woo lúc nhỏ), tiểu thái tử Dam Doek trong The Legend (2007).[8]

Năm 2009, anh đóng vai chính phim điện ảnh City of Fathers. Tiếp đó là Tiết 4 kinh hoàng, anh và Kang So Ra vào vai hai học sinh bị truy đuổi bởi kẻ sát nhân trong lớp học. Anh cũng xuất hiện từ tập 34 của Nữ hoàng Soen Doek, bộ phim sử thi được đánh giá cao nhất năm 2009, trong vai hoàng tử Kim Chun Chu. Với vai diễn trưởng thành đầu tiên ở phim truyền hình, Yoo Seung-ho gây bất ngờ lớn khi có thể trở thành một trang công tử lọc lõi, thông minh, giúp các đạo diễn nhận ra anh thực sự là "của hiếm" vì có thể đảm nhiệm nhiều dạng vai, cả lãng mạn lẫn ngoan hiền, chân chất và hơn thế là mưu mô, lạnh nhạt đến đau lòng.

Ở tuổi thiếu niên của mình anh được giao vai chính trong bộ phim học đường Cao thủ học đường. Phim được chuyển thể từ bộ truyện tranh nổi tiếng "Dragon Sakura" của nhà văn Mita Norifusa, xoay quanh cuộc sống của những học sinh hư hỏng bị buộc học tại lớp học đặc biệt.[9] Bộ phim gây sốt giới trẻ Hàn Quốc ngay khi vừa lên sóng.[10] Trước đó, anh đã tham gia MV Lies của nhóm T-ara vai anh chàng hotboy đào hoa.[11]

Sau đó, Yoo Seung-ho tham gia bộ phim Flames of Desire đảm nhiệm vai diễn con trai của một gia đình giàu có – Kim Min Jae. Khi tham gia phim này, Yoo Seung-ho mới 17 tuổi.[12] Cuối năm đó, anh tham gia từ thiện ở Sri Lanka và song ca bài "Believe in Love" cùng với ca sĩ IU, lời bài hát dựa trên cuốn nhật ký Yoo đã viết về các trẻ em mồ côi khi tham gia hoạt động này[13]

Năm 2011, anh vào vai sát thủ Yeo Woon trong phim Warrior Beak Dong Soo.[14] Trong thời gian quay phim, anh bị tai nạn trên đường cao tốc khi tới trường quay. Sau đó anh tiếp tục tham gia phim điện ảnh kinh dị Blind cùng với Kim Ha Neul, phim khá thành công và đạt nhiều giải thưởng.[15]

Năm 2012, Seung Ho đóng phim Operation Proposal, về một cầu thủ bóng chày quay về quá khứ để có được trái tim cô bạn gái thời thơ ấu.[16] Tiếp đó anh vào vai diễn khách mời "Arang And The Magistrate", gây ấn tượng cho người xem khi trở thành vị Thượng đế trẻ trung và phong cách nhất lịch sử.[17] Ngay sau đó, anh để lại một dấu ấn đáng nể, rũ bỏ hình tượng nhí với diễn xuất xuất thần trong bộ phim truyền hình I Miss You ở độ tuổi 19.[18] Seung Ho thể hiện vai Harry Borrison, một doanh nhân giàu có, trẻ trung, đẹp trai. Tuy nhiên, đằng sau vẻ ngoài không tì vết lại là một trái tim lạnh lùng đầy toan tính với sự thù hận sâu sắc.

2012-2014: Tự nguyện tham gia nghĩa vụ quân sự

Trước khi nhập ngũ anh tham gia dự án cuối cùng là lồng tiếng phim tài liệu Studying Humans(KBS) và tặng hết tiền nhuận bút của mình.

Yoo Seung-ho đã bí mật tham gia nghĩa vụ quân sự như một người lính bình thường mà không có sự xuất hiện của fan vào ngày 5/3/2013.[19] Anh chỉ để lại lời nhắn trên fan cafe "Talk To You" của mình. Lá thư để lại cho fan, anh viết "Khi các bạn đọc được bức thư này thì tôi đã trong quân đội rồi. Tôi rất xin lỗi vì không cho các fan biết khi nào tôi sẽ nhập ngũ, nhưng tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu đi mà không thông báo vì còn có những người khác nhập ngũ cùng tôi. Tôi có nghe nói tôi còn quá trẻ để đi nghĩa vụ; tuy nhiên, đây là nghĩa vụ không thể trốn tránh và tôi thực sự cần nó vì tôi muốn thoát khỏi cuộc sống áp lực khi làm diễn viên một thời gian"

Yoo nhận được nhiều sự khen ngợi và yêu mến vì tự nguyện nhập ngũ vào đúng độ tuổi 19 của mình. Anh hoạt động trong quân đội với vai trò trợ giáo tân binh mảng súng cá nhân sau khi đạt thành tích 16/250 học viên trong trại.[20]

2014- nay: Comeback

Yoo Seung-ho chính thức xuất ngũ vào ngày 4/12/2014[21] và liên tục góp mặt trong 2 dự án phim truyền hình, 2 dự án phim điện ảnh được trình chiếu chỉ trong vòng hơn nửa năm từ cuối năm 2015 đến giữa năm 2016.

Ngay trong ngày xuất ngũ, anh xác nhận sự trở lại của mình với dự án điện ảnh cổ trang "Joseon Magician" (ra mắt vào ngày 30/12/2015) cùng với Go Ara.[22] Trong phim, anh hóa thân vào ảo thuật gia Hwan Hee tài năng nhưng phải chịu sự kỳ thị của người đời vì sự khác biệt và bản thân chỉ là một kẻ thấp hèn, làm trò để mua vui cho thiên hạ. Hwan Hee còn trải qua mối tình đẹp tựa như ảo thuật nhưng đầy hiểm nguy với công chúa Cheong Myung (Go Ara).

Sau khi vừa hoàn thành bộ phim "Joseon Magician", Yoo Seung-ho tiếp tục thử thách bản thân với vai diễn Kim Seon Dal (Kim In Hong) - kẻ lừa đảo có tiếng trong lịch sử Hàn Quốc chuyên cướp của người giàu chia cho người nghèo trong bộ phim điện ảnh cổ trang hài "Seondal: The Man Who Sells The River". Ra mắt vào tháng 7 năm 2016, bộ phim thu hút được hơn 2 triệu lượt xem tại Hàn Quốc.

Yoo Seung-ho tiếp tục đảm nhận vai diễn Hyun Jong Hyun trong bộ phim Imaginary Cat (Đây là bộ phim đầu tiên về loài mèo ở Hàn Quốc. Một con người và 1 chú mèo có chung cảnh ngộ) được chuyển thể từ truyện tranh ngày lên sóng vào ngày 24 tháng 11 năm 2015.

Tháng 12, năm 2015, Yoo tham gia vào bộ phim truyền hình luật pháp, kinh dị Remember: War of the Son với vai diễn Seo Jin Woo - một luật sư mắc hội chứng hyperthymesia, phải chạy đua với thời gian để cứu cho bố anh khỏi tội tử hình.

Đến nay, Yoo Seung-ho vẫn tiếp tục con đường diễn xuất mà mình đã chọn cùng với những vai diễn đầy biến hoá, nội tâm phức tạp và tinh tế, mang phong cách rất riêng của anh.

Ngoài ra, anh đóng vai chính trong các MV "You From The Same Time" của Naul chính thức phát hành ngày 5/2/2015 [23] và "I Don't Love You" của nhóm nhạc Urban Zakapa, phát hành ngày 26/5/2016.

Phim tham gia

Điện ảnh

Năm Tên phim Vai Đóng cùng
2002 Đường về nhà Sang-woo Kim Eul-boon
2003 Happy Ero Christmas Đứa bé trong đội ca
2004 Don't Tell Papa Kim Cho-won
2006 Heart is... Chani Kim Hyang-gi
2008 Unforgettable Gil-su Kim Yoo Jung
2009 Astro Boy Astro Boy (lồng tiếng Hàn)[24]
Fourth Period Murder Mystery Han Jung-hoon Kang So Ra
City of Fathers Kim Jong-chul Kim Young-ho
2011 Leafie, A Hen into the Wild Greenie (lồng tiếng)
Blind Kwon Gi-seob Kim Ha Neul
2012 Fragments of Sweet Memories (phim 3D ngắn)[25][26]
2015 Joseon Magician Pháp sư Hwan-Hee Go Ara
2016 Kim Seon Dal Kim In Hong (Kim Seon Dal) Xiumin

Truyền hình

Năm Tên phim Vai Kênh Đóng cùng
2000 Daddy Fish Jung Da-um MBC Jung Bo Suk
2001 MBC Best Theater "Boys Don't Cry" Doo-san
MBC Best Theater "It Happened in the Parking Lot"
2003 MBC Best Theater "All That Ramen" Joon-young
MBC Best Theater "Winter Bird's Dream" Joon-ho
Love Letter Lee Woo-jin lúc nhỏ
2004 MBC Best Theater "Hi, Clementine" Se-beom
Sweet Buns Lee Shin-hyuk lúc nhỏ
Immortal Admiral Yi Sun-sin Yi Sun-sin lúc nhỏ KBS1
Precious Family Park Joon-yi KBS2
2005 Magic Warriors Mir & Gaon Mir KBS2 Lee Min Ho (1993)
Sad Love Story Seo Joon-young lúc nhỏ MBC Kwon Sang Woo
2006 Alien Sam Wang Hae-ryong Tooniverse Jang Geun Suk
2007 The King and I Seongjong lúc nhỏ SBS
The Legend Damdeok lúc nhỏ MBC Bae Jong Jun
2009 Nữ hoàng Seon Deok Kim Chunchu MBC Lee Yo Won, Kim Nam Gil
You're Beautiful Khách mời tập 9 SBS
2010 Cao thủ học đường Hwang Baek-hyun KBS2 Park Ji-yeon (T-ara), Lee Hyun Woo
Flames of Desire Kim Min-jae MBC
2011 Warrior Baek Dong Soo  Yeo Woon SBS Ji Chang-wook
2012 Arang And The Magistrate Ngọc hoàng Jade (khách mời) MBC Lee Jun Ki
Operation Proposal Kang Baek-ho TV Chosun Park Eun-bin
Nhớ em Kang Hyung Joon / Harry Borrison MBC Park Yoo-chun, Yoon Eun Hye
2013 Studying Humans Người dẫn truyện[27] KBS1
2015 Imaginary Cat Hyun Jong-hyun MBC Every 1
Remember - Kí ức Seo Jin Woo SBS Park Min-young
2017 Mặt nạ quân chủ Lee Seon MBC Kim So Hyun
2017 Tôi không phải robot Kim Min Gyu MBC Chae Soo-bin
2018 The Player (ep1) OCN Song Seung Hun
My Strange Hero Bok Soo SBS Jo Bo Ah
2020 Memorist - Hồi ức Dong Baek tvN Lee Se Young
2021 Hoa nở nhớ trăng Nam Young KBS2 Lee Hye-ri

Music Video

Năm Bài hát Ca sĩ
2001 Sorry / 미안해 Kim Jang Hoon
2002 I Am Tears / 눈물이 나 Sonia
Picture / 사진 Dragon Fly
Have You Been Hurt Because Of Love / 사랑에 아파본 적 있나요 Lyn
Second Wish / 두 번째 소원 Duke
2004 Thank You / 고마웠다고 Tim
2008 Don't Go Don't Go Brown Eyes
Lonely Life So Ji Sub
2009 Lies(part 1) T-Ara
Take Care of He Jo Sung Mo
2010 Like a Star Taeyeon và The One
Not A Boy Yet Fin
2011 Whenever You Play That Song Huh Gak ft. EXID
Believe in Love IU
2013 6pm...Ground So Ji Sub
2015 You From The Same Time Naul
I dont love you Urban Zakapa
2018 술래 Rothy (로시)

Quảng cáo

Năm Sản phẩm Ghi chú
1999 N016 Cellphone
Choco Pie
2000 Paparino
Think Big (2000-2002)
2001 I-Book Land / 아이북랜드
EVERLAND
2002 Ung Jin Ssing Kuh Bik / 웅진씽크빅
Wheat Noodles / 햇국수
Afkilla Plus / 에프킬라 플러스
2005 WILO LG
2006-2007 MARU-I Kids / 마루아이 cùng Sulli
2009 ChocoHeim (2009-2010)
Korea Yakult Super 100
Mr.Pizza cùng Park Bo Young
Etude AC clinic
LG Telecom, OZ
MARU(2009-2010) cùng Hwang Seung Eon
Bean Pole Outdoor
2010 iRiver E-Dictionary
Winia Mando Dimchae cùng So Ji Sub
AdidasNEO Label cùng Rain
Good Downloader
2011 customellow
2012 G by GUESS (U.S.A.) cùng IU
SKY VEGA S5
cùng BoA
ADIDAS -"play the winter"(Alemania cùng Son Heung Min và 2NE1
2013 U&B Cosmetics
2014 Quảng cáo cho quân đội (2013-2014)
2015 Nongshim's Sumi Potato Chip
Lotte Department Store cùng Park Shin Hye
Petitzel Dessert and Drinks
2017 Adidas
2017-2018 NH Nonghyup Card

Giải thưởng và đề cử

Năm Giải thưởng Thể loại Đề cử Kết quả Tham khảo
2002 24th Young Artist Awards Diễn viên trẻ xuất sắc tại liên hoan phim quốc tế The Way Home Đoạt giải
2005 KBS Drama Awards Diễn viên trẻ xuất sắc Immortal Admiral Yi Sun-sin, Precious Family Đoạt giải [28]
2007 Giải ngôi sao phim hàng đầu Hàn Quốc Heart Is... Đoạt giải
SBS Drama Awards The King and I Đoạt giải
2008 Mnet 20's Choice Awards lần 2 Diễn viên trẻ nổi bật Bản mẫu:NA Đoạt giải
2009 4th Andre Kim Best Star Awards Giải ngôi sao nam Bản mẫu:NA Đoạt giải [29]
MBC Drama Awards 2009 Diễn viên mới xuất sắc Thiện Đức nữ vương Đoạt giải [30]
2010 46th Baeksang Arts Awards Diễn viên mới xuất sắc (TV) Cao thủ học đường Đề cử
26th Korea Best Dressed Swan Awards Giải trang phục, diễn viên truyền hình xuất sắc Đoạt giải
KBS Drama Awards 2010 Cặp đôi xuất sắc với Park Ji-yeon Đề cử
Giải diễn viên do cộng đồng mạng bình chọn Đề cử
Giải xuất sắc cho diễn viên phim bộ ngắn Đề cử
2012 MBC Drama Awards 2012 Arang and the Magistrate, Missing You Đề cử
2013 New Soldiers Education Unit Giải thưởng xuất sắc nhất từ Tư lệnh Tiểu đoàn Bản mẫu:NA Đoạt giải
2016 9th Korea Drama Awards Diễn viên xuất sắc, giải thưởng xuất sắc nhất Remember: War of the Son Đề cử
SBS Drama Awards 2016 Giải xuất sắc, nam diễn viên Đoạt giải
K-Wave Star Award Đề cử
2017 MBC Drama Awards Giải xuất sắc cho diễn viên phim bộ ngắn Mặt nạ quân chủ Đoạt giải

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:YG Entertainment