Bước tới nội dung

Suriname

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phiên bản vào lúc 14:24, ngày 10 tháng 6 năm 2026 của imported>InternetArchiveBot (Đã cứu 2 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5)
(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Bản mẫu:Infobox country

Suriname, quốc hiệu là Cộng hòa Suriname (tiếng Hà Lan: Republiek Suriname) là một quốc gia tại Nam Mỹ. Suriname toạ lạc giữa Guyane thuộc Pháp về phía đông và Guyana về phía tây. Biên giới phía nam chung với Brasil còn ranh giới phía bắc là bờ biển Đại Tây Dương. Biên giới cực nam với Guiana thuộc Pháp đang bị tranh chấp nằm dọc theo các sông MarowijneCorantijn. Suriname là quốc gia có chủ quyền nhỏ nhất về diện tích ở Nam Mỹ. Đây là khu vực nói tiếng Hà Lan duy nhất ở Tây Bán Cầu không thuộc Vương quốc Hà Lan. Suriname cực kỳ đa dạng về chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo. Diện tích quốc gia này gần 165.000 km². Quốc gia này có một phần tư dân số sống dưới 2 đô la Mỹ mỗi ngày.[1]

Tên gọi

Tên nước lấy tên sông Suriname, cũng có thể là tên của một bộ lạc ven bờ biển Caribe, không rõ ý nghĩa. Suriname nguyên là nơi cư trú của Thổ dân châu Mỹ. Năm 1593, là thuộc địa của Tây Ban Nha. Năm 1816, lại rơi vào sự thống trị của thực dân Hà Lan, gọi là "Guyana thuộc Hà Lan". Năm 1948, đổi tên là "Surina". Năm 1954, thực hiện chế độ tự trị. Ngày 25 tháng 11 năm 1975, tuyên bố độc lập, thành lập "Cộng hòa Suriname".

Lịch sử

Surimane được Cristoforo Colombo phát hiện năm 1499. Vùng lãnh thổ này trở thành thuộc địa của Anh từ năm 1650, được nhượng lại cho Hà Lan năm 1667 để phát triển các đồn điền mía, bị Anh xâm chiếm từ năm 1796. Việc bãi bỏ chế độ nô lệ (1863) đã dẫn đến các đợt nhập cư từ Ấn ĐộIndonesia sang. Năm 1948, lãnh thổ này trở thành vùng Guyana thuộc Hà Lan, được đặt tên là Suriname. Hiến pháp năm 1954 mang lại cho vùng này quyền tự trị rộng rãi hơn. Suriname giành được độc lập năm 1975.

Cuộc đảo chính quân sự năm 1980 đưa Đại tá Desi Bouterse lên cầm quyền. Từ năm 1982, phong trào kháng chiến du kích phát triển ở miền Nam và miền Đông, buộc giới quân nhân chấp nhận tiến trình dân chủ hóa. Năm 1988, Ramsewak Shankar được bầu làm Tổng thống, trong khi Desi Bouterse vẫn cầm quyền kiểm soát quân đội. Năm 1990, giới quân nhân trở lại cầm quyền. Năm 1991, Ronald Venetiaan, ứng cử viên thuộc liên minh đối lập với quân đội đắc cử Tổng thống. Năm 1992, một hiệp định hòa bình được ký kết giữa Chính phủ và quân du kích.

Sau khi chấm dứt cuộc nội chiến, Suriname ra sức tái thiết kinh tế đất nước. Năm 1997, Jules Wijdenbosch, được sự hậu thuẫn của Bourterse, đắc cử Tổng thống. Năm 1999, một tòa án Hà Lan kết án tù vắng mặt đối với Desi Bouterse vì tội buôn lậu ma túy. Năm 2000, Ronald Venetiaan trở lại cầm quyền và ra sức tái thiết kinh tế với sự giúp đỡ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Hà Lan.

Địa lý

Suriname nằm ở khu vực Nam Mỹ, Bắc giáp Đại Tây Dương, Nam giáp Brasil, Đông giáp lãnh thổ Guyane thuộc Pháp, Tây giáp Guyana. Phần lãnh thổ phía nam trải rộng trên vùng núi và cao nguyên Guyana, bao phủ bởi các khu rừng rậm xích đạo, thoải dần về phía bắc là vùng đồng bằng đầm lầy ven biển.

Khí hậu

Tập tin:Suriname-CIA WFB Map.png
Bản đồ Suriname.

Chính trị

Tập tin:Presidential palace, Paramaribo, Suriname.jpg
Phủ Tổng thống ở thủ đô Paramaribo.
Tập tin:Paramaribo, Hof van Justitie (Court of Justice).jpg
Tòa án Tối cao Suriname.

Suriname là một nước cộng hòa với hình thức chính phủ không phụ thuộc nghị viện.[2] Hiến pháp hiện hành được ban hành vào năm 1987. Quốc hội là cơ quan lập pháp đơn viện, gồm 51 nghị sĩ Quốc hội được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ năm năm.

Tập tin:AssembleeSurinaam.jpg
Tòa nhà Quốc hội Suriname.

Tổng thốngnguyên thủ quốc giangười đứng đầu chính phủ, do Quốc hội bầu ra theo đa số hai phần ba. Nhiệm kỳ của tổng thống là năm năm. Trong trường hợp Quốc hội không bầu được tổng thống thì Đại hội Nhân dân, gồm các nghị sĩ Quốc hội và các đại biểu khu vực, địa phương dân cử, bầu tổng thống theo đa số.

Tập tin:President@JM.jpg
Dinh Tổng thống Suriname

Nội các gồm 16 thành viên do tổng thống bổ nhiệm. Phó tổng thống do Quốc hội hoặc Đại hội Nhân dân bầu ra theo đa số cùng với tổng thống. Nhiệm kỳ của phó tổng thống theo nhiệm kỳ của tổng thống.

Cơ quan tư pháp là Tòa án Tối cao, các thẩm phán được đề cử suốt đời.

Các đảng phái chính gồm có: Mặt trận mới (NF), Đảng Cải cách tiến bộ (VHP), Đảng Quốc gia Suriname (NPS), Đảng Thống nhất và đoàn kết dân tộc (KTPI), Đảng Lao động Suriname (CSPA), Đảng Dân chủ dân tộc (NDP), v.v..

Phân cấp hành chính

Tập tin:Suriname districts numbered.png
Bản đồ 10 khu vực hành chính của Suriname.

Suriname được chia thành 10 quận:

  1. Brokopondo
  2. Commewijne
  3. Coronie
  4. Marowijne
  5. Nickerie
  6. Para
  7. Paramaribo
  8. Saramacca
  9. Sipaliwini
  10. Wanica

Kinh tế

Tập tin:Financien.JPG
Trụ sở Bộ Tài chính Suriname.

Nông nghiệp chủ yếu là ngành trồng trọt (lúa, mía, chuốicam), các nguồn lợi khác thu nhập từ đánh bắt và khai thác gỗ. Bauxitnhôm được sản xuất tại chỗ nhờ các công trình thủy điện và cũng là hai mặt hàng xuất khẩu chính. Tình trạng tham nhũng, lạm phát và thiếu năng lực kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Tính đến năm 2016, GDP của Suriname đạt 4.137 USD, đứng thứ 157 thế giới và đứng thứ 11 khu vực Nam Mỹ.

Du lịch

Nhân khẩu

Năm 2022, dân số của Suriname ước tính là 624.900 người,[3] tăng từ 541.638 người vào năm 2012.[4]

Dân tộc

Người gốc Á là dân tộc lớn nhất của Suriname, chiếm khoảng 43% dân số, trong đó nhóm dân tộc lớn nhất là người gốc Ấn Độ, được gọi là Hindustanis, chiếm 27,4% dân số.[5][6][7][8][9]

Ngôn ngữ

Tiếng Hà Lanngôn ngữ chính thức của Suriname và được sử dụng trong các lĩnh vực giáo dục, hành chính, thương mại và truyền thông.[10] Hơn 60% dân số nói tiếng Hà Lan như ngôn ngữ thứ nhất[11] và khoảng 20%–30% nói tiếng Hà Lan như ngôn ngữ thứ hai. Năm 2004, Suriname trở thành một thành viên liên kết của Liên minh tiếng Hà Lan.[12]

Tôn giáo

Bản mẫu:Bar box Theo kết quả điều tra dân số năm 2020, 52,3% dân số Suriname theo Kitô giáo; 26,7% theo Tin Lành (11,18% theo Phong trào Ngũ tuần, 11,16% theo Giáo hội Moravia, 0,7% theo thần học Calvin (bao gồm Remonstrants), 4,4% theo hệ phái Tin Lành khác), 21,6% theo Công giáo.[13] 18,8% dân số theo Ấn Độ giáo, là tôn giáo lớn thứ hai tại Suriname.[14] Suriname là nước có số lượng tín đồ Ấn Độ giáo lớn thứ ba tại Tây Bán cầu, sau GuyanaTrinidad và Tobago, hai nước đều có nhiều người gốc Ấn Độ. Hầu như tất cả tín đồ Ấn Độ giáo tại Suriname là người gốc Ấn Độ.14,3% dân số theo Hồi giáo, tỷ lệ tín đồ Hồi giáo lớn nhất tại châu Mỹ, chủ yếu là gốc Java hoặc gốc Ấn Độ.[13] 5,6% dân số theo tôn giáo dân gian, bao gồm Winti, một tôn giáo người Mỹ gốc Phi của người gốc Maroon, Kejawèn (0,8%),[13] một tín ngưỡng pha trộn của một số người gốc Java, và các tín ngưỡng dân gian bản địa. 6,2% dân số tuyên bố "không tôn giáo" và 1,9% theo "tôn giáo khác".[14]

Người Hồi giáo đầu tiên đến Suriname là những nô lệ đến từ châu Phi. Nhóm tiếp theo của người Hồi giáo đến đất nước này bao gồm người lao động giao kèo từ Nam ÁIndonesia, mà hầu hết người Hồi giáo ngày nay ở Suriname là hậu duệ.[15]

Văn hóa

Suriname là nơi giao hòa của nhiều dòng chảy văn hóa Phi, Mỹ - Anh Điêng, châu Á, Do TháiHà Lan. Tất cả phản ánh qua phong tục tập quán cũng như phong cách sống của con người vốn đa dạng nhưng cũng rất hài hòa.

Thủ đô cũng là hải cảng lớn Paramaribo nằm ngay cửa sông Suriname. Kiến trúc nổi bật gây ấn tượng với du khách về một thời thuộc địa Hà Lan, và đó cũng là lý do Paramaribo trở thành Di sản thế giới do UNESCO công nhận.

Suriname được độc lập năm 1975 khi thoát khỏi ách thống trị của người Hà Lan.

Ngôn ngữ chính thức ở Suriname là tiếng Hà Lan và tiếng Anh. Ngoài ra, còn có tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Sarnami (một tiếng địa phương của người Hindi), tiếng Java, Trung Quốc (tiếng Phổ thông, tiếng Quảng Đôngtiếng Hakka).

Tham khảo

  1. ^ http://hdr.undp.org/en/media/HDI_2008_EN_Tables.pdf
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên cnet
  3. ^ "UNdata | record view | Population by sex and urban/rural residence". data.un.org. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2025.
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên statistics-suriname1
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên rutgers
  6. ^ "Censusstatistieken 2012" (PDF). Algemeen Bureau voor de Statistiek in Suriname (General Statistics Bureau of Suriname). tr. 76. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014.
  7. ^ "The World Factbook – Central Intelligence Agency". cia.gov. ngày 29 tháng 9 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  8. ^ "Census statistieken 2012". Statistics-suriname.org. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 11 2014. Truy cập 13 tháng 7 2014.
  9. ^ "Definitieve Resultaten (Vol I) Etniciteit". Presentatie Evaluatie Rapport CENSUS 8: 42.
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên cia
  11. ^ "Het Nederlandse taalgebied" (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Taalunie. 2005. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2008.
  12. ^ "Censusstatistieken 2012" (PDF). Algemeen Bureau voor de Statistiek in Suriname (General Statistics Bureau of Suriname). tr. 76. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014.
  13. ^ a ă â "2012 Suriname Census Definitive Results" (PDF). Algemeen Bureau voor de Statistiek – Suriname. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015.
  14. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên grf
  15. ^ ^ a b c d e f g Central Intelligence Agency (2012). "Suriname". The World Factbook. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Thể loại Commons-inline

Bản mẫu:Nam Mỹ Bản mẫu:OIC Bản mẫu:Caricom Bản mẫu:Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ