Bước tới nội dung

Sông Ural

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phiên bản vào lúc 19:56, ngày 13 tháng 11 năm 2025 của imported>AnsterBot ((Bot) AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:09.2954340)
(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Bản mẫu:Infobox river

Sông Ural (tiếng Nga: Урал, phát âm [ʊˈraɫ]) hay Jayıq/Zhayyq (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., phát âm [jɑˈjɯq], Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., phát âm [ʒɑjə́q]), còn gọi là Yaik (tiếng Nga: Яик) trước năm 1775, là một con sông chảy qua NgaKazakhstan. Nó bắt nguồn từ phía nam dãy núi Ural và đổ vào biển Caspi. Với chiều dài 2.428 kilômét (1.509 mi), đây là sông dài thứ ba châu Âu sau VolgaDanube, và sông dài thứ 18 của châu Á. Sông Ural thường được xem là biên giới giữa châu Âu và châu Á.

Sông Ural xuất phát từ một nơi gần núi Kruglaya trong dãy Ural, chảy về hướng nam, qua Magnitogorsk, tới Orsk nó chảy về hướng tây 300 kilômét (190 mi), đến Orenburg, sông này hợp với sông Sakmara. Từ Orenburg, nó chảy tiếp về phía tây, đến Kazakhstan, rồi lại chảy về phía nam ở Oral, chảy ngoằn nghèo qua một đồng bằng phẳng, rộng, trước khi đổ vào biển Caspi.[1]

Tham khảo

  1. ^ Ural River Delta, Kazakhstan (NASA Earth Observatory)

Bản mẫu:Sơ khai