Bước tới nội dung

Dryocampa rubicunda

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>NDKDDBot sửa đổi vào lúc 09:42, ngày 22 tháng 8 năm 2021 (top: clean up, replaced: {{tiêu đề nghiêng → {{nhan đề nghiêng). Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)
Ngài cây thích hồng
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Arthropoda
Lớp (class)Insecta
Bộ (ordo)Lepidoptera
Liên họ (superfamilia)Bombycoidea
(không phân hạng)Macrolepidoptera
Họ (familia)Saturniidae
Phân họ (subfamilia)Ceratocampinae
Chi (genus)Dryocampa
Loài (species)D. rubicunda
Danh pháp hai phần
Dryocampa rubicunda
(Fabricius, 1793)

Ngài cây thích hồng (Dryocampa rubicunda) là một loài bướm đêm Bắc Mỹ thuộc họ Saturniidae. Con đực có sải cành dài 32–44 mm; con cái là 40–50 mm. Chúng có chân màu hơi đỏ đến hồng và có râu, thân và cánh sau màu vàng.

Vòng đời

Con cái đẻ trứng màu vàng nhạt theo cụm từ 20-30 trên mặt dưới của lá cây thích. Sau khoảng hai tuần, trứng nở thành bầy sâu bướm nhỏ sống thành bầy. Chúng sẽ vẫn sống theo bầy tới giai đoạn thứ ba, nhưng hai đoạn cuối chúng sống đơn độc. Ấu trùng gần trưởng thành có màu xanh lục sáng với đường bên màu đen đầu đỏ và đạt đến độ dài khoảng 55 mm. Khi đã sẵn sàng, chúng leo xuống đưới cây chủ và hóa nhộng. Kén rất tối, dài, và có gai nhỏ. Ngài trưởng thành thường sống về đêm, chúng thường bay suốt ba đêm đầu.[1] Con cái phát ra kích thích tố vào ban đêm và thu hút con đực có râu để phát hiện kích thích tố.

Tham khảo

  1. ^ Fullard, James H. & Napoleone, Nadia (2001). "Diel flight periodicity and the evolution of auditory defences in the Macrolepidoptera" (PDF). Animal Behaviour. Quyển 62 số 2. tr. 349–368. doi:10.1006/anbe.2001.1753.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  • Fullard, James H. & Napoleone, Nadia (2001): Diel flight periodicity and the evolution of auditory defences in the Macrolepidoptera. Animal Behaviour 62(2): 349–368.doi:10.1006/anbe.2001.1753 PDF fulltext

Liên kết ngoài