Sông Cầu

Phiên bản vào lúc 01:34, ngày 24 tháng 7 năm 2026 của imported>Bacthai20 (Thông số chính)
(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Bản mẫu:Geobox Sông Cầu (còn gọi là sông Như Nguyệt, sông Phú Lương (Phú Lương Giang, 富良江), sông Thị Cầu hay mỹ danh dòng sông quan họ), là con sông quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái Bình, sông nằm lọt trong vùng Đông Bắc Việt Nam.[1][2][3]

Lưu vực sông Cầu là một trong năm con sông dài nhất ở miền Bắc Việt Nam (Hồng, Đà, , Cầu, Đáy) và cũng là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, có vị trí địa lý đặc biệt, đa dạng và phong phú về tài nguyên cũng như về lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh nằm trong lưu vực của nó.

Dòng chảy

Đoạn sông Cầu chảy hoàn toàn trên địa phận tỉnh Thái Nguyên dài 204 km, đoạn ranh giới Thái Nguyên - Bắc Ninh dài 25 km, đoạn ranh giới Hà Nội - Bắc Ninh dài 14,7 km, đoạn chảy hoàn toàn trên địa phận tỉnh Bắc Ninh dài 67 km.[4]

Sông Cằu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên chảy qua nhiều xã, phường: Chợ Đồn, Bạch Thông, Phong Quang, Bắc Kạn, Đức Xuân, Cẩm Giàng, Tân Kỳ, Thanh Thịnh, Chợ Mới, Văn Lăng, Vô Tranh, Đồng Hỷ, Quan Triều, Linh Sơn, Phan Đình Phùng, Gia Sàng, Bách Quang, Tân Khánh, Điềm Thụy, Phú Bình, Vạn Xuân, Trung Thành.[5]

Sông Cầu bắt nguồn từ phía Nam đỉnh Phja Bjoóc (cao 1.578 m) của dãy Văn Ôn trong địa phận xã Chợ Đồn và Đồng Phúc thuộc tỉnh Thái Nguyên, chảy ngoằn ngoèo giữa hai dãy núi Ngân Sơndãy núi Sông Gâm theo hướng bắc tây bắc-nam đông nam tới địa phận xã Bạch Thông rồi đổi hướng để chảy theo hướng tây tây nam-đông đông bắc qua phường Bắc Kạn tới xã Cẩm Giàng. Tại đây nó đổi hướng để chảy theo hướng đông bắc-tây nam. Tại xã Thanh Thịnh nó nhận một chi lưu phía hữu ngạn, chảy về từ xã Thanh Mai cùng huyện theo hướng tây bắc-đông nam. Tới địa phận xã Chợ Mới, nó nhận một chi lưu nữa phía hữu (sông Chợ Chu) ngạn rồi đổi hướng sang tây bắc-đông nam. Tới địa phận xã Văn Lăng, nhận một chi lưu phía tả ngạn (sông Thượng Nungớng sang bắc đông bắc-nam tây nam. Tới phường Quan Triều thì nhận tiếp một chi lưu phía hữu ngạn là sông Đu rồi chảy qua lòng các phường trung tâm và phía đông thành phố Thái Nguyên cũ. Chảy tới xã Điềm Thụy thì đổi sang hướng đông bắc-tây nam tới phường Trung Thành nhận tiếp một chi lưu là sông Công. Tới ranh giới xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa cũ và xã Việt Long, huyện Sóc Sơn cũ (Hà Nội) nó nhận một chi lưu nhỏ phía hữu ngạn là sông Cà Lồ rồi chảy tiếp về phía đông qua ranh giới của thị xã Việt Yên (Bắc Giang cũ) và huyện Yên Phong cũ (Bắc Ninh) rồi hợp lưu với sông Thương tại ngã ba Lác (nơi giáp ranh giữa xã Đồng Phúc, Đức Long và phường Phả Lại cũ) để tạo thành sông Thái Bình.

Thông số chính

Sông Cầu có diện tích lưu vực khoảng 6.030 km², với chiều dài khoảng 290 km, độ cao bình quân lưu vực: 190 m, độ dốc bình quân 16,1%, chiều rộng lưu vực trung bình: 31 km, mật độ lưới sông 0,95 km/km² và hệ số uốn khúc 2,02.

Chế độ thủy văn

Lưu vực sông Cầu có dòng chính là sông Cầu với chiều dài 290 km bắt nguồn từ núi Văn Ôn (Vạn On) ở độ cao 1.170 m và đổ vào sông Thái BìnhPhả Lại. Trong lưu vực sông Cầu có tới 26 phụ lưu cấp một với tổng chiều dài 670 km và 41 phụ lưu cấp hai với tổng chiều dài 645 km và hàng trăm km sông cấp ba, bốn và các sông suối ngắn dưới 10 km. Lưu vực sông Cầu nằm trong vùng mưa lớn (1.500-2.700 mm/năm) của tỉnh Thái Nguyên. Tổng lưu lượng nước hàng năm đạt đến 4,2 tỷ m³. Sông Cầu được điều tiết bằng hồ Núi Cốc trên sông Công (một chi lưu của nó) với dung tích hàng trăm triệu m³.

Chế độ thủy văn của các sông trong lưu vực sông Cầu được chia thành 2 mùa:

  • Mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9 và chiếm 70-80% tổng lưu lượng dòng chảy trong năm.
  • Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, chỉ chiếm 20-30% tổng lưu lượng dòng chảy của năm.

Lưu lượng dòng chảy trung bình các tháng trong năm chênh lệch nhau tới 10 lần, mực nước cao và thấp nhất chênh nhau khá lớn, có thể tới 5–6 m.

Các vấn đề liên quan

Do việc khai thác và phát triển chưa hợp lý như phát triển công nghiệp và khai khoáng ồ ạt, chặt phá rừng phòng hộ đầu nguồn cũng như phát triển làng nghề chưa có quy hoạch cụ thể và việc xử lý nước thải còn bị coi nhẹ v.v nên nguồn nước, cảnh quan và hệ sinh thái của sông Cầu cũng như lưu vực đang bị suy thoái và có nguy cơ cạn kiệt, nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nặng nề, giảm giá trị sử dụng, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống, môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2001, tại thị xã Bắc Giang đã diễn ra Hội nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân 6 tỉnh (thuộc đề án sông Cầu) lần thứ 4 nhằm tìm ra giải pháp toàn diện cho các vấn đề kể trên. Tại hội nghị đã ký "Thỏa ước về hợp tác bảo vệ và khai thác bền vững sông Cầu và lưu vực sông Cầu".

Hiện trên sông Cầu có các cây cầu bắc qua:

Phụ lưu

Các phụ lưu của sông Cầu theo các danh mục sông nội tỉnh và liên tỉnh:[4][6][7]

  • Sông Cầu
    • (Suối) Nậm Cắt (17 km, 58 km²)
    • (Suối) Nậm Cát (30 km, 120 km²)
    • Sông Nà Cú (35 km, 149 km²)
    • Suối Châng (16 km, 119 km²)
    • (Suối) Khuổi Đeng (14 km, 54 km²)
    • (Suối) Khuổi Cuồng (10 km, 38 km²)
    • Suối Tái Mèn (11 km, 21 km²)
    • (Suối) Khuổi Thểu (15 km, 39 km²)
    • Suối Quận (25 km, 119 km²)
      • (Suối) Khuổi Tôm (11 km, 21 km²)
      • Suối Quan Làng (11 km, 28 km²)
    • (Suối) Khuổi Thi (10 km, 15 km²)
    • Sông Nhĩ Cã (17 km, 73 km²)
    • Sông Chợ Chu (45 km, 426 km²)
      • Phụ lưu số 1 sông Chợ Chu (14 km, 26 km²)
      • Suối Cát (10 km, 23 km²)
      • Sông Quang Cao (18 km, 70 km²)
      • Phụ lưu số 4 sông Chợ Chu (11 km, 22 km²)
      • Suối Bản Cái (18 km, 100 km²)
        • Suối Làng Duyên (phụ lưu số 1) (16 km, 28 km²)
      • Suối Thịnh Mỹ (phụ lưu số 6) (10 km, 25 km²)
      • Sông Yên Trạch (12 km, 46 km²)
    • Suối Thượng Nung/Nghinh Tường (Huổi Tác) (45 km, 435 km²)
      • Suối Bản Đãi (11 km, 43 km²)
      • (Suối) Khuổi Tát (16 km, 92 km²)
      • Suối Bốc (24 km, 113 km²)
      • Suối Kim (20 km, 56 km²)
    • Khe Ấm (13 km, 26 km²)
    • Sông Đu (56 km, 376 km²)
      • Suối Nà Dâu (15 km, 45 km²)
      • Phụ lưu số 2 sông Đu (17 km, 41 km²)
      • Suối Cát (20 km, 52 km²)
      • Khe Cốc (19 km, 45 km²)
    • Phụ lưu số 16 sông Cầu (12 km, 41 km²)
    • Suối Mỏ Bạch (10 km, 30 km²)
    • Suối Đèo Khế (36 km, 193 km²)
      • Suối Bạch Giương (12 km, 34 km²)
      • Suối Ninh Nham (14 km, 54 km²)
    • Ngòi Rồng (25 km, 134 km²)
      • Khe Măng (13 km, 36 km²)
      • Ngòi Chẹo (18 km, 53 km²)
    • Ngòi Chanh (10 km, 40 km²)
    • Suối Giữa (14 km, 55 km²)
      • Suối Hải Minh (10 km, 14 km²)
    • Suối Dẽo (phụ lưu số 22) (19 km, 66 km²)
    • Sông Công (105 km, 970 km²)
      • Phụ lưu số 1 sông Công (12 km, 57 km²)
      • Phụ lưu số 2 sông Công (11 km, 67 km²)
      • Suối Tôn (12 km, 29 km²)
      • Sông La Bằng (15 km, 42 km²)
      • Suối Cái (Suối Cải) (14 km, 29 km²)
      • Phụ lưu số 6 sông Công (13 km, 16 km²)
      • Sông Nước Giáp (16 km, 32 km²)
      • Suối Kẻn (15 km, 69 km²)
      • Suối Trại Trâu (10 km, 16 km²)
      • Sông Đá Trắng (25 km, 116 km²)
        • Phụ lưu số 1 sông Đá Trắng (16 km, 30 km²)
      • Phụ lưu số 11 sông Công (16 km, 47 km²)
      • Kênh Tây (15 km, 38 km²)
      • Suối Cầu Triền (Ngòi Cát) (14 km, 36 km²)
    • Ngòi Dật (10 km, 19 km²)
    • Phụ lưu số 25 sông Cầu (14 km, 30 km²)
    • Sông Cà Lồ (88 km, 853 km²)
      • Sông Phan (19 km, 191 km²)
      • Sông Nông Trường (Sông Xạ Hương) (31 km, 134 km²)
        • Phụ lưu số 1 sông Nông Trường (24 km, 51 km²)
      • Sông Bá (20 km, 104 km²)
        • Suối Mo (23 km, 48 km²)
      • Sông Đại Lạn (phụ lưu số 4) (16 km, 66 km²)
        • Sông Đồng Đò (9 km)
    • Phụ lưu số 28 sông Cầu (15 km, 70 km²)
      • Phụ lưu số 1 của phụ lưu số 28 (17 km, 42 km²)
    • Sông Ngũ Huyện Khê (34 km)
      • Phụ lưu số 1 sông Ngũ Huyện Khê (4,4 km)

Sự kiện lịch sử

Năm 1077 trên sông Như Nguyệt, quân đội nhà Lý do danh tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy đã đánh bại đội quân xâm lược của nhà Bắc Tống gồm 100.000 quân do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy.

Năm 1285 trận đánh giữa Quân Đội Nhà Nguyên và Đại Việt trên sông Như Nguyệt do Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản chỉ huy.

Văn hóa

Thánh Tam Giang

Trong truyền thuyết, vị thần cai quản sông Cầu là Đức thánh Tam Giang, do hai tướng Trương Hống, Trương Hát của Triệu Việt Vương sau khi chết được phong thần. Sau này hai ông đã hiển linh giúp Nam Tấn Vương đánh Lý Huy, các quân Việt Nam đánh quân phương Bắc (thời Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt...). Đồng thời hai ông cũng cai quản cả sông Long Nhỡn (sông Thương), sông Đuống.

Dòng sông Quan họ

Phần sông Cầu đoạn chảy qua ranh giới 2 tỉnh cũ Bắc GiangBắc Ninh tập trung hầu hết các làng quan họ của vùng văn hóa Kinh Bắc. Do đó mà sông Cầu được gọi là dòng sông quan họ trong thơ ca và trong bài hát nổi tiếng của Phan Lạc Hoa mang tên Tình yêu trên dòng sông quan họ:

"Tình yêu có từ nơi đâu?
Êm êm một khúc sông Cầu
...
Con sông của người quan họ
Suốt đời nước chảy lơ thơ..."

hay bài hát Những cô gái quan họ của Phó Đức Phương:

"...
Sông Cầu nước xuôi
Đất nghìn năm dệt nên trang sử
..."

Tham khảo

  1. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  2. ^ Bản đồ tỷ lệ 1:50.000 tờ F-48-. Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, 2004.
  3. ^ Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Danh mục lưu vực sông liên tỉnh. Thuvien Phapluat Online, 2016. Truy cập 12/08/2018.
  4. ^ a ă "Quyết định Về việc ban hành Danh mục nguồn nước mặt liên quốc gia và Danh mục nguồn nước mặt liên tỉnh" (PDF). Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
  5. ^ "Sau sáp nhập Thái Nguyên - Bắc Kạn, Thái Nguyên có 4 con sông chính". Báo điện tử Dân Việt.
  6. ^ "Quyết định Về việc ban hành Danh mục lưu vực sông nội tỉnh" (PDF). Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
  7. ^ "Ban hành Danh mục lưu vực sông liên quốc gia và Danh mục lưu vực sông liên tỉnh tỉnh" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Xem thêm

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Hệ thống sông Thái Bình