Bước tới nội dung

Pseudolabrus sieboldi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>TheSecondFunnyYellowBot sửa đổi vào lúc 07:27, ngày 23 tháng 11 năm 2025 (WPCleaner v2.05b - Fix errors for CW project (Reference before punctuation)). Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)
Pseudolabrus sieboldi
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Labriformes
Họ (familia)Labridae
Chi (genus)Pseudolabrus
Loài (species)P. sieboldi
Danh pháp hai phần
Pseudolabrus sieboldi
Mabuchi & Nakabo, 1997

Pseudolabrus sieboldi là một loài cá biển thuộc chi Pseudolabrus trong họ Cá bàng chài. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1997.

Từ nguyên

Từ định danh sieboldi được đặt theo tên của Philipp Franz von Siebold, bác sĩ người Đức, người đầu tiên cung cấp bức vẽ minh họa về một loài PseudolabrusNhật Bản.[2]

Phạm vi phân bố và môi trường sống

P. sieboldi có phạm vi phân bố ở Tây Thái Bình Dương. Loài này được ghi nhận từ vùng bờ biển phía nam Nhật Bản, mở rộng phạm vi về phía tây đến bờ biển phía nam Hàn Quốc, và từ biển Nhật Bản trải dài xuống đảo Đài Loan ở phía nam.[1]

P. sieboldiPseudolabrus eoethinus khá tương đồng về hình thái, nhưng vẫn có sự khác biệt rõ rệt về mặt di truyền.[3] Hơn nữa, P. sieboldi xuất hiện ở cả bờ biển phía nam của Biển Nhật Bản, nhưng P. eoethinus lại không được ghi nhận ở đó; tuy vậy, cả hai loài đều có phân bố rộng rãi dọc theo bờ biển Thái Bình Dương ở phía nam Nhật Bản.[4]

P. sieboldi sống trên các rạn đá ngầm ở độ sâu đến 100 m.[1]

Mô tả

Cá đực có màu xanh lục hoặc màu đỏ gạch đối với các mẫu vật được thu thập ở vùng nước sâu; đốm đen lớn từ gai vây lưng thứ tư trải dài đến gai thứ sáu. Cả cái có hai hàng đốm trắng ở phía trên đường bên. Dải sọc sẫm màu nằm phía dưới mắt kéo dài đến trên gốc vây ngực (ở cá đực) hoặc tới giữa nắp mang (ở cá cái).[5]

Số gai ở vây lưng: 8–9; Số tia vây mềm ở vây lưng: 11; Số gai ở vây hậu môn: 3; Số tia vây mềm ở vây hậu môn: 10.[5]

Hành vi và tập tính

P. sieboldi sống theo từng nhóm nhỏ, gồm một con cá đực thống trị và bầy cá cái trong hậu cung của nó. Thời điểm sinh sản của P. sieboldi diễn ra từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 12. Thức ăn của loài này chủ yếu là các loài động vật giáp xácđộng vật thân mềm.[1]

Tham khảo

  1. ^ a b c d "Pseudolabrus sieboldi". Sách đỏ IUCN. Quyển 2010. 2010. tr. e.T187385A8521321. doi:10.2305/IUCN.UK.2010-4.RLTS.T187385A8521321.en. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2021. {{Chú thích tạp chí}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |authors= (trợ giúp)
  2. ^ C. Scharpf; K. J. Lazara (2020). "Order LABRIFORMES: Family LABRIDAE (i-x)". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2021.
  3. ^ "Genetic Differences between Two Pseudolabrus Species (Osteichthyes: Labridae) from the Southern Coasts of Japan". Species Diversity. Quyển 5 số 2. 2000. tr. 163–172. doi:10.12782/specdiv.5.163. {{Chú thích tạp chí}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |authors= (trợ giúp)
  4. ^ "Revision of the genus Pseudolabrus (Labridae) from the East Asian waters". Ichthyological Research. Quyển 44. 1997. tr. 321–334. {{Chú thích tạp chí}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |authors= (trợ giúp)
  5. ^ a b Froese Rainer, và Daniel Pauly (chủ biên) (2020). Pseudolabrus sieboldi trong FishBase. Phiên bản tháng 2 2020.

Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).