Bước tới nội dung

USS Amberjack (SS-522)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>Yuki Shiromita sửa đổi vào lúc 15:34, ngày 18 tháng 6 năm 2026 (Di chuyển từ Category:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Brazil đến Category:Tàu được Hải quân Hoa Kỳ chuyển cho Hải quân Brasil dùng Cat-a-lot). Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)
Cấu trúc thượng tầng của tàu ngầm Ceará được bảo tồn tại Fortaleza, Brazil.
Lịch sử
Hoa Kỳ
Tên gọi USS Amberjack (SS-522)
Đặt tên theo một loài trong chi Cá cam[1]
Xưởng đóng tàu Xưởng hải quân Boston, Boston, Massachusetts[2]
Đặt lườn 8 tháng 2, 1944 [2]
Hạ thủy 15 tháng 12, 1944 [2]
Người đỡ đầu bà Dina C. Lang [1]
Nhập biên chế 4 tháng 3, 1946 [2]
Xuất biên chế 17 tháng 10, 1973 [2]
Xóa đăng bạ 17 tháng 10, 1973[3]
Số phận Chuyển cho Brazil, 17 tháng 10, 1973 [2]
Lịch sử
Brazil
Tên gọi Ceará (S-14)
Trưng dụng 17 tháng 10, 1973
Xuất biên chế 21 tháng 9, 1987
Số phận Bị tháo dỡ
Đặc điểm khái quát(khi hoàn tất)
Lớp tàu lớp Tench[3]
Kiểu tàu tàu ngầm Diesel-điện
Trọng tải choán nước
  • 1.570 tấn Anh (1.600 t) (mặt nước) [3]
  • 2.429 tấn Anh (2.468 t) (lặn) [3]
Chiều dài 311 ft 9 in (95,02 m) [3]
Sườn ngang 27 ft 4 in (8,33 m) [3]
Mớn nước 17 ft (5,2 m) [3]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa 16.000 hải lý (30.000 km) trên mặt nước ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h)[4]
Tầm hoạt động
  • 48 giờ ở tốc độ 2 kn (2,3 mph; 3,7 km/h) khi lặn [4]
  • 75 ngày tuần tra
Độ sâu thử nghiệm 400 ft (120 m) [4]
Thủy thủ đoàn tối đa 10 sĩ quan, 71 thủy thủ [4]
Vũ khí
Đặc điểm khái quát(GUPPY II)
Trọng tải choán nước
  • 1.870 tấn Anh (1.900 t) (mặt nước) [6]
  • 2.440 tấn Anh (2.480 t) (lặn) [6]
Chiều dài 307 ft (94 m) [7]
Sườn ngang 27 ft 4 in (8,33 m) [7]
Mớn nước 17 ft (5,2 m) [7]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa 15.000 hải lý (28.000 km) trên mặt nước ở tốc độ 11 hải lý trên giờ (20 km/h)[7]
Tầm hoạt động 48 giờ ở tốc độ 4 kn (4,6 mph; 7,4 km/h) khi lặn [7]
Thủy thủ đoàn tối đa
  • 9-10 sĩ quan
  • 5 hạ sĩ quan
  • 70 thủy thủ[7]
Hệ thống cảm biến và xử lý
  • sonar chủ động WFA
  • sonar thụ động JT
  • hệ thống kiểm soát hỏa lực ngư lôi Mk 106[7]
Vũ khí
  • 10 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm)
  • 6 trước mũi, 4 phía đuôi[7]
  • tháo dỡ toàn bộ pháo[6]

USS Amberjack (SS-522) là một tàu ngầm lớp Tench được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào giai đoạn cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu ngầm thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt cái tên này, theo tên một loài trong chi Cá cam.[1] Hạ thủy vào cuối năm 1944 nhưng chỉ nhập biên chế vào năm 1946, Amberjack hoàn tất quá trễ để có thể phục vụ trong Thế Chiến II, nhưng đã phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh và được hiện đại hóa theo đề án GUPPY II. Nó được chuyển cho Brazil năm 1973 và tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Brazil như là chiếc Ceará (S-14) cho đến năm 1987. Con tàu bị tháo dỡ sau đó, ngoại trừ cấu trúc thượng tầng được giữ lại và bảo tồn tại Fortaleza, Brazil.

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Lớp tàu ngầm Tench là sự cải tiến tiếp theo của các lớp tàu ngầm hạm đội Balao Gato, vốn đã chứng minh thành công trong hoạt động chống Nhật Bản tại Mặt trận Thái Bình Dương. Lớp tàu này, tích lũy những kinh nghiệm trong giai đoạn đầu của cuộc xung đột, là lớp tàu ngầm cuối cùng được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong chiến tranh.[8]

Những chiếc lớp Tench có chiều dài 311 ft 9 in (95,02 m), mạn tàu rộng 27 ft 4 in (8,33 m) và mớn nước tối đa 17 ft (5,2 m), có trọng lượng choán nước 1.570 tấn Anh (1.600 t) khi nổi và 2.414 tấn Anh (2.453 t) khi lặn. Chúng trang bị bốn động cơ diesel Fairbanks-Morse 38D8-⅛ 10-xy lanh chuyển động đối xứng, dẫn động máy phát điện để cung cấp điện năng cho hai động cơ điện, đạt được công suất 5.400 shp (4.000 kW) cho phép di chuyển với tốc độ tối đa 20,25 hải lý trên giờ (37,50 km/h) khi nổi. Khi hoạt động ngầm dưới nước, chúng được cung cấp điện từ hai dàn ắc-quy Sargo 126-cell để vận hành hai động cơ điện Elliott lõi kép tốc độ chậm, có công suất 2.740 shp (2.040 kW) và đạt tốc độ tối đa 8,75 kn (16,21 km/h). Tầm xa hoạt động là 16.000 hải lý (30.000 km) khi đi trên mặt nước ở tốc độ 10 kn (19 km/h) và có thể hoạt động kéo dài đến 75 ngày; tuy nhiên khả năng hoạt động ngầm bị giới hạn bởi dung lượng điện ắc-quy, sẽ cạn trong 48 giờ khi di chuyển với tốc độ 2 kn (3,7 km/h). Chiếc tàu ngầm mang theo tiếp liệu đủ cho mười sĩ quan và 71 thủy thủ trong 75 ngày.[3][9]

Lớp Tench được trang bị mười ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống trước mũi và bốn ống phía đuôi tàu, và mang theo tổng cộng 28 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu gồm một hải pháo 5 inch/25 caliber, một khẩu pháo phòng không Bofors 40 mm nòng đơn và một khẩu đội Oerlikon 20 mm nòng đôi, kèm theo hai súng máy .50 caliber.[5][4]

Chế tạo

Amberjack được đặt lườn tại Xưởng hải quân BostonBoston, Massachusetts vào ngày 8 tháng 2, 1944. Nó được hạ thủy vào ngày 15 tháng 12, 1944, được đỡ đầu bởi bà Dina C. Lang, và được cho nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 4 tháng 3, 1946 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân William B. Parham.[1][10][11]

Lịch sử hoạt động

USS Amberjack

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy tại vùng biển quần đảo Tây Ấnvịnh Mexico, Amberjack gia nhập Hải đội Tàu ngầm 8 từ ngày 17 tháng 6, 1946. Hoạt động từ Căn cứ Tàu ngầm Hải quân tại New London, Connecticut, nó thực hành huấn luyện tại vùng bờ biển Bắc Đại Tây Dương và từng thực hiện một chuyến đi vượt qua vòng Bắc Cực vào tháng 11. Đến tháng 1, 1947, nó đi vào Xưởng hải quân Portsmouth để được hiện đại hóa trong khuôn khổ đề án GUPPY II.[10] Lườn tàu và cấu trúc thượng tầng được cải biến suôn thẳng hơn, bổ sung thêm ắc-quyống hơi nhằm tăng cường tính năng lặn dưới nước và độ cơ động.[1]

Vào tháng 1, 1948, Amberjack được điều động sang Hải đội Tàu ngầm 4 cặt căn cứ tại Key West, Florida. Nó hoạt động dọc theo vùng bờ Đông và khu vực Tây Ấn trong hơn một thập niên tiếp theo, bao gồm nhiệm vụ thử nghiệm phát triển chiến thuật, thực hành huấn luyện, tham gia các cuộc tập trận hạm đội xen kẻ với các đợt bảo trì và đại tu. Trong giai đoạn này con tàu cũng đã viếng thăm nhiều cảng tại vùng biển Caribe. Vào tháng 7, 1952, nó lại được điều sang Hải đội Tàu ngầm 12 vừa mới được thành lập, nhưng tiếp tục đặt cảng nhà tại Key West và thực hiện các hoạt động tương tự.[1] Vào ngày 9 tháng 7, 1970, Amberjack đi đến cảng nhà mới Key West, Florida, là căn cứ hoạt động trong suốt thời gian còn lại của quãng đời hoạt động. Nó có lượt biệt phái hoạt động cuối cùng sang vùng biển Địa Trung Hài từ ngày 27 tháng 11, 1972 đến ngày 30 tháng 3, 1973.[1]

Ceará (S-14)

Vào ngày 17 tháng 10, 1973, Amberjack được cho xuất biên chế tại Key West, đồng thời được rút tên khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân Hoa Kỳ.[1][10][11] Con tàu được chuyển cho Brazil để phục vụ cùng Hải quân Brazil như là chiếc Ceará (S-14).[1][10] Nó xuất biên chế vào ngày 21 tháng 9, 1987 và bị tháo dỡ sau đó.[1]

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ a b c d e f g h i j Naval Historical Center. "Amberjack II (SS-522)". Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History and Heritage Command.
  2. ^ a b c d e f Friedman 1995, tr. 285-304
  3. ^ a b c d e f g h i j k l m Bauer & Roberts 1991, tr. 280–282
  4. ^ a b c d e f g h Friedman 1995, tr. 305-311
  5. ^ a b c d e f Lenton (1973), tr. 101.
  6. ^ a b c d e f Friedman 1994, tr. 11-43
  7. ^ a b c d e f g h Friedman 1994, tr. 242
  8. ^ Gardiner & Chesneau, tr. 146–147.
  9. ^ Friedman 1995, tr. 261–263, 305–311.
  10. ^ a b c d Yarnall, Paul R. "Amberjack (SS-522)". NavSource.org. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2025.
  11. ^ a b Helgason, Guðmundur. "Amberjack (ii) (SS-522)". uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2025.

Thư mục

Liên kết ngoài