Koi-Koi

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>AnsterBot sửa đổi vào lúc 16:55, ngày 13 tháng 4 năm 2026 ((Bot) AlphamaEditor, Executed time: 00:00:00.9622025, replaced: {{cite book → {{Chú thích sách, {{Cite web → {{Chú thích web (3)). Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Koi Koi (Hiragana: こいこい, nghĩa là "tiếp tục"[1]) là một trò chơi bài ở Nhật Bản sử dụng bộ bài hanafuda.[2]

A typical setup of hanafuda for the game of Koi-Koi, on top a red zabuton with a peony pattern.
Một ván bài Koi Koi sử dụng bộ bài Hanafuda

Mục tiêu của trò chơi là có được các thế bài đặc biệt được gọi là yaku (tiếng Nhật: 役) để ghi điểm từ bộ bài, người chơi có thể có được các lá bài trong vùng ghi điểm của mình bằng việc kết hợp các quân bài trên tay, hoặc bốc từ trong chồng bài bốc, với các lá bài trên bàn. Sau khi người chơi có một yaku, người chơi đó có thể dừng ván đấu để nhận điểm, hoặc tiếp tục koi koi để lấy thêm yaku, khi đó được tính nhiều điểm hơn. Các lá bài riêng lẻ cũng có những giá trị điểm riêng, nhưng không ảnh hưởng tới việc tính điểm của yaku mà để xây dựng nên các yaku.

Thiết lập ván đấu

Trong mỗi vòng đấu, người chia bài được gọi là nhà cái (tiếng Nhật: 親, oya), việc ai làm nhà cái trong vòng đấu đầu tiên có thể được xác định thông qua thoả thuận, hoặc là bốc thăm ngẫu nhiên như chơi kéo búa bao. Một cách khác để xác định là sử dụng chính bộ bài hanafuda: các người chơi bốc một lá ngẫu nhiên trong chồng bài, lá bài của người chơi nào có tháng sớm nhất sẽ làm nhà cái; nếu có tháng bằng nhau thì lá bài của ai có giá trị lớn hơn sẽ làm nhà cái. Người chơi còn lại được gọi là nhà con (tiếng Nhật: 子, ko).[3]

Người chia bài sẽ chia 8 lá cho nhà con trước, sau đó chia và mở 8 lá trên bàn ra, sau đó sẽ tự chia 8 lá bài cho mình, phần còn lại sẽ trở thành chồng bài bốc và người làm nhà cái sẽ là người đi trước.

Koi Koi sử dụng bộ bài Hanafuda, với 48 quân bài được chia làm 12 tháng như sau:

Tháng / chất

Hoa / Cây

Hikari

(20 điểm)

Tane

(10 điểm)

Tanzaku

(5 điểm)

Kasu

(1 điểm)

Tháng Một

Cây thông

  Con sếuMặt trời   Tanzaku với câu thơ 2 lá
Tháng Hai

Hoa mơ

  Vành khuyên Nhật Bản[a]   Tanzaku với câu thơ 2 lá
Tháng Ba

Hoa anh đào

  Cái rèm   Tanzaku với câu thơ 2 lá
Tháng Tư

Hoa tử đằng

  Chim cu cu[b]   Tanzaku trống không 2 lá
Tháng Năm

Hoa diên vĩ

  Cầu Yatsuhashi   Tanzaku trống không 2 lá
Tháng Sáu

Hoa mẫu đơn[c]

  Bươm bướm   Tanzaku màu xanh 2 lá
Tháng Bảy

Mã biên thảo [d]

  Heo rừng   Tanzaku trống không 2 lá
Tháng Tám

Cây chè vè [e]

  Trăng tròn [f]   Con ngỗng[g] 2 lá
Tháng Chín

Hoa cúc[h]

  Chén rượu sake   Tanzaku màu xanh 2 lá
Tháng Mười

Cây phong

  Con hươu   Tanzaku màu xanh 2 lá
Tháng Mười một*

Cây liễu

  Ono no Michikaze

hay hình một người cầm ô[i]

  Chim én[j]   Tanzaku trống không [k] 1 lá
Tháng Mười hai*

Cây hông lông

  Phượng hoàng 3 lá

Tiến trình chơi

Hành động

Trong lượt của một người chơi, người chơi đó có thể ghép các quân bài cùng tháng (1 lá trong tay người chơi và 1 lá trên bàn chơi) và đem cả hai lá bài đó về khu vực ghi điểm của mình. Nếu như không thể ghép, người chơi sẽ phải đánh một quân bài ra bàn.

Sau khi ghép quân hoặc đánh quân, người chơi sẽ bốc một lá bài từ chồng bài bốc. Nếu như quân bài bốc mới này có thể ghép với một quân trên bàn, người chơi sẽ ghép hai quân và trả về khu ghi điểm của mình, nếu không thể ghép thì quân bài bốc này sẽ nằm trên bàn.

Nếu lựa chọn ghép quân có thể ghép được từ hai lá trở lên, người chơi có quyền lựa chọn 1 trong 2 quân, còn nếu có cả 3 lựa chọn ghép thì người chơi sẽ hạ cả 4 quân xuống khu ghi điểm.

Lượt chơi sẽ kết thúc nếu người chơi không thể ghép được bài sau khi đã bốc bài.

Yaku và Koi Koi

Sau khi lượt chơi kết thúc, nếu trong lượt đó người chơi hoàn thành ít nhất một yaku, khi đó người này phải đưa ra quyết định: Hoặc dừng vòng chơi ngay lập tức để ghi điểm, hoặc hô koi koi để ghi được nhiều điểm hơn. Khi đã hô koi koi, nếu đối phương có được yaku và chiến thắng trước, đối phương sẽ được nhân đôi số điểm (và người gọi koi koi sẽ không được điểm nào). Nếu người chơi sau khi tính điểm, có các yaku với tổng điểm từ 7 trở lên, sẽ được nhân đôi số điểm thu về. Hơn nữa, nếu người chơi có từ 7 điểm trở lên và đối phương hô koi koi, người chơi này sẽ được gấp bốn lần số điểm (hai lần gấp đôi từ koi koi và thưởng 7 điểm trở lên).

Trong trường hợp cả hai người chơi đều không ghi được một yaku nào khi đã hết chồng bài bốc, nhà cái được thưởng 1 điểm và được giữ quyền làm cái cho vòng đấu sau. Nếu có người chiến thắng, người chiến thắng vòng đấu trước sẽ trở thành nhà cái của vòng đấu sau, và bộ bài sẽ được chia lại từ đầu cho vòng đấu mới.

Dưới đây là bảng các yaku trong Koi Koi. Lưu ý rằng các yaku có thể được tính chồng lên nhau. (Ví dụ, với yaku Akatan nếu có thêm hai lá tanzaku nữa có thể được chồng thêm với yaku Tanzaku)

Số điểm[3] Yaku Kết hợp Ví dụ
10 Gokō (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) "Ngũ Quang" 5 lá 20 điểm          
8 Shikō (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) "Tứ Quang" Bốn lá 20 điểm trừ lá Ono no Michikaze của tháng 11.        
7 Ame-Shikō (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) "Vũ Tứ Quang" Bốn lá 20 điểm, với lá Ono no Michizake của tháng 11.        
5 Sankō (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) "Tam Quang" Ba lá 20 điểm, trong đó không có lá Ono no Michizake.      
5 Tsukimi-zake (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) "Nguyệt Kiến Tửu" (thưởng rượu ngắm trăng) Lá mặt trăng và cốc rượu (của tháng 8 và tháng 9)    
5 Hanami-zake (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) "Hoa Kiến Tửu" (thưởng rượu ngắm hoa đào) Lá 20 điểm tháng 3 và lá 10 điểm của tháng 9.    
5 Inoshikachō (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) "Lợn rừng, Nai và Bướm" Lá Lợn rừng, Nai và Bướm.      
1 Tane (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) 5 lá 10 điểm bất kì. Thưởng thêm 1 điểm cho mỗi lá 10 điểm.          
10 Akatan Aotan no Chōfuku (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) Thơ đỏ, Tanzaku xanh kết hợp Cả ba lá thơ đỏ và ba lá tanzaku màu xanh.            
5 Akatan (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) "Tanzaku đỏ" Cả ba lá tanzaku đỏ có thơ.      
5 Aotan (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) Tanzaku xanh Cả ba lá tanzaku xanh.      
1 Tanzaku (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) 5 lá tanzaku bất kì. Thưởng thêm 1 điểm cho mỗi lá tanzaku thêm.          
1 Kasu (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) 10 lá 1 điểm bất kì. Thưởng thêm 1 điểm cho mỗi lá 1 điểm có thêm.          
         

Lá bài cốc rượu Sake   là lá bài đặc biệt: Dù vốn là lá bài 10 điểm, nhưng nó được tính như lá bài 10 điểm và lá bài 1 điểm cùng một lúc, tức là cũng có thể được sử dụng trong yaku Kasu. Một số luật chơi tính lá bài này là 1 lá 10 điểm hoặc tương đương với 2 lá 1 điểm.

Đặc biệt

Sau khi nhận được 8 lá bài chia ra, nếu người chơi có một trong hai yaku đặc biệt dưới đây thì ngay lập tức sẽ được thưởng 6 điểm:

  • Teshi (手四): Trong bài có 4 lá cùng một tháng.
  • Kuttsuki (くっつき): Trong bài có 4 đôi bài cùng chất.

Tuy nhiên, nếu một trong hai yaku này xuất hiện trên bàn chơi, vòng đấu đó sẽ bị huỷ và chia lại bài.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ "How to Play: Koi-Koi". Boardgamegeek (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2020.
  2. ^ "Game Boy". Metropolis Japan (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2020.
  3. ^ a b "歴史・遊びかた|花札・株札|任天堂" [History / How to play - Hanafuda / Kabufuda - Nintendo]. 任天堂ホームページ (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2020.
  4. ^ a b c d e f g h i j 江橋崇 (2014). 花札. ものと人間の文化史. 法政大学出版局. ISBN 9784588216718.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ref trùng mặc định (liên kết)

Chú thích

  1. ^ Vào trung kỳ Edo, chỉ có lá bài với con chim vành khuyên Nhật Bản mới có hoa mơ màu đỏ, các lá bài cùng chất khác thì có hoa mơ màu trắng nhạt. Mặc dù trên lá bài ngày nay, mắt của con chim vành khuyên có màu đỏ, tuy nhiên vào trung kỳ Edo, con mắt ấy có màu khá mờ đục (đậm hơn màu của hoa diên vĩ và hoa hông lông) và gần với màu mắt của chim vành khuyên Nhật Bản trên thực tế. [4]
  2. ^ Bài lá hanafuda vào thời trung kỳ Edo không có phông nền mà chỉ có cành hoa tử đằng và một con chim cu cu. Màu sắc của hoa khi đó có phần nhợt nhạt. Đến thời kỳ Meiji, màu sắc của hoa dần đậm hơn và bắt đầu xuất hiện những đám mây màu đỏ ở phía sau. Vào khoảng thập niên 1880, bắt đầu xuất hiện "vầng trăng khuyết màu đỏ" ở phía sau. [4]
  3. ^ Vào trung kỳ Edo, lá bài có điểm có bông hoa mẫu đơn màu trắng, còn lá bài Kasu có hoa mẫu đơn màu tím hay là hai bông hoa đỏ và một bông hoa trắng. [4]
  4. ^ In the mid-Edo period, the color of the flowers were quite pale, but in later periods, the color became darker.[4]
  5. ^ Sometimes 芒 susuki is translated as pampas (grass).
  6. ^ The "bright red night sky" is said to have changed from plain or light blue in the early period, to yellow or light pink in the late Edo period, to bright red in the Meiji period. Also, during the era of woodblock printing, the moon was hidden at the bottom or left edge (sometimes a crescent moon). White was the color of the unprinted parts, so it was difficult to paint around it and leave it alone while using woodblocks.[4]
  7. ^ Throughout the Edo period to today, the three geese are depicted flying in the shape of the letter く, but around the 1880s, they were flying in a parallel line like 三 and filled the entire sky. For this reason, geese were considered large birds and formed a yaku with the Crane and Phoenix in some games.[4]
  8. ^ In the mid-Edo period, one of the kasu had a red chrysanthemum while the rest were white chrysanthemums. From the late Edo period onwards, cards with yellow-red flowers began to appear.[4]
  9. ^ Originally, the figure with umbrella was a yōkai (amefurikozō), whom people from the Edo period recognized as the highwayman Sadakurō from the play Kanadehon Chūshingura.[4] In 1886, the publisher Maeda Kihei (前田喜兵衛) negotiated with manufacturers in Kyoto and Osaka to change the design from Sadakurō to the calligrapher Ono no Michikaze to improve the image.
  10. ^ Today, the swallows are brightly colored yellow and red, but in the mid-Edo period, they were normal swallow colors (black with a red throat).[4]
  11. ^ This card's design is significantly different from the other rain cards, but from the Edo to early Meiji periods, it was like other kasu with only a willow tree drawn on it. In the early 1880s, it began being painted solid red, and in the late 1880s, the picture was changed from a sunny willow tree to the lightning drum in the rain.[4]