Tùng Quân
Tùng Quân | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Chức vụ | |||||||||
| Nhiệm kỳ | 1821 – 1822 | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 1812 – 1813 | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 1793 – 1794 | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 1814 – 1817 | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 1813 – 1814 | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 1811 – 1813 | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 12 tháng 7 năm 1829 – 21 tháng 9 năm 1830 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Ngọc Lân | ||||||||
| Kế nhiệm | Mục Chương A | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 19 tháng 6 – 30 tháng 7 năm 1821 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Bá Lân | ||||||||
| Kế nhiệm | Tấn Xương | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 3 tháng 8 – 1 tháng 11 năm 1819 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Sùng Lộc | ||||||||
| Kế nhiệm | Hòa Thế Thái | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 19 tháng 6 năm 1826 – 12 tháng 7 năm 1829 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Mục Khắc Đăng Ngạch | ||||||||
| Kế nhiệm | Phó Khởi Đồ | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 23 tháng 1 – 3 tháng 8 năm 1819 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Mục Khắc Đăng Ngạch | ||||||||
| Kế nhiệm | Sùng Lộc | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 19 tháng 6 – 30 tháng 7 năm 1821 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Na Ngạn Thành | ||||||||
| Kế nhiệm | Văn Phu | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 5 tháng 11 năm 1811 – 14 tháng 10 năm 1813 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Hô Đồ Lễ | ||||||||
| Kế nhiệm | Thiết Bảo | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 13 tháng 2 – 6 tháng 3 năm 1799 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Phúc Trường An | ||||||||
| Kế nhiệm | Bố Ngạn Đạt Lại | ||||||||
| Nhiệm kỳ | 14 tháng 8 năm 1794 – 13 tháng 2 năm 1799 | ||||||||
| Tiền nhiệm | Hòa Lâm | ||||||||
| Kế nhiệm | Na Ngạn Thành | ||||||||
Thông tin cá nhân | |||||||||
| Sinh | 1752 | ||||||||
| Mất | 1835 (82–83 tuổi) | ||||||||
| Tên tiếng Trung | |||||||||
| Tiếng Trung | Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). | ||||||||
| |||||||||
| Tên tiếng Mãn | |||||||||
| Bảng chữ cái tiếng Mãn | ᠰᡠᠩᠶᡡᠨ | ||||||||
Tùng Quân[1] (chữ Hán: 松筠; tiếng Mãn: ᠰᡠᠩᠶᡡᠨ, Muellendorff: Sungyūn, 1752 – 1835), có sách ghi là Tùng Duân,[2] hiệu Tương Phố (湘浦), có thuyết nói hiệu về cuối đời là Bách Nhị Lão Nhân (百二老人), người Mông Cổ Chính Lam kỳ, họ Mã Lạp Đặc (瑪拉特),[1] là đại thần thời Thanh nổi tiếng trải ba triều Càn Long, Gia Khánh, Đạo Quang trong suốt 52 năm. Tùng Quân sinh ra trong một gia đình nô tỳ nghèo khổ, sau đó từ sinh viên phiên dịch bước vào hoạn đồ, trải qua các chức Trú Tạng đại thần, Tổng đốc Thiểm Tây, Tướng quân Y Lê, Quân cơ đại thần. Ông nhiều ngày ở biên cương làm quan lớn giữ một phương, hiểu rất rõ tình hình ngoại biên, các tác phẩm ông biên soạn như Ổn phục kỷ lược, Tây Tạng tuần biên ký, Tạng Ninh lộ trình đến nay vẫn là tài liệu tham khảo quan trọng đối với các học giả và các ngành khoa học có liên quan.[2]
Tiểu sử
Tùng Quân xuất thân từ Bút thiếp thức, từng kinh qua nhiều chức quan như Nội các học sĩ, Nội vụ phủ Đại thần, Tổng đốc Lưỡng Giang, Tổng đốc Lưỡng Quảng, Hiệp biện Đại học sĩ, Đông các Đại học sĩ, Vũ Anh điện Đại học sĩ, Thượng thư 5 bộ là Lại, Hộ, Lễ, Binh và Công.[1] Ông ba lần được điều vào Quân cơ xứ làm Quân cơ đại thần. Nửa đời Tùng Quân gắn bó với vùng biên cương, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Khố Luân biện sự đại thần, Trú Tạng biện sự đại thần, Tổng đốc Thiểm Cam, và Tướng quân Y Lê.[1]
Ông có nhiều đóng góp nổi bật cho thương mại, quản lý quan lại, thủy lợi và nông nghiệp ở những vùng này, lập được nhiều công trạng ở biên giới. Tuy nhiên, với tính cách cương trực, không a dua xu nịnh, con đường quan lộ của ông gặp nhiều thăng trầm. Ông từng bị giáng chức nặng trong vụ án thất lạc đại ấn của Bộ Binh thời Gia Khánh, nhiều lần bị bãi chức và chịu nhiều thất bại hơn nữa khi về già. Cuối thời Càn Long, khi còn là Quân cơ đại thần, Tùng Quân từng nhận lệnh của vua Càn Long tiễn phái đoàn đặc sứ Anh do Macartney dẫn đầu về nước. Theo mô tả của Macartney, Tùng Quân rất đồng cảm với việc phái đoàn không đạt được 7 yêu cầu thương mại, thậm chí còn ủng hộ những đề nghị này vì cho rằng chúng có lợi cho giao lưu và hiểu biết giữa hai nước.
Ông cũng từng đảm nhiệm chức vụ Đô thống Mãn Châu của các kỳ như Tương Lam kỳ vào năm Gia Khánh thứ 21 (1816), Chính Hồng kỳ vào năm Gia Khánh thứ 24 (1819), Tương Bạch kỳ vào năm Đạo Quang thứ 6 (1826), sau chuyển sang Chính Lam kỳ và Chính Hoàng kỳ vào năm Đạo Quang thứ 10 (1830). Năm Đạo Quang thứ 15 (1835), Tùng Quân qua đời, được ban thụy hiệu Văn Thanh (文清), di hài chôn cất tại Tùng Vương Phần.[1]
Dật sự
Theo cuốn Thanh triều dã sử đại quan, Đạo Quang mười phần coi trọng Quân cơ đại thần Tùng Quân, việc triều chính thường ngày phần lớn giao cho ông xử lý. Một lần Tùng Quân xin nghỉ vài hôm, Đạo Quang cho rằng trong nhà ông có việc nên xin nghỉ, cũng là thường tình, không cảm thấy có gì bất thường. Hôm sau, sau khi triệu kiến Quân cơ đại thần vào tấu đối, Đạo Quang tiện dịp hỏi một câu: "Tùng Quân có việc gì mà xin nghỉ?". Một vị Quân cơ đại thần lập tức đáp "Vì Kỳ chủ kỳ ấy trong nhà có tang, Tùng Quân theo lệ phải về để làm đương sai". Đạo Quang vừa nghe câu ấy trong lòng lập tức không vui, một Kỳ chủ ngươi trong nhà có tang lại khiến một đại thần trong triều bỏ mặc công vụ không đếm xỉa tới để làm đương sai, vả lại còn là "theo lệ phải về để nghe sai khiến", tức trước kia đã có, từ nay trở đi sẽ còn xảy ra. Đạo Quang lập tức nói với viên Quân cơ đại thần ấy: "Ngươi tới đó xem, nếu không có việc gì thật cần thiết, thì bảo y nên về làm việc sớm". Lúc ấy viên đại thần kia lập tức tuân lệnh lên đường. Tới nhà vị Kỳ chủ kia, ông ta nhìn thấy Tùng Quân mặc một chiếc áo tang trắng (mũ áo đại triều đã cởi ra hết) đang đánh trống thổi sáo ngoài cổng lớn, cùng đám Xuy cổ thủ tấu nhạc đám ma. Lúc ấy viên đại thần kia bèn truyền đạt chỉ ý của hoàng thượng cho Tùng Quân. Sáng sớm hôm sau vào triều, ông ta lại tâu với Đạo Quang về tình hình cụ thể chính mắt nhìn thấy. Đạo Quang nghe xong cả giận, cho là viên Kỳ chủ kia "có ý làm nhục bậc đại thần". Ngay hôm ấy, ông bèn ra chỉ miễn cho Tùng Quân thoát khỏi nô tịch, từ đó nâng cao địa vị của Tùng Quân trong đạo Mông Cổ Chính Lam kỳ.[3]
Giai thoại
Năm Gia Khánh thứ 24, Gia Khánh Đế muốn xuất cung ngự giá tuần du. Đại học sĩ Tùng Quân biết trong lòng rất lo lắng, chỉ sợ hoàng đế đi chuyến này chẳng lành. Những lời trong lòng Tùng Quân không thể nói rõ với bề trên, chỉ tâu bằng những lời vòng vo, nói rằng ban đêm xem hiện tượng thiên văn không tốt, không nên xuất du. Nghe xong, Gia Khánh Đế cả giận ra một đạo dụ mới: "Từ xưa lấy hiếu trị thiên hạ, trẫm xuất quan tế tổ tiên lẽ sao lại chẳng lành". Do vậy, Tùng Quân bị tước quan, giáng làm Hiệu phiên kỵ. Sau đó, Gia Khánh Đế băng hà ở hành cung tại Nhiệt Hà. Đạo Quang Đế nối ngôi quay về triều. Vừa tiến vào Tây Trực Môn trông thấy Tùng Quân mang quân dẹp đường, nhớ lại những lời Tùng Quân tâu can Gia Khánh Đế, mới rõ hàm ý trong lời nói, biết rõ đó là trọng thần có lòng trung thành vô hạn, lập tức khôi phục cho nguyên chức.[4]
Tác phẩm
Tùng Quân có học vấn uyên bác. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm, bao gồm: Tùy phục kỷ lược (綏服紀略), Tây chiêu kỷ hành thi (西招紀行詩), Tây chiêu đồ lược (西招圖略) và Cổ phẩm tiết lục (古品節錄). Ông cũng chủ trì biên soạn Tân Cương thức lược (新疆識略) 12 quyển và Tây Thùy tổng thống sự lược (西陲總統事略) 12 quyển.[1] Một số học giả cho rằng cuốn Vệ Tạng thông chí (衛藏通志) cũng là tác phẩm của ông khi còn làm đại thần ở Tây Tạng. Ngoài ra, ông còn có tác phẩm viết bằng tiếng Mãn là Bách Nhị Lão Nhân ngữ lục (百二老人語錄) 8 quyển. Về nghệ thuật, Tùng Quân nổi tiếng nhất với thư pháp, đặc biệt là tài viết chữ "hổ" rất lớn. Người đương thời thậm chí tin rằng chữ "hổ" của ông có thể trừ tà. Theo Tiếu đình tạp lục (啸亭杂录) của Chiêu Liễn, ông "khi ở nhà rất thích nghiên cứu lý học, sách của Trình Chu cả ngày không rời tay".
Gia đình
- Cao tằng tổ: Đạt Nhĩ Mật Đề (達爾密砥).
- Cao tổ: Ba Ngạn (巴彥).
- Tằng tổ: Ngũ Thập Cửu (五十九).
- Tổ phụ: Thư Lặc Hách (舒勒赫).
- Phụ thân: Ban Đạt Nhĩ Thập (班達爾什).
- Chính thất: Sát Cáp Nhĩ thị (察哈爾氏).
- Con trai: Kính Thận công Hy Xương (熙昌), Thị lang hai bộ Hình và Công, quyền chức Đô thống Nhiệt Hà kiêm Hộ quân Thống lĩnh.
- Cháu gái: Mã Lạp Đặc thị (瑪拉特氏), gả cho Tông thất Vinh Tường (榮祥) (cha là Tương Lam kỳ Tông thất Ngọc Phúc, ông nội là Thượng thư Bộ Lại Cần Hi công Tông thất Lâm Ninh, tổ tiên là Trang Thân vương Thư Nhĩ Cáp Tề).
- Cháu gái: Mã Lạp Đặc thị (瑪拉特氏), kế phối (vợ kế) gả cho Tông thất Tường Xương (祥昌) (cao tổ là Dụ Thân vương Quảng Ninh).
- Con trai: Hy Khánh (熙慶).
- Con trai: Hy Luân (熙綸).
- Thê tử: Bích Lộ thị (碧魯氏) (cha là Tương Bạch kỳ Mãn Châu, Thiểm Tây Bố chính sứ Nhạc Linh An; anh trai là Y Miên A). Hy Luân và Tông thất Thường Bích, cháu trai của Lễ bộ Thượng thư Phú Sát Quý Khánh, là anh em rể. Chi tộc Bích Lộ thị ở Tương Bạch kỳ này vào cuối đời nhà Thanh có Hòa Thạc Duệ Khác Thân vương Đức Trường đích phúc tấn; phu nhân của Tương Hoàng kỳ Mông Cổ, Đồng Trị Mậu Thân Tiến sĩ, Lại bộ Thượng thư Tích Trân (tức ông nội của Văn Tú); vợ của Chính Lam kỳ Mãn Châu, Đồng Trị Ất Sửu Tiến sĩ Phúc Thần; đích phu nhân của Quận vương hàm Đa La Bối lặc Tái Huân; và đích phúc tấn của Hòa Thạc Cung Hiền Thân vương Phổ Vĩ.
- Cháu trai: Văn Tú (文琇).
- Thê tử: Ái Tân Giác La thị (cha là Giác La Khuê Đống, tổ tiên là Giác La Bao Lãng A); Qua Nhĩ Giai thị (cha là Chính Hồng kỳ Mãn Châu, Hình bộ Thị lang, Trú Tạng Đại thần Bân Lương; cậu là Văn Hoa điện Đại học sĩ, Văn Đoan công Quế Lương; ông nội là Tổng đốc Mân Triết, Tướng quân Phúc Châu Ngọc Đức).
- Con trai: Quang Tự Nhâm Ngọ khoa Cử nhân Lân Hỗ (麟祜).
- Vợ của Lân Hỗ: Giác La thị (tổ tiên là Cảnh Tổ Dực Hoàng đế Giác Xương An).
- Con gái: Mã Lạp Đặc thị (瑪拉特氏), gả cho Tương Hoàng kỳ Mãn Châu Phú Sát thị Dự Hàm (cha là Tổng đốc Giang Nam Hà đạo Canh Trường, cậu là Tổng đốc Mân Triết kiêm quyền chức Tướng quân Phúc Châu Khánh Đoan, tằng tổ là Văn Định công Thác Tân).
- Con gái: Mã Lạp Đặc thị (瑪拉特氏), gả cho Tông thất Dục Tuyền (ông nội là Cử nhân khoa Quý Mão đời Đạo Quang Tông thất Tái Nghi, cao tổ là Bối tử Miên Phổ, tổ tiên là Lý Khác Quận vương Hoằng Ái).
- Cháu trai: Tháp Tư Cáp (塔思哈).
- Cháu gái: Mã Lạp Đặc thị (瑪拉特氏), gả cho Chính Hồng kỳ Mông Cổ, Hàm Phong năm thứ 11 (1861) Tân Dậu khoa Cử nhân, Đồng Trị năm thứ 4 (1865) Ất Sửu khoa Tam giáp Tiến sĩ Tát Nhĩ Đồ thị Bách Cần (tự Thiết Nham, 1835-?, thuộc Mãn Châu kỳ nhân của Chính Hồng kỳ Mông Cổ, họ được ghi trong Bát kỳ Mãn Châu thị tộc thông phổ quyển 67; cha là Thượng Bảo, ông nội là Thường Thái, tằng tổ là Thiện Phúc, các bậc tiền bối của gia tộc tham khảo Trử Khố). Lúc đó thuộc Tả lĩnh Ngọc Tường, Chính Hồng kỳ Mông Cổ, Công bộ Viên ngoại lang, được ban đội mũ Lam linh. Bách Cần ở kinh đô đã tham gia '"Tuyển Thu thi xã" do Tiến sĩ người Hán ở Chính Lam kỳ là Hồ Tuấn Chương chủ trì, các tác phẩm thơ của ông được ghi lại trong sách Xuân minh thi khóa hối tuyển do Hồ Tuấn Chương biên soạn.
- Cháu gái: Mã Lạp Đặc thị (瑪拉特氏), gả cho Chinh Hậu (徵厚).
Tham khảo
- ^ a b c d e f Triệu Nhĩ Tốn (1988). Thanh sử cảo. Quyển 342. Trung Hoa thư cục.
- ^ a b Chử Cống Sinh (2004). Lịch sử nô tỳ. Cao Tự Thanh biên dịch. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Tổng hợp TP. HCM. tr. 107–109.
- ^ Tiểu Hoành Hương thất chủ nhân (1990). Thanh triều dã sử đại quan. Thượng Hải văn nghệ xuất bản xã. tr. 111–112.
- ^ Phổ Nghi (2009). Nửa đời đã qua. Lê Đình Khẩn biên dịch. Nxb. Thanh Niên. tr. 240.
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Trang có lỗi kịch bản
- Không có hình ảnh địa phương nhưng hình ảnh về Wikidata
- Sinh năm 1752
- Mất năm 1835
- Quan nhà Thanh
- Nhà văn thời Thanh
- Đại học sĩ thời Thanh
- Hiệp biện Đại học sĩ
- Tướng quân Y Lê
- Tổng đốc Nam Hà
- Tổng đốc Trực Lệ
- Tổng đốc Thiểm Cam
- Tổng đốc Lưỡng Giang
- Tổng đốc Lưỡng Quảng
- Nhà văn du ký Trung Quốc
- Quân cơ đại thần thời Thanh
- Người Mông Cổ Chính Lam kỳ
- Người Trung Quốc gốc Mông Cổ
- Viên chức chính quyền Tây Tạng
- Viên chức chính quyền Tân Cương
- Viên chức chính quyền Quảng Đông
- Quân cơ đại thần
- Đại học sĩ nhà Thanh
- Nhà văn nhà Thanh