Bước tới nội dung

Piece of Mind

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>InternetArchiveBot sửa đổi vào lúc 17:53, ngày 26 tháng 5 năm 2026 (Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5). Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)
Piece of Mind
Tập tin:Iron Maiden - Piece Of Mind.jpg
Album phòng thu của Iron Maiden
Phát hành16 tháng 5 năm 1983 (1983-05-16)
Thu âmTháng 1 – tháng 3 năm 1983
Phòng thuCompass Point (Nassau, Bahamas)
Thể loạiHeavy metal
Thời lượng45:28
Hãng đĩaEMI
Sản xuấtMartin Birch
Thứ tự Iron Maiden
The Number of the Beast
(1982)
Piece of Mind
(1983)
Powerslave
(1984)
Đĩa đơn từ Piece of Mind
  1. "Flight of Icarus"
    Phát hành: 11 tháng 4 năm 1983
  2. "The Trooper"
    Phát hành: 20 tháng 6 năm 1983

Piece of Mind là album phòng thu thứ tư của ban nhạc heavy metal người Anh Iron Maiden. Album lần lượt được EMI Records chọn phát hành tại Anh và Capitol Records phát hành tại Mỹ vào cùng ngày 16 tháng 5 năm 1983. Đây là album đầu tiên có sự góp mặt của tay trống Nicko McBrain - người lúc ấy vừa chia tay ban nhạc Trust. Piece of Mind đã đạt được thành công cả về mặt chuyên môn lẫn thương mại, đạt vị trí thứ ba trên UK Albums Chart và được chứng nhận đĩa Bạch kim tại Anh và Bắc Mỹ.

Hoàn cảnh ra đời

Vào tháng 12 năm 1982, tay trống Clive Burr chấm dứt hợp tác với ban nhạc do các vấn đề cá nhân và lịch trình lưu diễn dày đặc. Người được chọn thay thế ông là Nicko McBrain - cựu thành viên của ban nhạc Pháp Trust, cũng như từng chơi cho Pat TraversStreetwalkers.[1] Ngay sau đó, ban nhạc tới Jersey để sáng tác các ca khúc, họ thuê khách sạn Le Chalet (vì lúc đó đang trái mùa) và tập luyện trong nhà hàng của khách sạn. Đến tháng 2, ban nhạc lần đầu tiên tới Bahamas để thu âm album tại Compass Point StudiosNassau. Công tác thu âm hoàn tất vào tháng 3 và sau đó album được hòa âm tại Electric Lady Studios, thành phố New York.[2]

Đây là album đầu tiên trong số bốn album của Iron Maiden không được đặt theo tên một bài hát có trong chính album đó (mặc dù lời bài hát "Still Life" có chứa cụm từ "peace of mind"). Ban đầu, tựa đề dự kiến của album là Food for Thought (sau khi ban nhạc quyết định hình ảnh Eddie trên bìa trước sẽ bị thủ thuật mở sọ), cho đến khi họ nảy ra ý tưởng tựa đề Piece of Mind trong một quán rượu ở Jersey ở giai đoạn sáng tác album.[3] Trong phần ghi chú album là một phiên bản được sửa đổi một chút của một đoạn trích từ Sách Khải Huyền, có nội dung như sau: "And God shall wipe away all tears from their eyes; and there shall be no more Death. Neither sorrow, nor crying. Neither shall there be any more brain; for the former things are passed away".[a][4] Nguyên văn thực tế (từ Chương 21, Câu 4) gần như giống hệt, ngoại trừ việc nó ghi là "sẽ chẳng còn nỗi đau nào nữa" thay vì "bộ não". Từ "bộ não" (brain) được thêm vào như một cách chơi chữ dựa trên tựa đề album.[4] Ở một góc thấp hơn trên mặt sau của bìa album có ghi dòng thông điệp này: "Không có synthesizer hay động cơ thầm kín nào".

Sáng tác

Về mặt ca từ, album phần lớn phản ánh sở thích văn học của nhóm, chẳng hạn như: "To Tame a Land" (lấy cảm hứng từ tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Dune (1965) của Frank Herbert),[5] "Sun and Steel" (dựa trên cuộc đời của samurai Miyamoto Musashi[6] và tựa đề được lấy từ tiểu luận Sun and Steel ([1968] của Mishima Yukio), "Still Life" (chịu ảnh hưởng từ truyện ngắn "The Inhabitant of the Lake" [1964] của Ramsey Campbell)[6] và "The Trooper" (lấy cảm hứng từ bài thơ "The Charge of the Light Brigade" [1854] của Alfred Tennyson).[7] Ảnh hưởng của điện ảnh cũng hiện diện trong album, như "Where Eagles Dare" (dựa trên bộ phim cùng tên năm 1968 của Brian G. Hutton do Alistair MacLean viết kịch bản)[8] và "Quest for Fire" (dựa trên bộ phim cùng tên [1981] của Jean-Jacques Annaud - bộ phim đã ghép một cách sai lầm khủng long và con người vào cùng một thời kỳ lịch sử).[5] Bên cạnh đó, bài hát "Revelations" (do Dickinson sáng tác)[9] có chứa những dòng thơ từ bài thánh ca "O God of Earth and Altar" của G. K. Chesterton,[10] trong khi phần còn lại của bài hát chịu ảnh hưởng từ Aleister Crowley.[6] Một nguồn cảm hứng khác thường hơn là thần thoại Hy Lạp, dù đã được cải biên đôi chút, với bài "Flight of Icarus".[6] Ban đầu, "To Tame a Land" được dự định đặt tên là "Dune" theo tựa cuốn tiểu thuyết, nhưng sau khi xin phép đại diện của Frank Herbert, ban nhạc nhận được một thông điệp nói rằng: "Frank Herbert không thích các ban nhạc rock, đặc biệt là các ban nhạc heavy rock và nhất là những ban nhạc kiểu như Iron Maiden", nên họ buộc phải đổi tên.[5]

Thông điệp ẩn

"Chúng tôi phát mệt với việc bị gán mác là kẻ thờ cúng Ma quỷ và tất cả những chuyện nhảm nhí đó từ lũ ngốc chết tiệt ở Mỹ, nên chúng tôi nghĩ, 'Được rồi, chúng mày muốn trêu gan à? Tao sẽ cho chúng mày biết thế nào là trêu gan, nhé!' Và một trong những đứa trong ban đã ghi âm tôi lúc tôi đang diễn trò nhại Idi Amin mà tôi hay làm khi đã nhậu hơi quá chén. Tôi nhớ rõ ràng nó kết thúc bằng câu: 'Don't meddle wid t'ings yo don't understand.' Chúng tôi nghĩ, nếu người ta cứ ngu ngốc về mấy chuyện kiểu này, thì chúng tôi chiều họ, cho họ một thứ để mà thực sự ngu ngốc, hiểu chứ?"

—Lời chia sẻ của tay trống Nicko McBrain về thông điệp ẩn của ca khúc.[2]

Ở phần đầu ca khúc thứ sáu ("Still Life"), ban nhạc đã cài cắm một thông điệp ẩn - chỉ có thể được nghe rõ khi mở bài hát theo chiều ngược lại (ngược đĩa). Đây là một trò đùa và là một cú "đáp trả" có chủ đích nhắm vào những nhà phê bình đã buộc tội Iron Maiden cổ xúy Satan.[11] Thông điệp ngược này ghi lại tiếng tay trống Nicko McBrain bắt chước diễn viên John Bird khi ông nhại lại giọng của Idi Amin: "What ho said the t'ing with the three 'bonce', don't meddle with things you don't understand...",[b] rồi sau đó là một tiếng ợ.[6][11] Bản thân câu nói này được lấy từ album châm biếm The Collected Broadcasts of Idi Amin (1975) của Bird và Alan Coren.[6] Cụm từ "What ho""What ho said the t'ing" cũng thường xuyên xuất hiện trong các track "Listen With Nicko!" của McBrain trong đĩa tuyển tập The First Ten Years.

Phát hành và đón nhận

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
NguồnĐánh giá
AllMusic[8]
Pitchfork8,5/10[13]
Rolling Stone[12]
Sputnikmusic[14]

Tiếp nối sau đĩa đơn "Flight of Icarus" (phát hành ngày 28 tháng 4), Piece of Mind chính thức ra mắt vào ngày 16 tháng 5 năm 1983. Album đạt vị trí cao nhất là thứ 3 trên UK Albums Chart[15] và giữ vững vị trí trong bảng suốt 18 tuần. Tại Bắc Mỹ, album trở thành tác phẩm xếp hạng cao nhất của ban nhạc vào thời điểm đó - đạt vị trí thứ 14 trên bảng xếp hạng Billboard 200.[16] Đến tháng 7, Piece of Mind đã được RIAA chứng nhận đĩa Vàng[17] và được nâng lên thành đĩa Bạch Kim vào năm 1986.[18] Đến năm 1995, album cũng đạt được chứng nhận đĩa Bạch Kim tại Anh.[19]

Năm 1983, tạp chí Kerrang! công bố một cuộc bình chọn các album metal vĩ đại nhất mọi thời đại, trong đó Piece of Mind xếp số 1 và The Number of the Beast xếp số 2.[3] Các bài đánh giá thời đó hầu hết đều tích cực. Sputnikmusic ca ngợi đây "dễ dàng là một album phải có trong bộ sưu tập của bạn" (dù họ cho rằng "những album như Powerslave [1984], Somewhere in Time [1986] và Brave New World [2000] sẽ vượt mặt nó").[14] AllMusic mô tả album này là "thiết yếu cho bất kỳ ai có dù chỉ là sự quan tâm cơ bản nhất đến heavy metal", mặc dù "nửa sau của album có phần giảm nhiệt so với nửa đầu".[8] Trong một bài đánh giá trái chiều từ Rolling Stone, tạp chí nhận xét: "Cả Piece of MindPowerslave đều diễn tiến tương tự, dù rằng sự hấp dẫn về giai điệu đã giảm bớt..."[12] Năm 2007, album được xếp hạng 21 trong danh sách 25 album metal hàng đầu của IGN.[20]

Lưu diễn

Chặng lưu diễn tại Vương quốc Anh của World Piece Tour khởi động tại Hull City Hall vào ngày 2 tháng 5. Các chặng tiếp theo diễn ra ở Châu Âu, Hoa Kỳ, sau đó là một chuyến lưu diễn Châu Âu lần thứ hai đã được thực hiện trước khi chuyến lưu diễn kết thúc vào ngày 18 tháng 12 với màn trình diễn được truyền hình trực tiếp tại Westfalenhalle, Dortmund.[21] Tổng cộng, 139 buổi diễn đã được thực hiện trong suốt chuyến lưu diễn.[22]

Chuyến lưu diễn này có sự tham gia hỗ trợ của Grand Prix tại Anh, Rock Goddess trong chặng châu Âu đầu tiên, Saxon, Fastway, Coney Hatch, Quiet RiotAxe tại Hoa Kỳ; và Michael Schenker Group trong chặng châu Âu thứ hai. Ban nhạc địa phương Hà Lan Vandale cũng hỗ trợ họ trong buổi diễn tại Kerkrade.[23]

Các bản cover

Năm 2010, Maiden uniteD (với giọng ca chính Damian Wilson) đã phát hành một phiên bản tái thể hiện toàn bộ album bằng acoustic với tựa đề Mind the Acoustic Pieces.[24]

Hai bài hát đã được cover cho album tri ân năm 2008 Maiden Heaven: A Tribute to Iron Maiden: "The Trooper" bởi Coheed and Cambria và "To Tame a Land" bởi Dream Theater.[25] Bài "To Tame a Land" cũng được đưa vào ấn bản đặc biệt của album Black Clouds & Silver Linings (2009) của Dream Theater.

"The Trooper" đã được cover bởi ban nhạc doom/death metal người Phần Lan SentencedEP The Trooper (1994),[26] ban nhạc heavy metal người Mỹ Iced Earth trong "ấn bản lưu diễn" của album Dystopia (2011),[27] ban nhạc death metal Vital Remains trong album tri ân A Call to Irons (1998),[28] ban nhạc Christian metal Stryper ở album The Covering (2011)[29] và nghệ sĩ lounge người Thụy Điển Hellsongs trong album Hymns in the Key of 666 (2008).[30] Năm 2024, ban nhạc folk metal Mông Cổ The Hu đã phát hành một phiên bản tiếng Mông Cổ của "The Trooper" trong EP cùng tên của họ.[31]

"Where Eagles Dare" đã được cover bởi Fozzy ở album thứ hai Happenstance (2002).[32] Fozzy cũng cover bài "The Prisoner" (The Number of the Beast) ở album đầu tay Fozzy.[33] Bài hát cũng được cover bởi ban nhạc viking metal người Faroe Týr ở album Valkyrja (2013) và Deliverance ở album Hear What I Say! (2013).[34]

Danh sách ca khúc

Side one
STTTiêu đềSáng tácThời lượng
1."Where Eagles Dare"Steve Harris6:08
2."Revelations"Bruce Dickinson6:51
3."Flight of Icarus"
3:49
4."Die with Your Boots On"
  • Smith
  • Dickinson
  • Harris
5:22
Side two
STTTiêu đềSáng tácThời lượng
5."The Trooper"Harris4:10
6."Still Life"4:37
7."Quest for Fire"Harris3:40
8."Sun and Steel"
  • Dickinson
  • Smith
3:25
9."To Tame a Land"Harris7:26
Tổng thời lượng:45:28
1995 reissue bonus disc
STTTiêu đềSáng tácThời lượng
1."I've Got the Fire" (Montrose cover)Ronnie Montrose2:38
2."Cross-Eyed Mary" (Jethro Tull cover)Ian Anderson3:55
Tổng thời lượng:6:33
  • Các ấn bản đầu tiên của album đã ghi nhầm tên bài "To Tame a Land" thành "Dune", là tựa đề ban đầu của bài hát.[35]
  • TẤn bản đĩa hình (picture disc) đầu tiên tại Bắc Mỹ có bao gồm bài "Cross-Eyed Mary" như một ca khúc tặng thêm ở mặt một.
  • Ấn bản CD đầu tiên của Nhật Bản từ năm 1986 có thông điệp ẩn trước bài "Still Life" được tách ra thành một bài riêng, được liệt kê với tên là "Phatoor".

Nhân sự sản xuất

Thông tin sản xuất và biểu diễn được trích dẫn từ phần ghi chú trên bìa đĩa.[36][37]

Iron Maiden

Sản xuất

  • Martin "Black Night" Birch – nhà sản xuất, kỹ sư, trộn âm
  • Frank Gibson – kỹ sư trợ lý
  • Denis Haliburton – kỹ sư trợ lý
  • Bruce Buchhalter – kỹ sư trộn âm trợ lý
  • Derek Riggsminh họa bìa, thiết kế bìa, dựng ý tưởng bìa
  • Simon Fowler – chụp ảnh
  • Keith Peacock – giám đốc mỹ thuật (art continuation)
  • Rod Smallwood – quản lý, thiết kế vỏ bìa, dựng ý tưởng bìa
  • Andy Taylor – quản lý
  • George Marino tại Sterling Sound – master đĩa LP gốc ở Mỹ
  • Utopia Studios, Luân Đôn – master đĩa LP gốc ở Anh
  • Simon Heyworth – remaster (bản năm 1998)
  • Ross Halfin – chụp ảnh (bản năm 1998)
  • Robert Ellis – chụp ảnh (bản năm 1998)

Bảng xếp hạng

Chứng nhận

Quốc gia Chứng nhận Số đơn vị/doanh số chứng nhận
Úc (ARIA)[38] Vàng 20.000^
Canada (Music Canada)[56] 2× Bạch kim 200.000^
Phần Lan (Musiikkituottajat)[57] Vàng 25,000[57]
Đức (BVMI)[58] Vàng 250.000^
Nhật Bản (RIAJ)[45] Vàng 100.000^
New Zealand (RMNZ)[59] Vàng 7.500^
Thụy Điển (GLF)[60] Vàng 50.000^
Anh Quốc (BPI)[61] Bạch kim 300.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[62] Bạch kim 1.000.000^

^ Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng.

Ghi chú

  1. ^ Tạm dịch: Và Chúa sẽ lau sạch mọi giọt nước mắt khỏi mắt họ; và sẽ không còn Sự chết. Không còn đau buồn, hay than khóc. Cũng sẽ chẳng còn bộ não nào nữa; vì mọi thứ trước đây đã qua đi
  2. ^ Tạm dịch: "Ê này, cái thứ có ba 'đầu' đã nói thế, đừng có đụng vào những thứ mà mày không hiểu..."

Chú thích

  1. ^ Wall 2004, tr. 233.
  2. ^ a b Wall 2004, tr. 246.
  3. ^ a b Wall 2004, tr. 247.
  4. ^ a b Wall 2004, tr. 245.
  5. ^ a b c Wall 2004, tr. 244.
  6. ^ a b c d e f "Under the Influence". Classic Rock Presents Iron Maiden: From the East End to the World: 16–17. 2014.
  7. ^ "Iron Maiden Like You've Never Heard Them Before!". Blabbermouth.net. ngày 20 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012.
  8. ^ a b c Huey, Steve. Iron Maiden – Piece of Mind trên AllMusic
  9. ^ Touchard, Philippe (tháng 12 năm 1983). "Bruce Dickinson interview". Enfer Magazine (8).
  10. ^ Doran, John (2005). "Brain Damage". Metal Hammer Presents: Iron Maiden 30 Years of Metal Mayhem: 134–135.
  11. ^ a b Wiederhorn, Jon (ngày 16 tháng 5 năm 2023). "42 Years Ago: Iron Maiden Release 'Piece of Mind'". Loudwire (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2025.
  12. ^ a b J.D.C. (2004). "Iron Maiden: Piece of Mind". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). ISBN 9780743201698. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2022.
  13. ^ O'Connor, Andy (ngày 4 tháng 12 năm 2018). "Iron Maiden: Piece of Mind". Pitchfork (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2018.
  14. ^ a b Stagno, Mike (ngày 9 tháng 6 năm 2006). "Iron Maiden – Piece of Mind". Sputnikmusic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012.
  15. ^ "Iron Maiden – UK Chart History". Official Charts Company. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2012.
  16. ^ "Artist Chart History – Iron Maiden". Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2008.
  17. ^ "Heavyweight Champs of the '80s". Billboard. Quyển 97. ngày 27 tháng 4 năm 1985. tr. HM-13.
  18. ^ Grein, Paul (ngày 13 tháng 12 năm 1986). "Boston Certs Sweep Ties Record". Billboard. Quyển 98. tr. 4. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012.
  19. ^ "BPI: Certified Awards Search". British Phonographic Industry. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2013.
  20. ^ Thompson, Ed (ngày 19 tháng 1 năm 2007). "Top 25 Metal Albums". IGN. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012.
  21. ^ "World Piece Tour - 1983 - Iron Maiden". Iron Maiden. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2023.
  22. ^ Wall 2004, tr. 265.
  23. ^ "World Piece Tour". The Iron Maiden Commentary. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2023.
  24. ^ "Maiden United – Acoustic Tribute To Iron Maiden To Release Debut Album in December; Members of Threshold, Within Temptation, The Gathering Featured". Brave Words & Bloody Knuckles. ngày 13 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012.
  25. ^ "Kerrang! The making of Maiden Heaven". Kerrang!. ngày 16 tháng 7 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011.
  26. ^ "Sentenced – The Trooper (EP)". Metal Storm. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011.
  27. ^ "Iced Earth – Dystopia Tour Edition To Be Available at Merch Stands on North American Tour". Brave Words & Bloody Knuckles. ngày 14 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2012.
  28. ^ "A Call to Irons – A Tribute to Iron Maiden". Amazon. 1998. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011.
  29. ^ "Stryper: The Covering Album Pushed Back To Early 2011". Blabbermouth.net. ngày 24 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011.
  30. ^ Rivadavia, Eduardo. "Hellsongs – Hymns in the Key of 666". AllMusic. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
  31. ^ "Mongolian Rock Sensation THE HU Covers IRON MAIDEN Classic 'The Trooper'". Blabbermouth.net. ngày 4 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
  32. ^ "Fozzy – Happenstance". AllMusic. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011.
  33. ^ "Fozzy – Fozzy". AllMusic. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011.
  34. ^ "Deliverance: New Album To Include Cover Of Iron Maiden's 'Where Eagles Dare'". Blabbermouth.net. ngày 11 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2016.
  35. ^ "Iron Maiden - Piece Of Mind". Discogs. 1983. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
  36. ^ Iron Maiden (ngày 16 tháng 5 năm 1983). Piece of Mind (Ghi chú album) (bằng tiếng Anh). EMI.
  37. ^ Iron Maiden (1998). Piece of Mind Remastered (Ghi chú album) (bằng tiếng Anh). EMI.
  38. ^ a b Kent, David (1993). Australian Chart Book 1970–1992 (bằng tiếng Anh) . St Ives, N.S.W.: Australian Chart Book. ISBN 0-646-11917-6.
  39. ^ "Austriancharts.at – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  40. ^ "Top RPM Albums: Issue 6324a". RPM. Library and Archives Canada. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  41. ^ "Dutchcharts.nl – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  42. ^ Pennanen, Timo (2006). Sisältää hitin – levyt ja esittäjät Suomen musiikkilistoilla vuodesta 1972 (bằng tiếng Phần Lan) (ấn bản thứ 1). Helsinki: Kustannusosakeyhtiö Otava. tr. 166. ISBN 978-951-1-21053-5.
  43. ^ "Longplay-Chartverfolgung at Musicline" (bằng tiếng Đức). Musicline.de. Phononet GmbH. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  44. ^ "Classifiche". Musica e dischi (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024. Set "Tipo" on "Album". Then, in the "Titolo" field, search "Piece of mind".
  45. ^ a b Oricon Album Chart Book: Complete Edition 1970–2005 (bằng tiếng Nhật). Roppongi, Tokyo: Oricon Entertainment. 2006. ISBN 4-87131-077-9.
  46. ^ "Charts.nz – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  47. ^ "Norwegiancharts.com – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  48. ^ a b "Swedishcharts.com – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  49. ^ "Official Albums Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  50. ^ "Iron Maiden Chart History (Billboard 200)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  51. ^ "Spanishcharts.com – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  52. ^ "Greekcharts.com – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  53. ^ "Album Top 40 slágerlista – 2020. 22. hét" (bằng tiếng Hungary). MAHASZ. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  54. ^ "Official Rock & Metal Albums Chart Top 40" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2024.
  55. ^ "Top 100 Album-Jahrescharts" (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment Charts. 1983. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2022.
  56. ^ "Chứng nhận album Canada – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Anh). Music Canada.
  57. ^ a b "Chứng nhận album Phần Lan – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland.
  58. ^ "Gold-/Platin-Datenbank (Iron Maiden; 'Piece of Mind')" (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie.
  59. ^ Scapolo, Dean (2007). The Complete New Zealand Music Charts: 1966–2006 (bằng tiếng Anh). Maurienne House. ISBN 978-1-877443-00-8.
  60. ^ "Sweden Gold Award for Piece of Mind, 1984". Facebook.
  61. ^ "Chứng nhận album Anh Quốc – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.
  62. ^ "Chứng nhận album Hoa Kỳ – Iron Maiden – Piece of Mind" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ.

Tài liệu đọc thêm

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).