Nguyên phi

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>Hannahh1811 sửa đổi vào lúc 18:55, ngày 24 tháng 12 năm 2025 (Trang mới: “'''Nguyên phi''' (chữ Hán: 元妃) là một tước hiệu được phong cho phi tần trong thời phong kiến ở vùng Á Đông. Ở một vài triều đại, đây là tước vị dành cho chính thất của Hoàng đế, khi được dùng làm tước hiệu cho hậu phi thì vị trí rất cao, chỉ đứng sau Hoàng hậu. == Tiểu sử == === Trung Quốc === Tước vị Nguyên phi lần đầu xuất hiện dư…”). Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Nguyên phi (chữ Hán: 元妃) là một tước hiệu được phong cho phi tần trong thời phong kiến ở vùng Á Đông. Ở một vài triều đại, đây là tước vị dành cho chính thất của Hoàng đế, khi được dùng làm tước hiệu cho hậu phi thì vị trí rất cao, chỉ đứng sau Hoàng hậu.

Tiểu sử

Trung Quốc

Tước vị Nguyên phi lần đầu xuất hiện dưới thời Tiền Thục, đứng đầu các tước Phi và chỉ sau Hoàng hậu.

Danh hiệu này rất phổ biến trong triều đại nhà Kim, Hải Lăng Vương dâm loạn, thiết lập vị trí Nguyên phi cho hai phi tần được sủng ái là Đại thị và Nại Lại Hốt (奈剌忽). Kim Tuyên Tông cải tổ quy chế hậu cung, có các Phi kèm phong hiệu như [Quý phi; 貴妃], [Thục phi; 淑妃], [Đức phi; 德妃] và [Hiền phi; 賢妃], nhưng có bậc Nguyên phi là cao nhất, vị Chính nhất phẩm, chỉ đứng sau Hoàng hậu.

Vào thời Hậu Kim, thê thiếp của Đại Hãn được gọi chung là Phúc tấn. Theo sử liệu ghi lại, người vợ được cưới hỏi đầu tiên của Đại Hãn được gọi là Nguyên phi. Mãn Châu thực lục đề cập đến Nguyên phi Đông Giai thị của Nỗ Nhĩ Cáp Xích là "Tiên thú chi Phúc tấn"[1], tức Phúc tấn được cưới hỏi đầu tiên. Đến thời Hoàng Thái Cực, Thanh thực lục đề cập danh hiệu này là "Tiên thú chi Hậu"[2][3], tức Phúc tấn được cưới hỏi ngay sau Hoàng hậu. Hoàng Thái Cực có hai người vợ có tước vị Nguyên phi: người đầu tiên là nguyên phối Nữu Hỗ Lộc thị, con gái Ngạch Diệc Đô, về sau vì bất kính nên bị Nỗ Nhĩ Cáp Xích truất phế; người thứ hai, cũng là vị Nguyên phi cuối cùng chính là sủng phi Hải Lan Châu, về sau truy phong thụy hiệu Mẫn Huệ Cung Hòa Nguyên phi sau khi qua đời.

Nhật Bản

Trong thời kỳ Asuka, danh hiệu Nguyên phi ám chỉ vị phi tần đầu tiên được phong Phi, tước vị chỉ dưới Hoàng hậu. Điển hình nhất ở danh hiệu này có Trĩ Lăng Cơ hoàng nữ (稚綾姫皇女), Phi của Thiên hoàng Kimmei, sinh mẫu của Mẫn Đạt Thiên hoàng; ngoài ra còn có Á Bội Tiểu Túc viện (阿倍小足媛), Phi của Thiên hoàng Kotoku.

Việt Nam

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại, danh vị Nguyên phi lần đầu có dưới thời Lý Thái Tông, đứng đầu các bậc [Thứ phi; 次妃] đứng đầu các cung thiếp. Trường hợp nổi tiếng nhất là Ỷ Lan, vốn được phong làm [Phu nhân; 夫人] và [Thần phi; 宸妃], nhờ sinh hạ Lý Nhân TôngSùng Hiền hầu mà được thăng tước vị Nguyên phi, về sau trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính triều mười năm. Sang đến thời Trần, có Linh Từ Quốc mẫu Trần thị - vợ của Trần Thủ Độ, trước đó nhập cung Lý Huệ Tông mà sơ phong Nguyên phi rồi trở thành Hoàng hậu, có với Huệ Tông hai người con gái chính là Lý Chiêu HoàngHiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu, hai vị Hoàng hậu của Trần Thái Tông. Trung kỳ nhà Trần có vị sủng phi họ Lê, cô ruột của Lê Quý Ly chính là Anh Tư Nguyên phi của Trần Minh Tông, về sau chính là Minh Từ Hoàng thái phi, sinh Trần Duệ Tông. Đến thời Hậu Lê, chính thất Nguyễn Thị Kim của Lê Chiêu Thống cũng được phong làm Nguyên phi.

Hàn Quốc

Trong suốt triều đại Cao Ly, hai từ này chỉ được dùng để ám chỉ chính cung của VươngVương Thế tử, tước Vương phiThế tử tần. Một trường hợp đặc biệt là tần ngự Hồng thị của Triều Tiên Chính Tổ, vì là phi tần hậu cung đầu tiên được chính thức sách phong nên được ban tước vị [Nguyên tần; 元嬪], vị trí đặc thù nhưng chỉ tại vị hơn một năm rồi qua đời.

Một số phi tần nổi tiếng

Tham khảo

  1. ^ nguyên văn: 先娶之福晋
  2. ^ 杜家骥. 《清太宗出身考》. 史学月刊 (河南省开封市: 河南大学、河南省历史学会). 1998, (1998年第5期): 39–42 [2022-10-29]. ISSN 0583-0214. (原始内容存档于2019-05-02) (简体中文).
  3. ^ nguyên văn: 先娶之后