Luisa Capetillo

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>Wendycornblue sửa đổi vào lúc 06:25, ngày 13 tháng 7 năm 2026. Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Luisa Capetillo Perón (28 tháng 10, 1882 – 10 tháng 4, 1922)[a] là một cán bộ công đoàn, một nhà văn, nhà báo và người đọc sách báo cho nhà máy xì gà người Puerto Rico. Bà là người thực hiện vận động công nhân tại Cộng hòa Cuba, Puerto Rico, Cộng hòa DominicaHoa Kỳ. Khi còn sống, bà đã xuất bản bốn cuốn sách dưới nhiều dạng với đa dạng các thể loại và chủ đề. Bà là một nhà nữ quyền theo chủ nghĩa vô trị kiểu chủ nghĩa vô trị xã hội. Bà ủng hộ cho tự do yêu đương, giáo dục phổ thông, quyền độc lập của phụ nữ, sở hữu tập thể của những phát triển khoa học và phản đối kiểm soát nhà nước.

Luisa Capetillo
Black-and-white photo of Luisa Capetillo sitting at a writing desk
Chân dung của Capetillo, k. 1913
SinhLuisa Capetillo Perón
28 tháng 10, 1882[a]
Arecibo, Puerto Rico, Đế quốc Tây Ban Nha
Mất10 tháng 4, 1922(1922-04-10) (39 tuổi)
Río Piedras, Puerto Rico
Nghề nghiệpNhà văn, cán bộ công đoàn, nhà báo

Bà sinh ra tại thành phố Arecibo thuộc Tổng trấn phủ Puerto Rico. Cha của bà là người dạy chữ cho bà và nhận ra bà có khả năng đọc ấn tượng, như việc bà đọc cả những công trình nghiên cứu của những nhà tư tưởng chính trị có ảnh hưởng. Năm 1897, bà nảy sinh tình yêu với Manuel Ledesma, con trai của một quý tộc giàu có. Tuy cả hai chia tay vào năm 1900 nhưng mối quan hệ của họ đã góp phần tạo động lực cho những công trình về chủ nghĩa nữ quyền sau này của bà. Capetillo bắt đầu viết cho tờ báo địa phương từ năm 1904. Năm 1905, bà tham gia Liên đoàn Công nhân Tự do (FLT), một công đoàn kiểu liên đoàn theo chủ nghĩa vô trị công đoàn để hỗ trợ lên kế hoạch một cuộc đình công nông nghiệp ở Arecibo, dần dần trở thành người lãnh đạo của FLT. Năm 1906, bà trở thành người đọc sách báo cho một nhà máy xì gà, lần lượt đọc các sách báo cho những công nhân làm xì gà trong lúc họ đang làm việc. Cùng lúc đó, bà cũng đến gặp mặt những thành viên trong Liên đoàn Công nhân cuốn Thuốc lá (FTT).[b] Từ năm 1912, bà viết sách và vận động công nhân khi đi qua các vùng Đại Tây Dươngbiển Caribe. Năm 1915, bà bị bắt tại Cuba vì mặc quần và bị gửi trả về Puerto Rico. Bà tiếp tục đi nhiều nơi và tổ chức công nhân cho tới khi bà qua đời vào năm 1922.

Cuộc đời và tiểu sử của bà được quan tâm, chú ý nhiều hơn vào năm 1990 với sự ra đời của cuốn tiểu sử Luisa Capetillo, historia de una mujer proscrita (dịch Luisa Capetillo, Lịch sử của người phụ nữ ngoài vòng pháp luật) được viết bởi nhà báo Norma Valle Ferrer. Sau khi cuốn tiểu sử được xuất bản, Capetillo trở thành chủ đề của một dòng phim chính kịch tài liệu (docudrama). Vào năm 2014, Hội đồng Lập pháp Puerto Rico đã vinh danh bà bằng một bảng vinh danh tại Quảng trường Vinh danh Phụ nữ Puerto RicoSan Juan. Bà được coi là một trong những người phụ nữ Puerto Rico đầu tiên theo chủ nghĩa nữ quyền và, theo nhà sử học Jorrell A. Meléndez-Badillo, là một mắt xích có sức ảnh hưởng trong một mạng lưới "đối-cộng đồng trí thức qua trao đổi thư từ" ("counter-republic of letters"), một tổ chức quy tụ những nhà văn theo chủ nghĩa vô trị sử dụng cây bút của mình như một hình thức đấu tranh chính trị.

Thời niên thiếu

Luisa Capetillo Perón sinh vào ngày 28 tháng 10 năm 1882[a] tại Arecibo, Puerto Rico-lúc đó đang là một phần của đế quốc Tây Ban Nha.[4] Cả cha mẹ của bà đều chuyển từ Châu Âu đến đây vào giữa những năm 1870 để tìm kiếm cơ hội làm ăn. Cha bà, Luis Capetillo Echevarría là một người Tây Ban Nha và là quản trị viên của một công viên giải trí. Khi gặp phải những vấn đề về tài chính, ông được thuê làm lao động theo mùa dưới nhiều công việc khác nhau trong ngành nông nghiệp, kiến trúc xây dựng và phụ việc tại bến cảng. Mẹ bà là một phụ nữ người Pháp tên Luisa Margarita Perón,[c] từng làm gia sư riêng cho một gia đình giàu có trước khi trở thành một công nhân giặt giũ. Cả hai không kết hôn nhưng chung sống với nhau cho đến khi Luisa chào đời.[5] Capetillo được rửa tội tại Nhà thờ Tông đồ thánh Philip vào ngày 24 tháng 6 năm 1890, lúc bà 7 tuổi.[6]

Cha bà dạy bà đọc và viết chữ, nhưng vào những năm thiếu niên, ông đã bỏ lại bà cùng mẹ bà và không trở về.[7] Bà cũng được nhận giáo dục chính quy từ trường học, một trong số đó là trường tư thục Doña María Sierra Soler, nơi bà nhận được bằng cấp của các môn địa lý, ngữ pháp, lịch sử, lịch sử tôn giáo và đọc hiểu.[8] Bà đọc nhiều tài liệu và loại nội dung khác nhau, bao gồm cả công trình của những nhà tư tưởng chính trị như George Sand, John Stuart Mill, Madeleine VernetPeter Kropotkin.[9]

Capetillo thường cùng mẹ đến những ngôi nhà giàu có nơi mẹ bà làm việc,[10] trong đó gồm một điền trang thuộc về Don Gregorio Ledesma, là hầu tước vùng Arecibo và lãnh đạo Đảng Tây Ban Nha Vô điều kiện, đại diện cho những người Tây Ban Nha bảo thủ trên đảo.[11] Ở đó, Capetillo gặp con trai Gregorio, Manuel, cùng bạn của Manuel là tiến sĩ Susoni, người sau này tranh giành tình cảm với cô. Capetillo và Manuel trở thành tình nhân vào năm 1897.[10] Trong năm 1897 cũng có hai sự kiện quan trọng khác xảy ra, một là Capetillo vừa mới sinh con đầu lòng Manuela cho Manuel và hai là Manuel được thừa kế tài sản cùng tước hiệu của cha mình. Khoảng năm 1899, Capetillo sinh tiếp đứa con thứ hai và đặt tên là Gregorio. Các con của bà sống với mẹ của Capetillo trong khi bản thân Capetillo di chuyển giữa nhà gia đình bà và điền trang của ngài Ledesma.[7] Mối quan hệ của Capetillo và Manuel đầy yêu thương nhưng cũng gặp nhiều trắc trở,[12] một phần do ông kỳ vọng bà sẽ là một người vợ và người mẹ tận tụy luôn có mặt mọi lúc ở nhà. Họ chia tay năm 1900 mà không rõ lý do.[13][d] Sau khi mối quan hệ kết thúc, Capetillo và Manuel ban đầu vẫn giữ mối quan hệ bạn bè. Manuel vẫn công nhận con cái của Capetillo về mặt pháp lý, chu cấp tiền cho chúng và cho Manuela theo trường nội trú.[15] Mối quan hệ với Manuel đã tác động sâu sắc đến các tác phẩm nữ quyền sau này của Capetillo, khi bà thường xuyên bàn luận về tình yêu của bà cho Manuel và bản chất mối quan hệ của họ.[16]

Sự nghiệp và công việc vận động

Capetillo viết cho tờ báo địa phương từ năm 1904.[17] Những bài viết bà chắp bút ủng hộ công đoàn và chịu ảnh hưởng từ tư tưởng vô chính phủ. Vào tháng 1 năm 1905, bà đã giúp vận động một cuộc đình công của những công nhân nông nghiệp trong thị trấn, đi đầu trong các cuộc diễu hành và đọc tư liệu cho những người đình công ở băng ghế tại quảng trường địa phương.[18] Trong cuộc đình công đó, cảnh sát đã đe dọa sẽ bắn vào đám đông.[19] Khi cuộc đình công kết thúc vào tháng 2, công nhân được tăng lương thêm 15–30% và chỉ cần làm 10 giờ một ngày, dù ban đầu những người đình công yêu cầu 8 giờ làm việc.[20] Cuộc đình công này là phần nhỏ của một cuộc đình công lớn hơn đang xảy ra cùng lúc tại miền bắc Puerto Rico do Liên đoàn Công nhân Tự do (tiếng Tây Ban Nha: Federación Libre de Trabajadores de Puerto Rico) (FLT), một công đoàn theo chủ nghĩa vô chính phủ-công đoàn lãnh đạo.[21]

Năm 1906, Capetillo trở thành người đọc sách báo cho một nhà máy xì gà.[22] Những người đọc sách báo tại nhà máy xì gà thường đứng trên bục cao để đọc báo và các tài liệu khác khi những người làm xì gà làm việc.[23] Ngoài ra, bà còn làm thợ may, thường may những áo blouse và khăn tay tại nhà.[24] Là một người đọc sách báo cho nhà máy, Capetillo được gặp gỡ những thành viên của phong trào lao động, chủ yếu là các thành viên của Liên đoàn Thợ cuộn Thuốc lá (tiếng Tây Ban Nha: Federación de Torcedores de Tabaco (FTT), một nhánh dẫn của FLT. Bà trở thành một nhà lãnh đạo nổi bật của FLT, đi khắp Puerto Rico để giành được sự ủng hộ từ công nhân và các nhà lãnh đạo công đoàn khác. [25] Năm 1907, bà xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình, Ensayos libertarios (dịch 'Những bài luận theo chủ nghĩa tự do'), trong đó bà ủng hộ một xã hội bình đẳng, mô tả cuộc sống là một cuộc xung đột giữa công nhân và nhà tư bản, và phê phán giới giáo sĩ là "đạo đức giả và ích kỷ".[26] Khi bà tham gia sâu vào phong trào lao động, mối quan hệ của bà với Manuel dần trở nên lạnh nhạt, dẫn tới Manuel quyết định rút hỗ trợ tài chính của mình và giành quyền nuôi con để ngăn cản Capetillo đến gặp chúng.[27]

Năm 1908, Capetillo tham gia Hội nghị Công nhân lần thứ năm của FLT.[28] Tại hội nghị, khi đưa ra chủ đề quyền bầu cử của phụ nữ, bà ý kiến rằng liên đoàn nên ủng hộ quyền bầu cử cho tất cả phụ nữ, dù một số phụ nữ thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu cho rằng chỉ nên trao quyền bầu cử cho phụ nữ có học thức. Liên đoàn cuối cùng ủng hộ ý kiến của Capetillo, biến FLT trở thành một trong những tổ chức lớn ủng hộ cho quyền bầu cử của phụ nữ tại Puerto Rico đầu thế kỷ 20.[29] Năm 1909, bà chú trọng thúc đẩy, đề cao tờ báo Unión Obrera (dịch 'Liên đoàn Lao động') cũng như bắt đầu xuất bản tạp chí của bản thân, tức tờ La Mujer (dịch 'Phụ nữ').[30] Bà cũng hỗ trợ vận động, tổ chức Cruzada del Ideal (dịch 'Cuộc vận động vì Lý tưởng') của FLT bằng cách tổ chức hội thảo khắp đảo và trò chuyện với các công nhân về liên đoàn.[31]

Năm 1910, Capetillo xuất bản cuốn sách thứ hai của bà La humanidad en el futuro (dịch 'Nhân loại trong Tuơng lai'), một câu truyện thể loại utopia kể về một cuộc tổng đình công.[22] Bà tiếp tục xuất bản cuốn sách thứ ba của bà năm 1911 với tựa đề Mi opinión sobre las libertades, derechos y deberes de la mujer como compañera, madre y ser independiente (dịch 'Quan điểm của tôi về tự do, quyền lợi và nghĩa vụ của phụ nữ với tư cách như bạn đời, người mẹ và như những cá thể độc lập').[e][22] Cuốn sách chứa các bài luận thảo luận về chủ đề như kết hôn, giáo dục giới tính, công việc tình dục, lịch sử phụ nữ và quyền của phụ nữ.[32] Vào khoảng năm 1911, Capetillo cũng bắt đầu một mối quan hệ với một dược sĩ đã kết hôn ở Arecibo, sinh ra người con thứ ba của bà, Luis. Vì cha của Luis đã kết hôn, ông không coi Luis là con trai mình. Cuối cùng, Luis đành phải chuyển về nhà mẹ Capetillo sinh sống.[33]

Các hoạt động đa quốc gia

 
Capetillo mặc trang phục nam giới.

Capetillo đến New York vào năm 1912[34] trong bối cảnh làn sóng người Puerto Rico di cư đến New York đầu thế kỷ 20.[35] Tại đây, bà gặp những công nhân làm xì gà gốc Tây Ban Nha và viết cho những tờ báo theo chủ nghĩa vô chính phủ như Cultura obrera (dịch 'Văn hóa tầng lớp lao động'), Brazo y cerebro (dịch 'Cơ bắp và trí thức'), và Fuerza consciente (dịch 'Sức mạnh của ý thức').[34] Bà tiếp tục chuyển đến thành phố Ybor, Florida năm 1913, nơi nhiều công nhân làm xì gà gốc Tây Ban Nha sinh sống và làm việc.[34] Bà sống ở đây cùng với một thợ máy người Đức và có lẽ làm công việc đọc sách báo cho công xưởng xì gà.[f] Bà cũng đã có thêm quan hệ sâu rộng với những nhà vận động công nhân khác trong quá trình sống tại đây.[38]

Năm 1914, bà tiếp tục đến Cuba và sống tại 2 thành phố là HavanaCárdenas.[39] Bà hoạt động tại đây với Liên đoàn Vô chính phủ Cuba (Anarchist Federation of Cuba, gọi tắt là AFC). Vì có liên quan tới những nhà hoạt động vì quyền lợi lao động và những người theo chủ nghĩa vô chính phủ, chính quyền địa phương đã bắt đầu nghi ngờ bà.[40] Năm 1915, Capetillo giúp tổ chức một cuộc đình công của những công nhân làm mía, ủng hộ công khai cho việc thành lập một hợp tác xã tự quản bởi công nhân và ủng hộ cho một tuyên ngôn của những người theo chủ nghĩa vô trị nhằm phản đối sự đàn áp của chính phủ Cuba đối với lao động có tổ chức. Do những hành động này, tổng thống Cuba Mario García Menocal đã ra lệnh trục xuất bà khỏi lãnh thổ Cuba.[41]

Bà bị bắt giữ vì mặc quần dài nơi công cộng ngày 24 tháng 7 năm 1915. Theo nhà nghiên cứu Araceli Tinajero, người cảnh sát bắt giữ Capetillo đã cho rằng trang phục của bà là "không phù hợp" và "gây mất trật tự".[42] Báo chí bị chia rẽ về sự kiện này. Các tờ báo chính thống dị nghị bà và cả chủ nghĩa vô chính phủ nói chung, trong khi những tờ cấp tiến bảo vệ bà vì bà có quyền mặc bất cứ cái gì mà bà muốn.[41] Tại tòa, bà biện luận rằng không có luật nào cấm phụ nữ mặc quần dài và đối với những người phụ nữ làm việc hiện đại, quần tây vệ sinh và thoải mái hơn.[43] Lập luận của bà khiến thẩm phán không thể nói gì thêm, buộc ông phải thả bà tự do.[42] Tuy nhiên, bà vẫn bị trục xuất về Puerto Rico năm 1916.[40]

Quay về Puerto Rico

Khi bà trở về Puerto Rico, bà xuất bản cuốn sách Influencia de las ideas modernas (dịch 'Ảnh hưởng của ý tưởng hiện đại') mà bà đã dành thời gian để viết ở thành phố Ybor.[44] Vì thuộc nhiều thể loại khác nhau, tác phẩm chứa thư từ, tự sự về bản thân, ghi chú, những mẩu truyện ngắn và cả những vở kịch.[45] Năm 1917, bà góp phần lãnh đạo một cuộc đình công của nông dân tại Patillas. Bà đã bị cảnh sát đánh gậy trong cuộc đình công này. Bà tiếp tục lãnh đạo một cuộc đình công khác ở Ceiba năm 1918. Cuộc đình công này có 30,000 thành viên của FLT tham gia và bà là người dẫn đầu những cuộc mít tinh, biểu tình (một phần của cuộc đình công) quanh bờ biển Ceiba. Bà bị bắt trong một cuộc mít tinh diễn ra ngày 29 tháng 3 năm 1918 vì tội kích động bạo loạn và sau đó được bảo lãnh bởi công nhân địa phương với giá $400 USD (khoảng $9,000 USD vào năm 2025). Bà lại lãnh đạo thêm một cuộc đình công nữa ở Vieques năm 1919.[46]

Những chuyến đi sau khi trở về Puerto Rico

Năm 1919, bà được mời đến Santo DomingoCộng hòa Dominica để phát biểu tại một sự kiện được tổ chức bởi FLT địa phương (tiếng Tây Ban Nha: Federación Libre de Trabajadores),[g] vốn là một phần của cuộc đình công do công nhân đóng giày tổ chức đang xảy ra. Thế nhưng, bà bị cấm phát biểu vì bà đã từ chối đọc trước bài phát biểu của mình cho một người kiểm duyệt địa phương. Tuy vậy, bà vẫn giúp thu thập tiền cho quỹ vốn đình công.[47] Cũng trong năm 1919, bà quay trở lại New York và có lẽ đã sống ở đó một khoảng thời gian.[h][50] Trong khoảng thời gian này, bà điều hành một nhà trọ và tổ chức nhiều buổi gặp mặt chính trị tại đó. Bà tiếp tục hoạt động báo chí và có thể cũng đã làm công việc đọc sách báo cho nhiều nơi.[51] Nhân dịp đến New York, Capetillo tìm kiếm sự trợ giúp từ Samuel Gompers, lãnh dạo đương thời của Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ (AFL), nhằm xây một ngôi trường nông nghiệp giúp giáo dục trẻ em Puerto Rico nghèo.[47] Dù Gompers đã đồng ý chuyển vốn, dự án này bị chính quyền Puerto Rico phản đối vì họ nghĩ rằng ngôi trường cần được cấp vốn bởi chính người Puerto Rico chứ không phải người Mỹ.[52]

Cuối đời

Đến khoảng năm 1920-1921,[i] bà trở về Puerto Rico. Trong lần trở về này, bà tham gia và ủng hộ Đảng Xã hội Puerto Rico, một đảng phái chính trị ủng hộ quyền bầu cử toàn dân.[53] Cho đến hiện tại, lí do tại sao bà ủng hộ vẫn chưa rõ. Tuy nhiên, đối với Norma Valle Ferrer, người đã viết tiểu sử của Capetillo, đây "rõ ràng là một chuyện trái ngược với tư tưởng vô trị mà bà đã theo đuổi bấy lâu" vì những người theo chủ nghĩa vô trị truyền thống đều phản đối quyền bầu cử rộng rãi, cho rằng chủ nghĩa bầu cử sẽ dẫn đến những cách mạng mang tính tự phát và sơ sài.[54]

Capetillo mắc bệnh lao trong khoảng thời gian đi chu du nước ngoài và căn bệnh trở nặng khi bà sống tại căn nhà nhỏ đang trong quá trình xây dựng ở Buen Consejo. Bà cùng con trai của mình là Louis đến bệnh viện thành phố Río Piedras ngày 10 tháng 4 năm 1922 và qua đời tại đó. Một nhóm công nhân đại diện cho FLT đưa thi thể của Capetillo trở lại nhà của bà và đem chôn cất bà ở nghĩa trang thành phố ngày hôm sau.[53]

Góc nhìn của bà

Về chủ nghĩa vô trị

Tự do là tổ quốc của tôi. Sự thật là phương châm của tôi. Tình huynh đệ đại đồng chính là mục đích của tôi.

Luisa Capetillo, từ cuốn sách Mi opinión..., được thuật lại trong cuốn tiểu sử Luisa Capetillo, Pioneer Puerto Rican Feminist bởi Norma Valle Ferrer.[37]

Trong cuốn Mi opinión..., Capetillo tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa xã hội vô chính phủ và bàn về quyền sở hữu tập thể các "đột phá, phát minh, phát hiện khoa học" trong khi phản đối kiểm soát nhà nước.[55] Góc nhìn của bà cũng nói lên phần lớn quan điểm của công nhân Puerto Rico thời đó.[56] Theo nhà nghiên cứu Stephanie Rivera Berruz, Capetillo trở nên hứng thú với chủ nghĩa vô trị bởi vì nó là một "tư tưởng chính trị được đưa vào thực tiễn".[27] Valle Ferrer cũng viết rằng bà bị ảnh hưởng bởi các nhân vật theo chủ nghĩa vô trị lãng mạn như Errico Malatesta and Leo Tolstoy.[57] Triết lý của Capetillo cho rằng bản năng con người vốn có lòng nhân ái và ủng hộ sự bình đẳng nhưng lại bị tha hóa bởi những hệ thống xã hội họ đang sinh sống.[58] Vì vậy, để làm gián đoạn những hệ thống xã hội này, bà ra sức hỗ trợ những phong trào lao độngtổng đình công, những ví dụ điển hình của chủ nghĩa công đoàn vô chính phủ.[59]

Với tư tưởng chống đối nhà nước, bà phản đối làn sóng đòi độc lập tại Puerto Rico, coi phong trào này là một thế lực đàn áp.[60] Bà chỉ trích Đảng Công đoàn, gọi họ là những "kẻ tự phụ, kẻ bóc lột, lũ quyền quý" áp bức những người công nhân trên đảo.[61] Rivera Berruz biện luận rằng những góc nhìn tiêu cực của Capetillo về một quốc gia độc lập và nhà nước mới được một phần được cấu thành từ các yếu tố như tình cảnh thuộc địa của Puerto Rico và đến từ cả xuất thân của bà, vốn là một người sống đã sống di cư ở nhiều quốc gia.[62]

Về nữ quyền và tự do yêu đương

Capetillo thường được coi là nhà văn đầu tiên theo chủ nghĩa nữ quyền đến từ Puerto Rico.[63] Theo Rivera Berruz, Capetillo từ lâu đã thể hiện rõ ràng những ý tưởng về chủ nghĩa nữ quyền, trước cả khi sự trỗi dậy của cái mà nhà triết học Francessca Gargallo gọi là phong trào nữ quyền lần thứ hai thập niên 1960.[64] Bà cũng thường gắn với các hoạt động của chủ nghĩa nữ quyền vô chính phủ, một phong trào chống đối hệ thống chế độ phụ quyền.[65] Trong các công trình của bà, bà liên kết những điểm chung giữa giải phóng của phái nữ và phong trào lao động, ủng hộ cho một hệ thống công bằng cho cả công nhân nam và nữ.[66] Bà cũng kêu gọi sự tự chủ nhiều hơn của phụ nữ trong tình dục, mô tả rằng ham muốn tình dục của phụ nữ cũng rất tự nhiên giống như ăn uống và ngủ nghỉ.[67] Bà tin rằng làm mẹ là một khía cạnh quan trọng của một người phụ nữ, với câu nói sau khi bà sinh con đứa con đầu lòng rằng "một người phụ nữ sẽ là một người mẹ, kể cả khi cô ấy không có con".[68]

Capetillo ủng hộ tự do yêu đương.[69] Theo bà, tự do yêu đương là sự hợp nhất giữa hai người mà không bị ràng buộc bởi những văn bản pháp luật hay bởi những quy chuẩn xã hội về gia đình. Bà định nghĩa tình yêu là sự dung hợp của những cá nhân tự do, với tự do yêu đương được đánh dấu bởi tình yêu đôi bên, sự tôn trọng và sự ủng hộ.[70] Nếu một trong hai người không còn yêu, bà tin rằng mối quan hệ nên kết thúc.[71] Bà gọi hôn nhân là "mại dâm của tình yêu" vì dưới góc nhìn của bà, hôn nhân buộc người phụ nữ phải đảm nhiệm những vai trò mang tính phụ thuộc và nó ngăn người phụ nữ ấy có thể rời bỏ các mối quan hệ. Điều này theo bà làm giới hạn sự tự do của phụ nữ và từ đó cũng ảnh hưởng khả năng yêu đương của họ. Sự chú trọng của Capetillo trong vấn đề phụ nữ bị bóc lột khi đánh giá thiết chế hôn nhân là một điều độc đáo mà những nhà chủ nghĩa vô trị hay những nhà hoạt động lao động khác không có,[72] dù cùng thời có rất nhiều nhà chủ nghĩa vô trị ở Puerto Rico và quốc tế cũng ủng hộ cho tự do yêu đương.[73]

Về tôn giáo

Capetillo là một người theo đạo Thiên chúa giáo nhưng bà phản đối tôn giáo có tổ chức trong suốt cuộc đời của bà.[74] Trong một bài luận từ cuốn Ensayos libertarios, bà tố cáo nhà thờ "đạo đức giả", "lừa lọc" và bí mật tích trữ của cải.[75] Bà quan niệm rằng thánh lễ và những nghi thức tôn giáo vốn ban đầu là cách thức để phụ nữ giàu có khoe trang phục và trang sức. Một người Thiên chúa giáo lý tưởng theo bà thường là những người nghèo khổ và bệnh tật thay vì là những người tham gia thánh lễ. Trong khi bà được rửa tội khi còn là một đứa trẻ, bà không bao giờ thực hiện rửa tội cho các con của bà và gọi nó là một "dấu vết bôi nhọ".[76] Valle Ferrer cho rằng những quan niệm của bà về Thiên chúa giáo bị ảnh hưởng bởi Tolstoy, một người Thiên chúa giáo theo chủ nghĩa vô trị.[77]

Capetillo cũng hình thành quan niệm của mình qua thuyết thông linh.[78] Bà tin vào sự tái sinh, sự tồn tại của một thể linh hồn tách rời khỏi thể xác vật lý và "sự đa dạng của các thế giới có thể ở được".[j][79] Ensayos libertarios của Capetillo mở đầu bằng câu nói của Camille Flammarion, một người tin vào thuyết thông linh, phụ tá và cũng là bạn của Allan Kardec, người sáng lập thuyết thông linh.[80] Những người tin vào thuyết thông linh của Kardec vào thế kỉ 19 thường kêu gọi tự do, bình đẳng, bác ái, vì vậy, nhà nghiên cứu Carmen Ana Romeu Toro cho rằng Capetillo hứng thú với thuyết thông linh thay vì những học thuyết khác vì nó đề cao những giá trị đó.[81]

Về giáo dục

Capetillo coi giáo dục là một phần quan trọng trong việc giải phóng con người, cho phép con người không học theo những ý tưởng xấu xa mà họ nhận được từ xã hội.[82] Trong một bài luận của Ensayos libertarios, Capetillo tranh luận về một nền giáo dục phổ thông mà không có sự cách biệt giữa các tầng lớp hay giới tính.[83] Bà cũng ủng hộ chú trọng vào giáo dục phụ nữ. Theo ý kiến của bà, giáo dục phụ nữ sẽ mang lại sự độc lập tài chính và trí tuệ nhiều hơn.[63] Bà cho rằng giáo dục phụ nữ nên bao gồm nghệ thuật, khoa học và loài người, cùng với sự bàn luận về ham muốn tình dục của phụ nữ.[84]

Về sức khỏe và vệ sinh

Trong bộ sưu tầm Influencia de las ideas modernas, Capetillo đề xuất nhiều cách thức thực hành cho sức khỏe và vệ sinh cá nhân. Những cách thức này bao gồm tắm rửa mỗi ngày, tập thể dục và thiền định được truyền cảm hứng từ phương Đông. Bà cũng ủng hộ cho việc uống rượu bia và hút thuốc lá có chừng mực cùng với một khẩu phần ăn chay.[85] Tại nhà trọ của bà ở New York, bà phục vụ các món chay.[86]

Di sản

Trong bản cáo phó của Capetillo đăng trên tờ Justicia (dịch 'Công lý'), một tờ báo của FLT, các nhà biên tập đã so sánh bà với những nhà hoạt động xã hội mang tính cách mạng như Louise MichelRosa Luxemburg. Tuy nhiên, họ cũng phê bình về tính cách "nửa thất thường" của bà, cũng như coi sự ủng hộ của bà đối với tư tưởng ăn chay và những chính sách dựa trên tình cảm mang tính trẻ con.[87] Nhà sử học Vicki L. Ruiz giả thuyết rằng nhà tổ chức phong trào lao động Luisa Moreno (tên khai sinh là Blanca Rosa Rodríguez López), người cũng đã vận động các công nhân xì gà ở Florida năm 1936, đã để tên "Luisa" trong tên của mình để vinh danh Capetillo.[88]

Cuộc đời Capetillo nhận được sự chú ý rộng rãi sau khi cuốn sách tiểu sử Luisa Capetillo, historia de una mujer proscrita (dịch 'Luisa Capetillo, Lịch sử của một người phụ nữ ngoài vòng pháp luật') của tác giả Valle Ferrer được xuất bản vào năm 1990. Hai năm sau, vào năm 1992, cuốn sách Amor y anarquía: los escritos de Luisa Capetillo (dịch 'Tình yêu và chủ nghĩa vô trị: những tác phẩm của Luisa Capetillo') được xuất bản, trở thành một trong số ít cuốn sách thời bấy giờ có chứa những trích đoạn từ các cuốn sách của Capetillo.[89] Được dẫn dắt bởi Gloria Waldman-Schwartz, một nhóm học sinh của Đại học Puerto Rico vào năm 2006 đã xuất bản cuốn Luisa Capetillo, Pioneer Puerto Rican Feminist, một bản dịch tiếng Anh của cuốn tiểu sử Luisa Capetillo của tác giả Valle Ferrer.[90]

Năm 1994, dòng phim chính kịch tài liệu mang tên Luisa Capetillo, Pasión de justicia (transl. 'Luisa Capetillo, cảm hứng của công lý') được công chiếu. Được đạo diễn bởi Sonia Fritz, dòng phim lấy nội dung dựa trên cuốn tiểu sử của Valle Ferrer về Luisa Capetillo.[91] Năm 2013, vở kịch Influencia de las ideas modernas được diễn tại Nhà hát Celébrate ở San Juan, Puerto Rico. Ngày 29 tháng 5 năm 2014, Hội đồng Lập pháp Puerto Rico đã vinh danh Luisa Capetillo cùng với 12 người phụ nữ khác với bảng vinh danh tại Quảng trường Vinh danh Phụ nữ Puerto Rico ở San Juan.[92]

Valle Ferrer cho rằng Capetillo là "người phụ nữ đầu tiên thành công thách thức những định kiến trước đây về phụ nữ bằng cách trở thành một nhà tổ chức phong trào lao động quan trọng và luôn ủng cho phái nữ và người nghèo".[93] Theo cô, nhiều công nhân tưởng nhớ đến Capetillo vì sự "dũng cảm bất khuất" nhưng kỳ thị những chính sách tình dục của bà.[93] Hình ảnh Capetillo mặc bộ áo kết hợp với quần đùi trở nên phổ biến trong giới nghệ thuật và xuất hiện thường xuyên trên các sản phẩm thương mại.[91]

Thành tựu văn học

Nhà sử học Jorrell A. Meléndez-Badillo nói rằng Capetillo đã hình thành một phần mạng lưới các nhà văn theo chủ nghĩa vô trị, một mạng lưới "chống cộng đồng trí thức qua trao đổi thư từ". Mạng lưới những nhà văn này đã dùng cây bút của họ như một dạng của đấu tranh chính trị.[94] Nhà nghiên cứu độc lập Julio Ramos coi Capetillo là một trong số các nhà văn Puerto Rico ở thế kỉ 20 đã thách thức định kiến cho rằng viết văn là một hoạt động của tầng lớp cấp cao.[95] Nancy Bird-Soto cho rằng các tác phẩm của Capetillo phản ánh một "tư tưởng bất tuân mang tính lật đổ". Theo Bird-Soto, tư tưởng không đi theo những quy chuẩn thời trước của Capetillo được ươm mầm từ những quan niệm của chủ nghĩa vô trị và xuất thân yếu kém của bà, vốn là một người phụ nữ vùng Caribbean. Bird-Soto biện luận rằng trở thành một người không tuân theo các quy luật giúp Capetillo phản đối chế độ thực dân thông qua việc "đưa ra những cách thức mang tính giải phóng để khẳng định bản sắc một người Puerto Rico".[96]

Nhà nghiên cứu Araceli Tinajero tuyên bố rằng sự nghiệp đọc sách báo trong các nhà máy đã ảnh hưởng đến các tác phẩm của Capetillo, với những công trình sơ khai của bà "được viết để đọc thành tiếng".[97] Bird-Soto và Othoniel Rosa đồng ý với đánh giá này.[98] Bird-Soto mô tả những tác phẩm của Capetillo có phần "gấp gáp", với những cú pháp đôi khi gây khó hiểu. Cô tranh biện rằng điều này phản ánh những quy luật của văn nói vì "những người nghe ở nhà máy sẽ không cần phải đắn đo suy nghĩ nhiều về các vế của câu".[99] Rivera Berruz cũng tranh luận rằng phong cách của Capetillo được thiết kế để kết nối với nhóm độc giả chính của cô, vốn là tầng lớp lao động. Theo Rivera Berruz, Capetillo cũng đã sử dụng những thể loại phổ biến như chính kịch hay văn xuôi để truyền bá tư tưởng của bà.[71]

Utopia là một chủ đề phổ biến trong các công trình của Capetillo. La humanidad en el futuro là một tiểu thuyết utopia nói về một cuộc tổng đình công.[30] Theo nhà nghiên cứu Othoniel Rosa, La humanidad en el futuro "tuân thủ theo các quy ước chung về thể loại của nó" và lấy dẫn chứng những câu truyện utopia khác được xuất bản cùng thời điểm.[100] Đoạn viết giới thiệu cuốn sách Mi opinión..., Capetillo thừa nhận nỗ lực của bà với những lý tưởng mà bà theo đuổi "mang tính utopic",[k] nhưng biện luận rằng một xã hội dựa theo mô hình này là khả thi.[55] Trong vở kịch Influencia de las ideas modernas lấy từ bộ sưu tập cùng tên cũng nói đến một tầm nhìn về một xã hội công bằng, địa đàng như tầm nhìn của các nhà chủ nghĩa vô trị cổ điển giống như Kropotkin.[101]

Danh mục các cuốn sách

Ghi chú

  1. ^ a b c Norma Valle Ferrer, người viết tiểu sử của Capetillo đã ghi bà được sinh vào năm 1879.[1] Nhà nghiên cứu Teresa Peña Jordán tuyên bố bà được sinh vào năm 1882 dựa trên nghiên cứu lưu trữ.[2] Bản photocopy của một biểu mẫu được điền bởi Capetillo nằm trong giấy tờ "Luisa Capetillo: una práctica del cuerpo, el pensamiento y la palabra" cho thấy bà sinh năm 1882.[3]
  2. ^ FTT là một liên đoàn nhỏ được hỗ trợ bởi FLT, một công đoàn tổ chức theo kiểu liên đoàn.
  3. ^ Tên gốc là Perone. Perón là tên đã được Tây Ban Nha hóa.[1]
  4. ^ Nhà sử học Nancy A. Hewitt cho rằng sau Chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha và sự thông qua của Đạo luật Foraker, xã hội Puerto Rico thường có định kiến với những mối quan hệ yêu đương giữa hai tầng lớp khác nhau hay không chính thống.[13] Valle Ferrer cũng đưa ra giả thuyết rằng sự khác biệt về giai cấp giữa Capetillo và Manuel cùng sự mệt mỏi của Capetillo khi phải giam mình trong nhà đã góp phần chia rẽ mối quan hệ của họ.[14]
  5. ^ Từ bây giờ gọi tắt là Mi opinión....
  6. ^ Hewitt và nhà nghiên cứu Araceli Tinajero đều khẳng định rằng Capetillo làm công việc đọc sách báo tại thành phố Ybor.[36] Valle Ferrer lại không chắc chắn Capetillo có làm công việc đó không nhưng cũng có phần đồng ý vì Capetillo từng có thời gian làm việc đọc sách báo.[37]
  7. ^ Tránh nhầm lẫn với FLT Puerto Rico.
  8. ^ Valle Ferrer và Hewitt nói bà di chuyển giữa New York và Puerto Rico trong khoảng thời gian này,[48] trong khi Tinajero và nhà nghiên cứu độc lập Julio Ramos tuyên bố rằng bà có sinh sống lâu dài tại New York.[49]
  9. ^ Theo Valle Ferrer là 1920, trong tài liệu của Hewitt ghi rằng bà trở về năm 1921.[53]
  10. ^ Gốc là plurality of habitable worlds.
  11. ^ Ý chỉ quá hoàn hảo, xa rời thực tại.

Tham khảo

  1. ^ a b Valle Ferrer 2006, tr. 19.
  2. ^ Peña Jordán 2022, tr. 161; Ramos 2022c, tr. 68.
  3. ^ Peña Jordán 2022, tr. 162.
  4. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 19; Peña Jordán 2022, tr. 161.
  5. ^ Hewitt 2005, tr. 121; Valle Ferrer 2006, tr. 19-22.
  6. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 23.
  7. ^ a b Hewitt 2005, tr. 121.
  8. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 22.
  9. ^ Hewitt 2005, tr. 121; Valle Ferrer 2006, tr. 22.
  10. ^ a b Valle Ferrer 2006, tr. 27.
  11. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 27; Duffy Ponsa 2015, tr. 22.
  12. ^ Hewitt 2005, tr. 121-122; Valle Ferrer 2006, tr. 28-29.
  13. ^ a b Hewitt 2005, tr. 121-122.
  14. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 28.
  15. ^ Hewitt 2005, tr. 122; Valle Ferrer 2006, tr. 28-29; Rivera Berruz 2018, tr. 23.
  16. ^ Hewitt 2005, tr. 122; Valle Ferrer 2006, tr. 28; Rivera Berruz 2018, tr. 24.
  17. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 33; Ramos 2022b, tr. 55.
  18. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 33-35; Meléndez-Badillo 2015, tr. 42.
  19. ^ Meléndez-Badillo 2015, tr. 55-56.
  20. ^ Rodríguez-Silva 2012, tr. 183; Meléndez-Badillo 2015, tr. 46.
  21. ^ Hewitt 2005, tr. 122; Valle Ferrer 2006, tr. 35.
  22. ^ a b c d e Ramos 2022b, tr. 55.
  23. ^ Tinajero 2010, tr. xiii.
  24. ^ Tinajero 2010, tr. 144.
  25. ^ Hewitt 2005, tr. 123.
  26. ^ Hewitt 2005, tr. 124; Valle Ferrer 2006, tr. 36; Tinajero 2010, tr. 146.
  27. ^ a b Rivera Berruz 2018, tr. 23.
  28. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 38.
  29. ^ Hewitt 2005, tr. 124.
  30. ^ a b Tinajero 2010, tr. 147.
  31. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 39.
  32. ^ Hewitt 2005, tr. 125; Tinajero 2010, tr. 14.
  33. ^ Hewitt 2005, tr. 124-125.
  34. ^ a b c Valle Ferrer 2006, tr. 50.
  35. ^ Whalen 2005, tr. 2; Valle Ferrer 2006, tr. 50.
  36. ^ Hewitt 2005, tr. 128; Tinajero 2010, tr. 147.
  37. ^ a b Valle Ferrer 2006, tr. 51.
  38. ^ Hewitt 2005, tr. 128-130; Valle Ferrer 2006, tr. 51; Tinajero 2010, tr. 147.
  39. ^ Sanabria 2017, tr. 40.
  40. ^ a b Hewitt 2005, tr. 131; Tinajero 2010, tr. 143.
  41. ^ a b Hewitt 2005, tr. 131.
  42. ^ a b Tinajero 2010, tr. 143.
  43. ^ Tinajero 2010, tr. 143; Rivera Berruz 2018, tr. 25.
  44. ^ Hewitt 2005, tr. 131; Ramos 2022b, tr. 56.
  45. ^ Townsend 2008, tr. 138.
  46. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 55-57.
  47. ^ a b Valle Ferrer 2006, tr. 56.
  48. ^ Hewitt 2005, tr. 132; Valle Ferrer 2006, tr. 56.
  49. ^ Tinajero 2010, tr. 149; Ramos 2022b, tr. 56.
  50. ^ Hewitt 2005, tr. 132; Valle Ferrer 2006, tr. 56; Tinajero 2010, tr. 149; Ramos 2022b, tr. 56.
  51. ^ a b Ramos 2022b, tr. 56.
  52. ^ Tinajero 2010, tr. 153.
  53. ^ a b c Hewitt 2005, tr. 132; Valle Ferrer 2006, tr. 57.
  54. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 57.
  55. ^ a b Rivera Berruz 2018, tr. 26.
  56. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 15.
  57. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 31-33.
  58. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 36-37.
  59. ^ Gay & Gay 1999b, tr. 16; Valle Ferrer 2006, tr. 37-38; Bird-Soto 2022, tr. 79-80.
  60. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 38; Othoniel Rosa 2022, tr. 87.
  61. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 37-38.
  62. ^ Rivera Berruz 2018, tr. 31-32.
  63. ^ a b Rivera Berruz 2018, tr. 22.
  64. ^ Rivera Berruz 2018, tr. 20.
  65. ^ Gay & Gay 1999a, tr. 6; Rivera Berruz 2018, tr. 18; Bird-Soto 2022, tr. 74; Meléndez-Badillo 2022, tr. 112.
  66. ^ Rivera Berruz 2018, tr. 22; Ramos 2022c, tr. 69-70.
  67. ^ Rivera Berruz 2018, tr. 28.
  68. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 29.
  69. ^ Ramos 2022c, tr. 69.
  70. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 46-47; Rivera Berruz 2018, tr. 24.
  71. ^ a b Rivera Berruz 2018, tr. 24.
  72. ^ Rivera Berruz 2018, tr. 27-28.
  73. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 46-47.
  74. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 24; Tinajero 2010, tr. 245-246.
  75. ^ Tinajero 2010, tr. 145-146.
  76. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 24-25.
  77. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 26.
  78. ^ Romeu Toro 2022, tr. 203-205.
  79. ^ Othoniel Rosa 2022, tr. 90.
  80. ^ Romeu Toro 2022, tr. 206.
  81. ^ Isaia 2009, tr. 222; Romeu Toro 2022, tr. 206.
  82. ^ Rivera Berruz 2018, tr. 30.
  83. ^ Bird-Soto 2022, tr. 78.
  84. ^ Rivera Berruz 2018, tr. 28-30.
  85. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 54-55.
  86. ^ Hewitt 2005, tr. 132.
  87. ^ Meléndez-Badillo 2022, tr. 113-114.
  88. ^ Ruiz 2005, tr. 176; 180.
  89. ^ Ramos 2022a, tr. 14.
  90. ^ Valle Ferrer 2006, tr. xv-xvii.
  91. ^ a b Meléndez-Badillo 2022, tr. 119.
  92. ^ Peña Lopez 2014.
  93. ^ a b Valle Ferrer 2006, tr. 62.
  94. ^ Meléndez-Badillo 2022, tr. 116-117.
  95. ^ Ramos 2022c, tr. 71.
  96. ^ Bird-Soto 2022, tr. 75-78.
  97. ^ Tinajero 2010, tr. 145.
  98. ^ Bird-Soto 2022, tr. 77; Othoniel Rosa 2022, tr. 88.
  99. ^ Bird-Soto 2022, tr. 75-80.
  100. ^ Othoniel Rosa 2022, tr. 86.
  101. ^ Tinajero 2010, tr. 148.
  102. ^ Valle Ferrer 2006, tr. 36.

Tài liệu

  • Bird-Soto, Nancy (2022). "Reading Luisa Capetillo". Small Axe. 26 (3): 74–83. doi:10.1215/07990537-10211878. ISSN 0799-0537.
  • Duffy Ponsa, Christina (2015). "When Statehood Was Autonomy". Trong Neuman, Gerald L.; Brown-Nagin, Tomiko (biên tập). Reconsidering the Insular Cases: The Past and Future of the American Empire. Cambridge: Harvard University Press. tr. 1–28. doi:10.2307/j.ctvjz81gw. ISBN 978-0-9861062-4-8. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  • Gay, Kathlyn; Gay, Martin (1999). "Anarcha-Feminism". Encyclopedia of Political Anarchy. Santa Barbara: ABC-CLIO. tr. 6. ISBN 978-0-87436-982-3.
  • Gay, Kathlyn; Gay, Martin (1999). "Anarcho-Syndicalism". Encyclopedia of Political Anarchy. Santa Barbara: ABC-CLIO. tr. 16. ISBN 978-0-87436-982-3.
  • Hewitt, Nancy A. (2005). "Luisa Capetillo: Feminist of the Working Class". Trong Ruíz, Vicki; Korrol, Virginia Sánchez (biên tập). Latina Legacies: Identity, Biography, and Community. New York: Oxford University Press. tr. 120–134. ISBN 978-0-19-515398-9.
  • Isaia, Artur Cesar (2009). "Spiritism and the Proclamation of the Republic in Brazil". Öt Kontinens (1): 219–233. ISSN 1589-3839. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
  • Meléndez-Badillo, Jorell A. (2015). "Imagining Resistance: Organizing the Puerto Rican Southern Agricultural Strike of 1905". Caribbean Studies. 43 (2): 33–81. ISSN 0008-6533. JSTOR 44114611. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2025.
  • Meléndez-Badillo, Jorell A. (2022). "Luisa Capetillo and the Counter-Republic of Letters". Small Axe. 26 (3): 112–120. doi:10.1215/07990537-10211709. ISSN 0799-0537.
  • Othoniel Rosa, Luis (2022). "Luisa Capetillo and the Pedagogy of Unruliness". Small Axe. 26 (3): 84–97. doi:10.1215/07990537-10211892. ISSN 0799-0537.
  • Peña Jordán, Teresa (2022). "Luisa Capetillo: una práctica del cuerpo, el pensamiento y la palabra" [Luisa Capetillo: A Practice of Body, Thought and Word]. Trong Ramos, Julio (biên tập). Amor y anarquía: Escritos de Luisa Capetillo [Love and Anarchy: Writings of Luisa Capetillo] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cabo Rojo: Editora Educación Emergente. tr. 161–173.
  • Peña Lopez, Brena I. (2014). "Asamblea Legislativa rinde homenaje a 12 mujeres ilustres" [Legislative Assembly Pays Tribute to 12 Illustrious Women]. Primera Hora (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
  • Ramos, Julio, biên tập (2022a). "Prólogo (post-2019) a la nueva edición de Amor y anarquía: escritos de Luisa Capetillo" [Prologue (post-2019) to the new edition of Love and anarchy: writings by Luisa Capetillo]. Amor y anarquía: Escritos de Luisa Capetillo [Love and Anarchy: Writings of Luisa Capetillo] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cabo Rojo: Editora Educación Emergente. tr. 13–24.
  • Ramos, Julio, biên tập (2022b). "Cronología mínima de Capetillo" [Short Chronology of Capetillo]. Amor y anarquía: Escritos de Luisa Capetillo [Love and Anarchy: Writings of Luisa Capetillo] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cabo Rojo: Editora Educación Emergente. tr. 55–56.
  • Ramos, Julio (2022c). "The Legacies of Luisa Capetillo". Small Axe. 26 (3): 68–73. doi:10.1215/07990537-10211864. ISSN 0799-0537.
  • Rivera Berruz, Stephanie (2018). "Writing to be Heard: Recovering the Philosophy of Luisa Capetillo". Essays in Philosophy. 19 (1). doi:10.7710/1526-0569.1595.
  • Rodríguez-Silva, Ileana M. (2012). Silencing Race: Disentangling Blackness, Colonialism, and National Identities in Puerto Rico. New York: Springer. ISBN 978-1-137-26322-3.
  • Romeu Toro, Carmen Ana (2022). "Luisa Capetillo: anarquista y espiritista puertorriqueña" [Luisa Capetillo: Puerto Rican Anarchist and Spiritist]. Trong Ramos, Julio (biên tập). Amor y anarquía: Escritos de Luisa Capetillo [Love and Anarchy: Writings of Luisa Capetillo] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cabo Rojo: Editora Educación Emergente. tr. 203–213.
  • Ruiz, Vicki L. (2005). "Luisa Moreno and Latina Labor Activism". Trong Ruiz, Vicki L.; Sánchez Korrol, Virginia (biên tập). Latina Legacies: Identity, Biography, and Community. New York: Oxford University Press. tr. 175–192. ISBN 978-0-19-515399-6.
  • Sanabria, Carlos (2017). Puerto Rican Labor History, 1898–1934: Revolutionary Ideals and Reformist Politics. Lanham, Maryland: Bloomsbury. ISBN 978-1-4985-3784-1.
  • Tinajero, Araceli (2010). El Lector: A History of the Cigar Factory Reader (bằng tiếng Anh). Austin: University of Texas Press. ISBN 978-0-292-72175-3.
  • Townsend, Sarah J. (2008). "After Death (Luisa Capetillo)". Trong Taylor, Diana; Townsend, Sarah J. (biên tập). Stages of Conflict: A Critical Anthology of Latin American Theater and Performance. Ann Arbor: University of Michigan Press. tr. 136–140. ISBN 978-0-472-05027-7.
  • Valle Ferrer, Norma (2006). Luisa Capetillo, Pioneer Puerto Rican Feminist. Waldman-Schwartz, Gloria biên dịch. New York: Peter Lang. ISBN 978-0-8204-4285-3. NOTE: While Waldman-Schwartz is listed as the official translator, the book was actually translated by a team of students led by her. These students include Carolyn F. Castro Báez, Verónica Cabrera Velarde, Carmen M. Espada, Ivonne López, Zaida M. Negrón, Eunice Rodríguez, and María B. Vásquez Lloréns.
  • Whalen, Carmen Teresa (2005). "Colonialism, Citizenship, and the Making of the Puerto Rican Diaspora: An Introduction". Trong Whalen, Carmen Teresa; Vázquez-Hernández, Víctor (biên tập). The Puerto Rican Diaspora: Historical Perspectives. Philadelphia: Temple University Press. tr. 1–42. ISBN 1-59213-412-2.