Artsvashen

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>KHANGTB123 sửa đổi vào lúc 13:29, ngày 11 tháng 6 năm 2026 (Những người đáng chú ý). Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Artsvashen (tiếng Armenia: Արծվաշեն, nghĩa là "làng Chim đại bàng") hay Bashkend (tiếng Azerbaijan: Başkənd; tiếng Armenia: Բաշքենդ) là một vùng đất tách rời rộng khoảng 40 km² của Armenia,[1] nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Azerbaijan. Về mặt hành chính, khu vực này thuộc quản lý danh nghĩa của đô thị Chambarak, tỉnh Gegharkunik, Armenia. Kể từ cuộc chiến tranh Nagorno-Karabakh thứ nhất[2] vào năm 1992, quân đội Azerbaijan đã kiểm soát vùng đất này. Dù các bên từng tiến hành đàm phán phân định biên giới nhằm giải quyết vấn đề chủ quyền đối với Artsvashen và một số khu vực liên quan, thực trạng tranh chấp đến nay vẫn chưa được định đoạt.

Artsvashen
Արծվաշեն
Tập tin:Озеро Башкенд в Азербайджане.jpg
Hồ gần Artsvashen

Hiệu kỳ

Ấn chương
Lỗi Lua trong Mô_đun:Location_map tại dòng 583: Không tìm thấy trang định rõ bản đồ định vị. "Mô đun:Location map/data/Gegharkunik", "Bản mẫu:Bản đồ định vị Gegharkunik", và "Bản mẫu:Location map Gegharkunik" đều không tồn tại.
Quốc gia (de jure)Armenia
 • TỉnhGegharkunik
 • Đô thị Chambarak
Quốc gia(de facto)Azerbaijan
 • QuậnGadabay
Thành lập1845
Chính quyền
Diện tích
 • Tổng cộng40 km2 (20 mi2)
Dân số (2009)
 • Tổng cộng127
Artsvashen tại GEOnet Names Server

Từ nguyên học

Artsvashen (tiếng Armenia: արծիվ, phiên âm La tinh: artsiv, nghĩa là "đại bàng")[3] từng được biết đến qua các tên gọi Bashgyugh, Bashkend và Hin Bashkend. Ngày 25 tháng 1 năm 1978, chính quyền CHXHCNXV Armenia đã chính thức đổi tên ngôi làng này thành Artsvashen.[4][5]

Lịch sử

Tập tin:Карта Армянской ССР (1928).jpg
Làng Artsvashen (tên cũ là Bashgyugh) trên bản đồ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia năm 1928

Người Armenia tại Artsvashen vốn có nguồn gốc từ quận Jraberd thuộc tỉnh Artsakh lịch sử. Vào thế kỷ 18, họ di cư đến Choratan vùng Shamshadin, sau đó tiếp tục chuyển đến ngôi làng cổ Parakert (Paragyugh). Tại đây, họ thành lập thị trấn Bashkend (nay là Artsvashen) trong khoảng thời gian từ năm 1845 đến 1859.[4] Dù vậy, dấu tích của người Armenia ở khu vực này đã xuất hiện từ sớm hơn, minh chứng qua dòng chữ khắc năm 1607 tại nhà thờ Surb Hovhannes địa phương.[6] Cư dân nơi đây vẫn lưu truyền câu chuyện dân gian sau về sự hình thành của thị trấn:

Xung đột về đồng cỏ đã xảy ra giữa cư dân vùng Artzvashen và những người Thổ Nhĩ Kỳ ở vùng đồng bằng lân cận. Phía Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu đối phương rời đi, nhưng người Armenia từ chối vì đây là quê hương lâu đời của họ. Để phân định quyền sở hữu đất đai một cách hòa bình, hai bên quyết định phân định bằng các cuộc thi đấu thể thao và chọi gia súc. Nhờ chiến thắng của đô vật Arzuman Dallakian và chú bò có tên Tzaghik từ nhà ông Sahak, người Armenia đã giành thắng lợi hoàn toàn, qua đó chính thức giải quyết ổn thỏa tranh chấp lãnh thổ này.[7]

Cuối thế kỷ 19, Artsvashen thuộc sở hữu của dòng họ địa chủ Melik-Kalantarian.[4] Nơi đây từng mang tên Hin Bashkend (tiếng Armenia: Հին Բաշքենդ, nghĩa là Bashkend Cũ) nhằm phân biệt với khu định cư mới Nor Bashkend của người di cư,[8] và đến năm 1920 còn có tên gọi khác là Bashgyugh.[9] Trong giai đoạn xung đột sắc tộc 19051906, dù liên tục gánh chịu 13 đợt tấn công từ các vùng lân cận, ngôi làng vẫn đứng vững và tránh được kịch bản bị tàn phá nhờ lực lượng tự vệ tổ chức chặt chẽ.[10]

Từ năm 1920, Artsvashen thuộc huyện Krasnoselsk của Armenia Xô viết, ban đầu nối liền với chính quốc bằng một hành lang lục địa.[11] Trong giai đoạn 19231929, dù cơ quan quản lý Liên bang Ngoại Kavkaz phân xử chủ quyền vùng này thuộc về phía Armenia, nhưng đến đầu năm 1927, khoảng 12.000 ha đất xung quanh vẫn bị chuyển giao cho Azerbaijan. Nhằm bù đắp tổn thất đó, chính quyền cấp cho Armenia một dải đất hẹp làm lối đi chung vào tháng 2 năm 1929. Tuy nhiên, quyết định này bị hủy bỏ vào thập niên 1930, khiến nơi đây một lần nữa biến thành vùng đất lọt thỏm giữa lòng quốc gia láng giềng.[10] Suốt thời kỳ Xô viết, Artsvashen sở hữu hệ thống hạ tầng hoàn chỉnh gồm 2 trường trung học, 1 cơ sở dạy nghề, nhà thờ, nhà văn hóa, thư viện, bệnh viện, nhà thuốc, trường mầm non, các rạp chiếu phim cùng bưu điện và trạm dịch vụ dân sinh.[5]

Trong Chiến tranh Nagorno-Karabakh thứ nhất, Bộ Nội vụ Armenia cho biết vào tháng 5 năm 1991, người dân Artsvashen đã giao nộp vũ khí để tránh bị quân đội chiếm đóng.[12] Dù vậy, đến ngày 4 tháng 8 năm 1992, khu vực này bị tàn phá hoàn toàn, khiến toàn bộ cư dân phải sơ tán.[13] Phần lớn họ chuyển đến thị trấn Chambarak định cư, thay thế nhóm người Nga Molokan đã di cư trước đó. Theo tờ New York Times, ngày 9 tháng 8 năm 1992, phía Azerbaijan tuyên bố đã kiểm soát thị trấn, vô hiệu hóa khí tài và khiến 300 tay súng Armenia thiệt mạng. Ngược lại, báo cáo từ Armenia không ghi nhận thương vong nhưng xác nhận có 29 người mất tích.[14]

Tổng thống Armenia Levon Ter-Petrosyan gửi điện tín tới lãnh đạo các nước Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG), khẳng định một thành viên trong khối và hệ thống an ninh chung vừa bị xâm lược.[14]

Ngôi làng sau đó lấy lại tên gọi ban đầu là Bashkend.[15] Hiện nay, khu vực này do Azerbaijan quản lý[16][2] như một phần của quận Gadabay,[17] trong khi phần lớn cư dân người Armenia trước đây đã phải di dời.[18] Tính đến năm 2011, khoảng 8.400 người lánh nạn từ Artsvashen và các vùng phụ cận đang cư trú tại Armenia.[19] Tại làng, một số hộ gia đình Azerbaijan đã đến định cư, và nhà thờ địa phương được chuyển đổi công năng thành thánh đường Hồi giáo. Lối vào địa phương hiện có trạm kiểm soát quân sự nhằm hạn chế người nước ngoài và giới báo chí tiếp cận.[18]

Khu phố

Trung tâm làng là khu Hạ (Nerkin hay Kachal),[a] nơi đặt cung điện văn hóa. Phía bắc gồm khu Thượng (Verin) và Tsits Kar, tiếp giáp với vùng Saribekiants. Khu Shushiants nằm phía trên dải Haram và là nơi tọa lạc của trường trung học địa phương. Qua quá trình mở rộng, hai khu vực mới gồm Chinastagh (Chinastan) cùng Palkh-Kyand đã được sáp nhập vào địa bàn.[4]

Di tích lịch sử

Tập tin:Озеро Башкенд в Кедабеке.jpg
Hồ chứa nước Artsvashen (xây dựng năm 1968) đã làm ngập một số ngôi mộ cổ thuộc thời kỳ đồ đồng, có niên đại từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 8.[20][5]

Khu vực Artsvashen lưu giữ nhiều di tích lịch sử và văn hóa giá trị, từ các ngôi mộ thời kỳ đồ đồng, nghĩa trang, đền thờ, bia đá khachkar đến các công trình tôn giáo cổ kính. Nổi bật tại trung tâm thị trấn là Nhà thờ St. Minas xây dựng năm 1872, từng được ca ngợi vào năm 1888 nhờ kiến trúc cao ráo, mái ngói đặc trưng cùng hoa văn lộng lẫy. Bên cạnh đó, Nhà thờ St. Hovhannes có từ năm 1607 do người dân địa phương khởi dựng và được trùng tu vào năm 1857. Cách Artsvashen khoảng 1 đến 1,5 km về phía đông là dấu tích của làng cổ Paragyugh (Parakert).[21] Nơi đây cũng là địa điểm phát hiện tàn tích của một pháo đài kiến trúc kiên cố.[5]

Yêu cầu bồi thường

Năm 2009, chính phủ Armenia cam kết bồi thường 6 tỷ dram cho những cư dân cũ làng Artsvashen đang sinh sống tại Chambarak để bù đắp tài sản thiệt hại. Sau 2 đợt chi trả đầu tiên trị giá 50 triệu dram, đến năm 2011, một khoản ngân sách 708 triệu dram tiếp tục được phân phối, mang lại khoảng 360 nghìn dram cho mỗi người trong số 2.000 dân cư.[22] Dù vậy, việc trì hoãn các đợt thanh toán kế tiếp đã châm ngòi cho các làn sóng khiếu nại vào tháng 9 năm 2018tháng 12 năm 2019 nhằm đòi kinh phí nâng cấp khu tái định cư xuống cấp ở Chambarak. Phản hồi vấn đề này, Thủ tướng Armenia Pashinyan khẳng định quốc gia đã hoàn tất nghĩa vụ hỗ trợ người tị nạn thông qua các khoản tiền trên cùng việc cấp chứng nhận nhà ở cho khoảng 112 hộ gia đình.[23]

Thảm Artsvashen

Thời kỳ Liên Xô, một chi nhánh của công ty quốc doanh "Thảm Armenia" (Haygorg) từng hoạt động tại Artsvashen.[24][5] Sau khi khu vực này bị lực lượng Azerbaijan kiểm soát, người dân đã sơ tán đến các vùng Shorzha, Vardenis, AbovyanChambarak, mang theo và tiếp tục duy trì nghề dệt thảm truyền thống:

Tại Artsvashen, phụ nữ thường được mẹ và bà truyền lại nghề dệt thảm. Rất nhiều người từng gắn bó hàng thập kỷ với xí nghiệp Haygorg. Bà Irina Ghalechyan, một cựu dân làng kiêm thợ dệt, chia sẻ rằng trước đây, việc phụ nữ tại đây không biết dệt thảm bị coi là thiếu sót lớn. Vì vậy, dù không làm cho hãng, mỗi gia đình vẫn tự trang bị khung dệt tại nhà để sản xuất.

— Lena Nazaryan, cho Hetq[24]

Thông tin nhân khẩu học

Dòng thời gian dân số của Artsvashen kể từ năm 1831 như sau:[8]

Năm Dân số Ghi chú
1873 1,015
1897 1,847 100% Tông đồ Armenian[25]
1908[26] 2,687 Chủ yếu là người Armenia
1911[27]
1914[28] 3,079 Chủ yếu là người Tatar[b]
1915[29]
1926 2,909
1939 4,280
1959 4,112
1970 3,368
1979 2,771
2009 127

Những người đáng chú ý

Aramais Sahakyan là nhà thơ, cây bút trào phúng người Armenia. Ông từng theo học các khóa văn học cao cấp tại Viện Văn học Maxim Gorky và có hơn 30 năm đảm nhiệm vai trò tổng biên tập tuần báo trào phúng Vozni ("Nhím"). Sau khi Liên Xô tan rã, ông trở thành đại biểu thuộc Nghị viện đầu tiên của nước Armenia độc lập.[30]

Saribek Chilingaryan là chiến sĩ Cận vệ Liên xô gốc Armenia. Tháng 8 năm 1943, ông gia nhập Hồng quân để tham gia cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức. Trong Chiến dịch Berlin, ông lập thành tích đặc biệt khi dẫn đầu đội hình bơi qua con kênh gần làng Bushkhov và dùng lựu đạn bắn hạ hai xe tăng đối phương. Với hành động dũng cảm này, ông đã được Đại tướng Mikhail Malinin, Tham mưu trưởng Mặt trận Belorussia 1, đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô viết.[13]

Phòng trưng bày

Ghi chú

  1. ^ Armenian for "bald" due to the small number of gardens in the area.
  2. ^ Later known as Azerbaijani. Based on previous years' statistics, "Tatar" is likely to be a printing error in the Caucasian Calendar.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Azerbaijan, by Human Rights Watch/Helsinki Org., 1994
  2. ^ a b Iskandaryan 2010, tr. 71.
  3. ^ Everett-Heath 2019.
  4. ^ a b c d Karapetyan 2007, tr. 551.
  5. ^ a b c d e Hakobyan, Melik-Bakhshyan & Barseghyan 1986, tr. 453.
  6. ^ Karapetyan 2007, tr. 555.
  7. ^ Petrossian 1992, tr. 12.
  8. ^ a b Bản mẫu:Cite Republic of Armenia Settlements Dictionary
  9. ^ Hovhannisyan, Samson (ngày 20 tháng 4 năm 2016). "Armenian-Azeri enclave war: Formula of Armenian land division". PanARMENIAN.Net. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2022.
  10. ^ a b Karapetyan 2007, tr. 552.
  11. ^ Karapetyan 2007, tr. 550–552.
  12. ^ "Soviet Army Is Reported to Attack And Occupy 2 Armenian Villages". The New York Times. ngày 10 tháng 5 năm 1991. ISSN 0362-4331.
  13. ^ a b Karapetyan 2007, tr. 553.
  14. ^ a b "Armenia Seeks Help in Fighting Azerbaijan". The New York Times. ngày 10 tháng 8 năm 1992. ISSN 0362-4331.
  15. ^ "Päring kohanimeandmebaasist. Väliskohanimed".
  16. ^ Ghazaryan 2019, tr. 148.
  17. ^ Azerbaijan Seven Years of Conflict in Nagorno-Karabakh, Christopher Panico, Human Rights Watch, Jemera Rone (1994), p.92
  18. ^ a b Sargsyan, Tatevik (ngày 12 tháng 10 năm 2021). Арцвашен/Башкенд: Взгляд из бывшего армянского анклава в Азербайджане в преддверии переговоров Еревана и Баку [Artsvashen/Bashkend: A view from the former Armenian enclave in Azerbaijan ahead of negotiations between Yerevan and Baku] (bằng tiếng Nga). Armenia. Radio Free Europe/Radio Liberty. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2023.
  19. ^ Vasilyan 2019, tr. 243.
  20. ^ Karapetyan 2007, tr. 551–554.
  21. ^ Karapetyan 2007, tr. 554–558.
  22. ^ Mkrtchyan, Gayane (ngày 12 tháng 2 năm 2011). "Cold Comfort for Displaced Armenian Villagers". Armenia: Institute for War and Peace Reporting. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2023.
  23. ^ Badalian, Naira (ngày 5 tháng 12 năm 2019). "Former residents of Artsvashen village seized by Azerbaijan held a protest rally in front of the government". Armenia. ArmInfo. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2023.
  24. ^ a b Nazaryan, Lena (2007). "Carpet Weaving in Armenia" (PDF). Hetq. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2011.
  25. ^ "Religious composition of Russian empire 1897". pop-stat.mashke.org. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2022.
  26. ^ Bản mẫu:Cite Kavkazskiy Kalendar 1910
  27. ^ Bản mẫu:Cite Kavkazskiy Kalendar 1912
  28. ^ Bản mẫu:Cite Kavkazskiy Kalendar 1915
  29. ^ Bản mẫu:Cite Kavkazskiy Kalendar 1916
  30. ^ Арамаис Саакян поэт, член СПА с 1958 г. [Aramais Sahakyan poet, member of the SPA since 1958]. Writers' Union of Armenia (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.

Liên kết ngoài

  • Kiesling, Brady (2005), Rediscovering Armenia: Guide, Yerevan, Armenia: Matit Graphic Design Studio