Lê Anh Vinh

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>Tuquyet2457 sửa đổi vào lúc 14:18, ngày 7 tháng 7 năm 2026 (Trang mới: “{{Thông tin nhân vật | honorific_prefix = Giáo sư, tiến sĩ toán học | tên = Lê Anh Vinh | honorific_suffix = <div style="background-color:#D3D3D3; padding:4px;"> '''Thông tin cá nhân'''</div> | tên khai sinh = | ngày sinh = {{ngày sinh và tuổi|1983|7|29}} | nơi sinh = Nông Cống, Thanh Hóa | dân tộc = | quốc tịch = {{VIE}} | đảng phái = {{CSVN}} | module = {{Infobox | child = yes | title = | dec…”). Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Lê Anh Vinh (sinh ngày 29 tháng 7 năm 1983) là giáo sư, tiến sĩ toán học Việt Nam. Ông là giáo sư trẻ nhất trong đợt phong hàm năm 2020, và là phó giáo sư trẻ nhất trong đợt phong hàm năm 2013. Hiện nay ông là Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.


Lê Anh Vinh

Thông tin cá nhân
Sinh29 tháng 7, 1983 (43 tuổi)
Nông Cống, Thanh Hóa
Quốc tịch Việt Nam
Trường lớpĐại học New South Wales, Úc
Đảng phái chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam
Nơi cư trúHà Nội
Học vịTiến sĩ
Học hàm • Giáo sư (2020)
 • Phó Giáo sư (2013)
Sự nghiệp khoa học
Ngành
Tiến sĩĐại học Harvard (Mỹ)
Nơi công tácViện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Chức vụ
Viện trưởng
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

(2021 – nay)
Tiền nhiệmTrần Công Phong
Kế nhiệmđương nhiệm

Tiểu sử và học vấn

Lê Anh Vinh, sinh ngày 29 tháng 7 năm 1983; quê quán tại xã Minh Khôi, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa;[1] học phổ thông chuyên Toán tại Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.[2]

Năm 2001, Lê Anh Vinh nhận học bổng toàn phần của chính phủ Australia theo học tại Đại học New South Wales. Năm 2005, Lê Anh Vinh đã vượt lên sinh viên nhiều nước khác, tốt nghiệp thủ khoa đại học chuyên ngành Toán - Tin của Australia và trở thành nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Harvard (Mỹ) từ năm 2006 đến 2010. Tháng 5 năm 2010, Lê Anh Vinh nhận bằng tiến sĩ của Đại học Harvard khi mới 27 tuổi.[3]

Những thành công về mặt khoa học của Lê Anh Vinh được công nhận tại Viện nghiên cứu Toán - Lý Erwin Schrodinger (Vienna, Áo) và khoa Toán Đại học Rochester (Mỹ) đã tạo những cơ hội để anh ở lại Mỹ làm việc. Tuy nhiên, năm 2011, Lê Anh Vinh đã về Việt Nam làm việc tại Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) và coi đây là nơi để anh tiếp tục đóng góp và ươm mầm những tài năng trẻ cho ngành toán học.[4] Tại đây, Lê Anh Vinh đã trải qua các chức vụ Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học Giáo dục, Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Khoa học Giáo dục.[2]

Năm 2013, ở tuổi 30, ông là người trẻ nhất Việt Nam được công nhận chức danh Phó Giáo sư.[5] Năm 2017, Lê Anh Vinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo điều động, bổ nhiệm Phó Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo).[6] Từ tháng 11 năm 2020, ông được giao nhiệm vụ phụ trách Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Cũng năm này, ông được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư ở tuổi 37, trở thành Giáo sư trẻ nhất trong đợt phong hàm năm 2020.[4]

Từ tháng 12 năm 2021, Lê Anh Vinh được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.[7]

Sự nghiệp

Khoa học

Hướng nghiên cứu chính của Lê Anh Vinh là Toán học rời rạc, Lý thuyết đồ thị. Ông đã hướng dẫn 1 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ; là tác giả của 2 cuốn sách chuyên khảo; hơn 50 bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín trong và ngoài nước.[1] Ông là chủ nhiệm của nhiều đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục; 25 báo cáo tại các Hội nghị khoa học Quốc tế, 6 báo cáo tại các Hội nghị khoa học trong nước.[6]

Giáo dục

Lê Anh Vinh từng làm Phó trưởng đoàn học sinh Việt Nam tham dự Olympic Toán quốc tế IMO  từ năm 2013. Đến năm 2016, ông chính thức trở thành Trưởng đoàn.[5]

Lê Anh Vinh đã dành nhiều tâm huyết cho các dự án giáo dục, đặc biệt là giáo dục toán tư duy cho trẻ em. Có thể kể các ấn phẩm do ông là tác giả hoặc đồng tác giả: “Giải đố giải ngố cùng truyện ngụ ngôn toán học” (4 cuốn), “Học toán cùng Jenny - Sách dành cho học sinh chuẩn bị vào lớp 1” (8 cuốn), “Cuộc phiêu lưu của Jenny ở Vương quốc Ham chơi”... Gần đây, bộ sách “Những đứa trẻ hạnh phúc” (10 cuốn) với các chủ đề văn hóa, giáo dục dành cho trẻ em do Lê Anh Vinh chủ biên, Bùi Thị Diển viết lời, Bùi Việt Duy vẽ minh họa, Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, đã được trao giải khuyến khích Giải thưởng Sách quốc gia lần thứ sáu năm 2023.[8]

Ghi nhận

Năm 2001, Lê Anh Vinh đã giành Huy chương Bạc Toán quốc tế và Huy chương Vàng Toán châu Á - Thái Bình Dương khi đang là học sinh lớp 12 chuyên toán tại Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.[3] Ông cũng đã đạt: Giải nhất Tài năng khoa học trẻ Việt Nam dành cho giảng viên năm 2012; Giải thưởng Công trình khoa học tiêu biểu của nhà khoa học trẻ Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012.[3] Lê Anh Vinh còn là 1 trong 10 gương mặt trẻ tiêu biểu Thủ đô năm 2013 do Thành đoàn Hà Nội công bố.[9]

Công trình khoa học chính

Sách chuyên khảo

  • Lý thuyết Ramsey, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2020
  • Lý thuyết đồ thị, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2020

Bài báo khoa học

  • A new bound for the Erdos distinct distances problem in the plane over prime fields, Acta Arithmetica, 193 , 165-174, 2020
  • On a theorem of Hegyvari and Hennecart, Pacific Journal of Mathematics, 305 , 2, 407-421, 2020
  • Three-variable expanding polynomials and higherdimensional distinct distances, Combinatorica, 39 , 411- 426, 2019
  • On the number of orthogonal systems in vector spaces over finite fields, The Electronic Journal of Combinatorics, 15 , N32, 2018
  • Distinct distances between points and lines in F_q^2, Forum Mathematicum, 30 , 4, 799-808, 2018
  • Some combinatorial number theory problems over finite valuation rings, Illinois Journal of Mathematics, 61 , 1-2, 243-257, 2017
  • Erdos–Rényi graph, Szemerédi–Trotter type theorem, and sum-product estimates over finite rings, Forum Mathematicum, 27 , 331- 342, 2015
  • Spectra of product graphs and permanents of matrices over finite rings, Pacific Journal of Mathematics, 267 , 2, 479-487, 2014
  • Integral Cayley graphs generated by distance sets in vector spaces over nite elds, The Electronic Journal of Combinatorics, 20 , 1, #P29, 2013
  • On the sum of the squared multiplicities of the distances in a point set over finite spaces, Applicable Analysis and Discrete Mathematics, 7 , 106- 118, 2013
  • Maximal Sets of Pairwise Orthogonal Vectors in Finite Fields, Canada Mathematics Bulletin, 55 , 418- 423, 2012
  • On sum of products and the Erdos distance problem over finite fields, Bulletin of Australian Mathematical Society, 81 , 1-9, 2011

Nguồn:[1]

Tham khảo

  1. ^ a b c "Lý lịch khoa học" (PDF). Hội đồng Giáo sư Nhà nước.
  2. ^ a b Thanh Hùng (ngày 11 tháng 11 năm 2020). "Tiến sĩ Harvard phụ trách Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam". VietNamNet. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2026.
  3. ^ a b c Hoàng Hoa (ngày 23 tháng 11 năm 2013). "Lê Anh Vinh - Phó Giáo sư làm "dậy sóng" cộng đồng trẻ". Dân trí. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2026.
  4. ^ a b Khánh Nguyễn (ngày 28 tháng 12 năm 2020). "Tiến sĩ Đại học Harvard trở thành giáo sư trẻ nhất Việt Nam năm 2020". VTV. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2026.
  5. ^ a b Thảo Kim (ngày 7 tháng 12 năm 2020). "37 tuổi trở thành giáo sư Việt Nam". Tuổi trẻ. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.
  6. ^ a b Bích Vân (ngày 22 tháng 5 năm 2019). "PGS.TS Lê Anh Vinh: bay bổng một tình yêu với giáo dục toán học". TTXVN. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.
  7. ^ Hà An (ngày 6 tháng 12 năm 2021). "Trao Quyết định bổ nhiệm Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam". Giáo dục & Thời đại. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.
  8. ^ Phùng Hà. "GS trẻ nhất Việt Nam với khát vọng "Những đứa trẻ hạnh phúc"". Nhân Dân. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.
  9. ^ Nghiêm Huê (ngày 7 tháng 12 năm 2020). "Giáo sư trẻ nhất Việt Nam năm 2020 đến từ ngành Toán". Tiền phong. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.

Xem thêm