Ái Tất Đạt (chữ Hán: 愛必達, ? - 1775), tự là Dĩ Nhân (以仁), Nữu Hỗ Lộc thị, là một quan viên và ngoại thích nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Ái Tất Đạt
愛必達
Quan viên nhà Thanh
Thông tin chung
Sinh?
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
Mất1775
Y Lê
Phối ngẫuHoàng Giai thị
Hậu duệxem văn bản
Thân phụDoãn Đức (尹德)
Thân mẫuĐổng thị (董氏)

Tiểu sử

Xuất thân thế gia

Ái Tất Đạt không rõ năm sinh, xuất thân thuộc gia tộc Nữu Hỗ Lộc của Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, dòng dõi Hoằng Nghị công Ngạch Diệc Đô, là một trong năm vị trọng thần khai quốc Hậu Kim. Tổ phụ của ông, Nhất đẳng Khác Hi công Át Tất Long là con trai của Ngạch Diệc Đô do Hòa Thạc Công chúa Mục Khố Thạp - con gái Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích sinh ra, là một trong bốn vị Phụ chính đại thần của Khang Hi Đế. Gia tộc của ông khi này vô cùng vinh hiển, được mệnh danh là ["Danh môn trung danh môn"], hai vị biểu cô của ông, tức con gái của Ất Tất Long được triệu vào cung, chính là Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậuÔn Hi Quý phi của Khang Hi.

Thân phụ của ông, Doãn Đức (尹德) do trắc thất của Át Tất Long là Thư Thư Giác La thị sinh ra, vị này cũng chính là sinh mẫu của Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu và Ôn Hi Quý phi. Sau khi Át Tất Long qua đời, Doãn Đức tiếp tục vào triều làm quan, thụ Tá lĩnh thụ Thị vệ (佐領授侍衛) tùy Khang Hi Đế chinh phạt Cát Nhĩ Đan, rồi từ Đô thống thăng lên Thị vệ Nội đại thần (侍衛內大臣), kiêm Nghị chính đại thần[1], rồi lại kế tục tước vị [Quả Nghị công; 果毅公] của dòng dõi sau khi người cháu trực hệ đại tông là A Nhĩ Tùng A bị trách cứ tước vị[2]. Doãn Đức qua đời vào năm Ung Chính, do có danh vọng nên Doãn Đức được ân thưởng rất hậu hĩnh, có tiếng là hiền thần, được vào Hiền Lương từ (賢良祠), truy phong Nhất đẳng Công. Sinh mẫu của ông là chính thất của Doãn Đức, tức Đổng thị (董氏), xuất thân Hán Quân Chính Bạch kỳ, con gái Hồ Quảng Tổng đốc Đổng Vệ Quốc (董衛國)[3].

Hành trạng

Ái Tất Đạt bắt đầu sự nghiệp quan lộ ở vị trí Bút thiếp thức, sau đó được kế thừa tước vị Tá lĩnh sau khi Doãn Đức qua đời. Năm Càn Long thứ 9 (1744), từ chức Lại bộ Lang trung, ông được thăng làm Thừa biện Giang Tây Bố chính sứ. Sau đó, khi dời tòa sang nhậm chức Giang Tô Bố chính sứ, ông kiêm quản luôn việc Chức tạo và Thuế vụ tại quan ải Hử Thự quan. Kế tiếp, điều chuyển làm Quý Châu Bố chính sứ.

Năm Càn Long thứ 11 (1746): Ông được hoàng đế bạt thăng làm Sơn Tây Tuần phủ. Tại đây, ông đã dâng sớ xin triều đình mở kho lương cứu tế để trữ lương tích cốc, cứu giúp dân chúng, nhờ đó mà rất được người dân nơi đây kính trọng. Ông liên tục được hoàng gia tin tưởng giao phó các trọng trách tối cao, kinh qua chức vị: Chiết Giang Tuần phủ, Quý Châu Tuần phủ, Vân Nam Tuần phủ, Giang Nam Hà đạo Tổng đốc, Vân Quý Tổng đốc, và cuối cùng là Hồ Quảng Tổng đốc. Về sau, do bao che tội lỗi của cấp dưới nên ông bị Hoàng đế trách phạt, cuối cùng bị cách chức và điều đến Y Lê rồi qua đời tại đây.

Bên cạnh sự nghiệp hoạn lộ, ông còn để lại di sản văn hóa với tác phẩm 《Hoằng Nghị công chiến công hành lược》 và thân hành biên soạn bộ địa chí nổi tiếng 《Kiềm Nam thức lược》 (còn có tên là 《Kiềm Trung phong thổ chí》, xuất bản năm 1749) gồm 30 quyển.

Thông tin cá nhân

  • Thê tử: Hoàng Giai thị (黃佳氏), xuất thân Mãn Châu Chính Lam kỳ, cháu gái Hộ bộ Thượng thư Tô Hách (蘇赫). Tất cả các con của Ái Tất Đạt đều do bà sinh ra.

Hậu duệ

Con trai

  1. Phúc Khánh (福慶, 1743 - 1819), tự Lan Tuyền (蘭泉), hiệu Trọng Dư (仲餘), Lan Tuyền chủ nhân (蘭泉主人), Dụng Chuyết đạo nhân (用拙道人). Làm quan đến Thượng thư hai bộ Lễ, Binh kiêm Nội đại thần, là một thi nhân thời Thanh, tác giả tập 《Lan Tuyền thi cảo》
    • Đích thê: Đổng Ngạc thị (董鄂氏), xuất thân Mãn Châu Chính Bạch kỳ, con gái Hồ Quảng kiêm Thiểm Cam Tổng đốc Vĩnh Thường (永常).
    • Tử:
    • Nữ:
      • Trưởng nữ, Đích Phúc tấn của Đôn Khác Quận vương Miên Khải.
      • Nhị nữ, Kế phu nhân của Phụng ân Phụ quốc công Dịch Lễ (奕禮), hậu duệ Hằng Thân vương Dận Kì.
      • Tam nữ, đích thê của Cách thoái Phụng quốc Tướng quân Dịch Thắng (奕貹).
      • Tứ nữ, kế thê của Lại bộ Thượng thư Hoa Sa Na (花沙納).
  2. Phúc Lãng (福朗), biên soạn bộ tộc phả《Khai quốc tá vận công thần Hoằng Nghị công gia phả》

Con gái

  1. Trưởng nữ, tức Thuận quý nhân của Càn Long Đế.
  2. Nhị nữ, lấy Thiểm Cam Tổng đốc Cao Kỷ (高杞) thuộc Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, cháu trai của Tuệ Hiền Hoàng quý phi.
  3. Tam nữ, lấy Cử nhân Dương Trường Bách (楊長栢) thuộc Hán Quân Tương Hoàng kỳ, con trai Đại học sĩ Dương Đình Chương (楊廷璋).
  4. Tứ nữ, tên Hi Quang (希光), một khuê các thi nhân thời Thanh, tác giả 《Hi Quang thi sao》. Lấy Viên ngoại lang Y Tùng An (伊嵩安) thuộc Mãn Châu Chính Bạch kỳ, cháu trai Lại bộ Thượng thư Vĩnh Quý (永贵).

Chú thích

  1. ^ 《清史稿 卷二百八十七 列傳三十六》:尹德初自佐領授侍衛,從聖祖征噶爾丹,扈蹕寧夏。尋自都統擢領侍衛內大臣,兼議政大臣。
  2. ^ 《清史稿 卷二百八十七 列傳三十六》:刑部尚書阿爾松阿以無心效力,奪職削爵,發往盛京,以其伯音德襲果毅公。......庚子,以音德、夸岱俱為領侍衛內大臣。
  3. ^ 王冕森. 第十章 清圣祖康熙帝的后宫 第一节 清圣祖康熙帝的四位皇后、第二节 清圣祖康熙帝后宫三位丹阐出身的主位. 《清代后妃杂识》. 中国·上海市: 上海社会科学院出版社. 2022. ISBN 9787552038200 (中文(简体)).