Án lệ 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản là án lệ thứ 81 thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại của hệ thống pháp luật Việt Nam, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua, Chánh án Nguyễn Văn Quảng ra quyết định công bố ngày 25 tháng 12 năm 2025,[2] và có hiệu lực cho tòa án các cấp trong cả nước nghiên cứu, áp dụng trong xét xử từ ngày 1 tháng 2 năm 2026.[3] Nguồn của án lệ là Quyết định giám đốc thẩm số 13/2022/KDTM-GĐT ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh, thương mại "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ" giữa nguyên đơn là Công ty M với bị đơn là Công ty cổ phần A. Dự thảo án lệ do Giáo sư, Tiến sĩ Luật học Đỗ Văn Đại[a] đề xuất, trở thành án lệ thứ 11 về lĩnh vực kinh doanh thương mại của Việt Nam.

Án lệ 81/2025/AL
Trụ sở Tòa án nhân dân tối cao
Tòa ánHội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Tên đầy đủ Án lệ số 78/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
Phán quyếtngày 12 tháng 12 năm 2022
Trích dẫnQuyết định giám đốc thẩm số 13/2022/KDTM-GĐT ngày 12/12/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh, thương mại "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ" giữa nguyên đơn là Công ty M với bị đơn là Công ty cổ phần A;
Quyết định công bố án lệ 399a/2023/QĐ-CA
Lịch sử vụ án
Lịch sử trước đóSơ thẩm: tuyên đình chỉ giải quyết vụ án do hết thời hiệu khởi kiện.
Phúc thẩm: bác kháng cáo, y án sơ thẩm.
Lịch sử sau nàyChánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị;
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm
Kết luận cuối cùng
Các bên giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ, sau đó thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Nguyên đơn (bên cung ứng dịch vụ) yêu cầu bị đơn (bên sử dụng dịch vụ) trả tiền dịch vụ; bị đơn đồng ý sẽ trả tiền nhưng chưa trả nên nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bị đơn trả tiền. Bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Trường hợp này, Tòa án phải xác định tranh chấp giữa các bên là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản và không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Hủy bản án phúc thẩm, sơ thẩm, giao Tòa sơ thẩm xét xử lại theo quy định.[1]

Tại Thái Nguyên, từ năm 2012, hai công ty ký kết hợp đồng dịch vụ, theo đó, một công ty cho thuê dịch vụ kỹ thuật về sản xuất bột giấy, một công ty nhận dịch vụ. Hai bên hợp tác hơn nửa năm, xuất các hóa đơn thương mại và thống nhất thanh toán. Tuy nhiên, công ty nhận dịch vụ không thanh toán mặc dù công ty cho thuê đã nhiều lần yêu cầu, cũng như quá thời hạn đã thỏa thuận. Do không được thanh toán, tới năm 2018, công ty cho thuê dịch vụ đã đệ đơn khởi kiện yêu cầu công ty nhận dịch vụ thanh toán tiền dịch vụ, đồng thời trả tiền lãi do vi phạm hợp đồng về chậm thanh toán. Vụ án lần lượt qua tòa cấp tỉnh, tòa cấp cao với kết quả nguyên đơn thất bại, không đòi được tiền dịch vụ do hết thời hiện khởi kiện, tuy nhiên được kháng nghị giám đốc thẩm lật ngược kết quả, theo đó tòa án xác định tiền dịch vụ là tài sản chính đáng của nguyên đơn, đây là vụ án đòi tại tài sản, không áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện, kết cục có lợi cho nguyên đơn sau 10 năm tranh chấp.

Nội dung vụ án

Ngày 1 tháng 7 năm 2012, Công ty M và Công ty cổ phần A đã ký hợp đồng dịch vụ, theo đó, Công ty M sẽ cử các chuyên gia kỹ thuật để cung cấp các dịch vụ và hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến việc sản xuất bột giấy Kraft của Công ty A, dựa trên thỏa thuận của 2 bên và pháp luật Nhật Bản. Từ tháng 7—11 năm 2012, Công ty M đã cử tổng cộng 4 chuyên gia kỹ thuật tới nhà máy của Công ty A. Ngày 2 tháng 11 năm 2012, Công ty A gửi văn bản tới Công ty M về việc đề nghị chấm dứt hợp đồng dịch vụ, sang ngày 23 tháng 11, Công ty M đồng ý và hợp đồng dịch vụ được chấm dứt vào ngày 23 tháng 11 cùng năm. Do các phần công việc đã thực hiện, Công ty M đã phát hành tổng cộng 6 hóa đơn thương mại đối với phí dịch vụ phải trả từ tháng 7—11 năm 2012 và chi phí phát sinh sau tháng 11 năm 2012.[4]

Sau khi Công ty M phát hành các hóa đơn thương mại, Công ty A không có phản đối nào với nội dung của các hóa đơn thương mại. Ngày 8 tháng 12 năm 2012 và ngày 27 tháng 3 năm 2013, 2 công tỷ họp trao đổi, theo đó, đại diện Công ty A xác nhận về việc sẽ thanh toán cho Công ty M theo hợp đồng dịch vụ. Đến ngày 1 tháng 6 năm 2013, Công ty A xác nhận sẽ thanh toán chi phí dịch vụ cho Công ty M.[b] Sau đó, Công ty M đã yêu cầu Công ty A thanh toán qua việc gửi các văn bản,[c] tuy nhiên, Công ty A chưa thanh toán phí và chi phí theo hợp đồng dịch vụ, cụ thể là 26.343.433 Yên Nhật tại các hóa đơn thương mại. Do 2 công ty không thỏa thuận được việc thanh toán trong thời gian dài, ngày 26 tháng 11 năm 2018, Công ty M đệ đơn khởi kiện Công ty A, gửi Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.[5]

Các hóa đơn thương mại giữa Công ty M và Công ty A
Thứ tự Hóa đơn thương mại Loại chi phí Ngày phát hành Thời hạn thanh toán Số tiền (Yên Nhật)
1 B743-0090 Phí dịch vụ tháng 7/2012 15/11/2012 30/11/2012 3.559.346
2 B743-0091 Phí dịch vụ tháng 8/2012 15/11/2012 30/11/2012 6.766.683
3 B743-0092 Phí dịch vụ tháng 9/2012 15/11/2012 30/11/2012 4.889.738
4 B743-0093 Phí dịch vụ tháng 10/2012 05/12/2012 31/12/2012 5.461.096
5 B743-0094 Phí dịch vụ tháng 11/2012 07/01/2013 31/01/2013 2.851.871
6 B743-0095 Phí dịch vụ tháng 12/2012 05/3/2013 31/3/2013 2.814.699
Tổng 26.343.433

Tranh tụng

Nguyên đơn

Trên cơ sở thực tế, nguyên đơn trình bày rằng bị đơn chưa thanh toán 26.343.433 Yên Nhật tại các hóa đơn thương mại, và do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải trả tiền lãi chậm trả theo hợp đồng dịch vụ là 10%/năm. Do đó, nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán tiền theo các hóa đơn thương mại là 26.343.433 Yên Nhật và tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 26 tháng 11 năm 2018 là 15.596.274 Yên Nhật. Chuyển đổi sang tiền Việt Nam tương đương 8.762.510.504 đồng Việt Nam tại tờ thời điểm khởi kiện.[5]

Bị đơn

Bị đơn trình bày rằng bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty M do đã hết thời hiệu khởi kiện, đề nghị Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết vụ án.[6]

Tiền giám đốc thẩm

Ngày 30 tháng 11 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa tại trụ sở ở đường 17 Tháng 8, Minh Xuân, Tuyên Quang. Tại đây, tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại giữa 2 công ty, hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án là đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ việc,[7] trả lại án phí, lệ phí Tòa án, trả cho nguyên đơn đơn khởi kiện và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện.[d][8] Ngày 6 tháng 12 năm 2019, nguyên đơn nộp đơn kháng cáo.[9]

Ngày 6 tháng 5 năm 2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa tại trụ sở ở số 1 Phạm Văn Bạch, Cầu Giấy. Tại đây, tòa án quyết định không chấp nhận kháng cáo.[10] Ngày 21 tháng 8 cùng năm, nguyên đơn tiếp tục có đơn đề nghị xem xét thủ tục giám đốc thẩm đối với quyết định phúc thẩm. Ngày 23 tháng 12 năm 2021, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với Quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy quyết định kinh doanh thương mại phúc thẩm nêu trên và hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.[9][11]

Giám đốc thẩm

Ngày 13 tháng 12 năm 2022, với yêu cầu kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán đã nhất trí mở phiên xét xử giám đốc thẩm tại trụ sở tòa ở số 48 đường Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nhận định của tòa án

"[5]... các bên đã có thỏa thuận chấm dứt việc thực hiện hợp đồng và Công ty A đã xác định nghĩa vụ thanh toán tiền theo các hóa đơn thương mại là 26.343.433 Yên Nhật và tiền lãi chậm trả, tức là các bên không tranh chấp hợp đồng nữa nên việc Công ty M khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty A phải thanh toán khoản tiền nêu trên phải được xác định là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thương mại "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ" là không đúng.

[6] Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trường hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá không đầy đủ, chính xác các tình tiết nêu trên của vụ án nên chấp nhận đề nghị của Công ty A về việc áp dụng thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, từ đó áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp luật.".

Hội đồng xét xử, nội dung nhận định.[12]

Hội đồng xét xử nhận định rằng, ngày 1 tháng 7 năm 2012, nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng dịch vụ, theo đó, nguyên đơn sẽ cử các chuyên gia kỹ thuật để cung cấp các dịch vụ và hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến việc sản xuất bột giấy kraft của bị đơn, dựa trên thỏa thuận của 2 bên và pháp luật Nhật Bản. Từ tháng 7—11/2012, bị đơn đã cử tổng cộng 4 chuyên gia kỹ thuật tới nhà máy của bị đơn. Ngày 2 tháng 11 năm 2012, bị đơn đề nghị chấm dứt hợp đồng dịch vụ. Ngày 23 tháng 11 năm 2012, hai công ty thỏa thuận chấm dứt hợp đồng dịch vụ. Nguyên đơn đã phát hành 6 hóa đơn thương mại đối với phí dịch vụ phải trả từ tháng 7—11 năm 2012 và chi phí phát sinh sau tháng 11 năm 2012, tổng cộng 26.343.433 Yên Nhật, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán hóa đơn cuối cùng trước ngày 31 tháng 3 năm 2013. Ngày 1 tháng 6 năm 2013, bị đơn có văn bản do Phó Tổng Giám đốc ký khẳng định lại việc bị đơn sẽ thanh toán chi phí dịch vụ cho nguyên đơn theo nội dung cuộc họp trước đó vào ngày 31 tháng 5 năm 2013 giữa 2 công ty.[13]

Như vậy, các bên đã có thỏa thuận chấm dứt việc thực hiện hợp đồng và bị đơn đã xác định nghĩa vụ thanh toán tiền theo các hóa đơn thương mại và tiền lãi chậm trả, tức là các bên không tranh chấp hợp đồng nữa nên việc nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán khoản tiền phải được xác định là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thương mại là không đúng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trường hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện.[14] Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá không đầy đủ, chính xác các tình tiết nêu trên của vụ án nên chấp nhận đề nghị của bị đơn về việc áp dụng thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,[15] từ đó áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp luật.[13][16]

Quyết định

Căn cứ các nhận định và hồ sơ vụ án và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015,[17][18][19] Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáo của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.[12]

Hình thành án lệ

...Ở một chừng mực nào đó, chúng ta cũng có thể nghĩ tới áp dụng đường lối của Án lệ số 81/2025 cho cả quan hệ ngoài hợp đồng khi một bên trong quan hệ ngoài hợp đồng đó thừa nhận phải trả cho bên kia một khoản tiền và sau đó có tranh chấp về đòi khoản tiền đã thừa nhận. Ở đây, triết lý "có nợ phải trả" nên tiếp tục được duy trì và mở rộng phạm vi áp dụng.[20]

—Đỗ Văn Đại, đề xuất Án lệ 81.

Năm 2024, Giáo sư Đỗ Văn Đại đã đề xuất Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn quyết định giám đốc thẩm do Hội đồng Thẩm phán Tòa tối cao ban hành làm án lệ nhằm xác định rõ việc không áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện đối với vụ án đòi lại tài sản, làm rõ vụ án dân sự và vụ án kinh doanh thương mại.[21] Bản án này vượt qua vòng chọn lựa ban đầu và được đưa vào danh mục 22 dự thảo án lệ, trong đó có 6 án về hình sự, 11 dân sự, kinh doanh, thương mại, 2 hành chính, 2 lao động, 1 dân sự, trình Tòa tối cao. Các dự thảo án lệ được đăng tải lấy ý kiến cả nước và lấy ý kiến các chuyên gia thông qua nhiều hội thảo, phiên họp tại Đắk Lắk, Bình Định trong năm.[22][23] Ngày 24 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn án lệ để cho ý kiến đối với 22 dự thảo án lệ và giao Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học của Tòa tối cao chỉnh lý, biên soạn tiếp thu ý kiến góp ý từ các cơ quan, tổ chức trong cả nước.[24] Qua các vòng tuyển chọn, Hội đồng thẩm phán Tòa tối cao đã biểu quyết chọn quyết định giám đốc thẩm này làm án lệ, chính thức trở thành Án lệ 81/2025/AL và là án lệ kinh doanh thương mại thứ 11 trong hệ thống án lệ Việt Nam.[25][26][27]

Ghi chú

  1. ^ Thành viên Hội đồng tư vấn án lệ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Giáo sự, Tiến sĩ Đỗ Văn Đại.
  2. ^ Văn bản số 10/AHP-MC-2013 của Công ty cổ phần A.
  3. ^ Văn bản trao đổi hiện trường số SC-MC/AHP-2839, SC-MC/AHP-2842, các văn bản yêu cầu thanh toán vào các ngày 15/11/2017 và 23/5/2018.
  4. ^ Số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp là 58.381.255 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000507 ngày 07/01/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang (Do Chi nhánh Công ty Luật TNHH Q nộp thay).

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ Án lệ 81/2025/AL, tr. 1.
  2. ^ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng, Quyết định 399a/QĐ-CA về việc công bố án lệ.
  3. ^ Quyết định 399a/QĐ-CA, Điều 2:
    "Các Tòa án có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng các án lệ nêu tại Điều 1 của Quyết định này trong xét xử kế từ ngày 01 tháng 02 năm 2026".
  4. ^ Án lệ 81/2025/AL, tr. 1-2.
  5. ^ a b Án lệ 81/2025/AL, tr. 3.
  6. ^ Án lệ 81/2025/AL, tr. 3-4.
  7. ^ Văn bản thụ lý số 01/2019/TLST-KDTM ngày 07/01/2019 về việc "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ" giữa nguyên đơn là Công ty M với bị đơn là Công ty cổ phần A.
  8. ^ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số 01/2019/QĐST-KDTM ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
  9. ^ a b Án lệ 81/2025/AL, tr. 4.
  10. ^ Quyết định số 37/2020/QĐ-PT ngày 06/5/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
  11. ^ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 24/2021/KN-KDTM ngày 23/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  12. ^ a b Án lệ 81/2025/AL, tr. 6.
  13. ^ a b Án lệ 81/2025/AL, tr. 5.
  14. ^ Bộ luật Dân sự 2015, Khoản 2 Điều 155: Không áp dụng thời hiệu khởi kiện
    :"...2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.".
  15. ^ Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Khoản 2 Điều 184: Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
    :"...2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.".
  16. ^ Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điểm e khoản 1 Điều 217: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
    :"1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
    ...e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;".
  17. ^ Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điểm a khoản 2 Điều 337: Thẩm quyền giám đốc thẩm
    "2. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị như sau:
    a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;".
  18. ^ Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Khoản 3 Điều 343: Thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm
    "3. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm;".
  19. ^ Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 345: Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
  20. ^ Yến Vũ (ngày 12 tháng 2 năm 2026). "Án lệ 81/2025 và triết lý 'có nợ phải trả'". Tuổi trẻ Pháp luật.
  21. ^ Nga Phạm (ngày 3 tháng 3 năm 2026). "Án lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản". Tạp chí Tòa án nhân dân.
  22. ^ Lê Hiếu (ngày 3 tháng 6 năm 2024). "TANDTC tổ chức Hội thảo lấy ý kiến đối với 22 dự thảo án lệ". Công lý.
  23. ^ Minh Giang; Phạm Hiến (ngày 27 tháng 7 năm 2024). "Tòa án nhân dân tối cao lấy ý kiến đối với 22 dự thảo án lệ". Media Công lý.
  24. ^ Mai Đỉnh (ngày 24 tháng 7 năm 2024). "TANDTC lấy ý kiến đối với 22 dự thảo án lệ". Công lý. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
  25. ^ P.V (ngày 3 tháng 2 năm 2026). "TAND Tối cao công bố 10 án lệ mới". Tuổi trẻ.
  26. ^ Hà Chi (ngày 4 tháng 2 năm 2026). "Tòa án nhân dân tối cao công bố 10 án lệ". Tạp chí Tòa án nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
  27. ^ Trần Minh (ngày 4 tháng 3 năm 2026). "Án lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản". Tạp chí Luật sư Việt Nam.

Thư mục

Liên kết ngoài