Đào Đình Luyện (tên thật là: Đào Mạnh Hùng, 5 tháng 11 năm 19293 tháng 8 năm 1999) là một tướng lĩnh cấp Cao Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng.[1] Ông nguyên là Tư lệnh Không quân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (1991–1995).

Đào Đình Luyện
Tập tin:Thuong tuong Dao Dinh Luyen.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ1989 – tháng 12 năm 1995
Bộ trưởngĐại tướng Đoàn Khuê (Lê Đức Anh (1987 - 1991)
Đại tướng Đoàn Khuê (1991 - 1997)
Nhiệm kỳ1991 – tháng 12 năm 1995
Phó Tổng Tham mưu trưởng
Tiền nhiệmĐại tướng Đoàn Khuê
Kế nhiệmTrung tướng Phạm Văn Trà
Nhiệm kỳ1977 – 1986
Phó Tư lệnhThiếu tướng Nguyễn Ngọc Độ (1985 - 1987)
Tiền nhiệmThiếu tướng Lê Văn Tri
Kế nhiệmTrung tướng Trần Hanh
Nhiệm kỳ1989 – 1992
Phó Chủ nhiệmĐại tá Phạm Thanh Liêu
Tiền nhiệmThiếu tướng Phan Thu
Kế nhiệmTrung tướng Trương Khánh Châu
Thông tin cá nhân
Quốc tịch Việt Nam
Sinh5 tháng 11, 1929
Thôn Phụng Công, xã Quỳnh Phụ, tỉnh Hưng Yên
Mất3 tháng 8, 1999(1999-08-03) (69 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Dân tộcKinh
Tôn giáoKhông
Binh nghiệp
Thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ19451999
Cấp bậcBản mẫu:QH
Chỉ huy Việt Nam Độc lập Đồng minh
Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến

Thân thế sự nghiệp

Ông sinh ngày 5 tháng 11 năm 1929 tại thôn Phụng Công, xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là xã Quỳnh Phụ, tỉnh Hưng Yên).[2]

Ông bắt đầu tham gia phong trào Việt Minh từ tháng 3 năm 1945, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1945. Sau khi Pháp nổ súng tái chiếm Đông Dương, ông tham gia quân đội, lần lượt giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính ủy trung đoàn; tham gia các chiến dịch: Việt Bắc (1947), Sông Thao, Biên Giới, Hòa BìnhĐiện Biên Phủ (1954).

Tháng 10 năm 1955, ông làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 312.

Ông là cháu ruột cụ Đào Văn Hiển, lão thành cách mạng, chủ tịch uỷ ban quân quản đầu tiên (năm 1945) tại huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình (Huyện Quỳnh Phụ có phố Đào Văn Hiển).

Hoạt động trong quân chủng không quân

  • Từ tháng 3 năm 1958 đến tháng 8 năm 1963, ông sang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để học huấn luyện bay.
  • Từ tháng 8 năm 1964 đến năm 1965, ông làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921 (Trung đoàn Không quân đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam).[1]
  • Tháng 3 năm 1974, ông làm Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân.
  • Tháng 5 năm 1977, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng Không quân.

Lãnh đạo Bộ Quốc phòng

  • Tháng 3 năm 1986, ông làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.[2]
  • Năm 1989, ông làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương.
  • Từ năm 1991 đến năm 1995, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương.[3]

Ông thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1977, Trung tướng năm 1983, Thượng tướng năm 1988.

Ông bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa VIVII; đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa VII, VIII, IX.[4]

Ông mất ngày 3 tháng 8 năm 1999 tại Hà Nội, hưởng thọ 69 tuổi.

Tặng thưởng và Vinh danh

Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng:

Thượng tướng Đào Đình Luyện được đặt tên đường tại huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình; đặt tên phố tại Quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Tên của ông được đặt tên cho một tuyến phố tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội.[3]

Một số trận đánh nổi tiếng

Lịch sử thụ phong quân hàm

Năm thụ phong 1977 1983 1988
Quân hàm      
Cấp bậc Thiếu tướng Trung tướng Thượng tướng

Chú thích

  1. ^ Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam 2004 - Trần Quý Hai (tr. 335)
  2. ^ thị, Doanh nghiệp và Tiếp. "Thượng tướng Đào Đình Luyện: Người "anh cả" của Bộ đội Không quân anh hùng". Doanh nghiệp và Tiếp thị. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.
  3. ^ "Về việc đặt tên và điều chỉnh độ dài một số đường, phố trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2022". Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.