Đông y bảo giám (tiếng Hàn: 동의보감/東醫寶鑑) là một bộ sách y học viết bằng chữ Hán do ngự y Heo Jun (Hứa Tuấn) thời vua Tuyên Tổ (triều đại Joseon) biên soạn. Cuốn sách được hoàn thành vào năm 1610 và chính thức được khắc bản ấn hành vào năm 1613.

Đông y bảo giám
東醫寶鑑
Thông tin sách
Tác giảHứa Tuấn
Quốc giaNhà Triều Tiên
Ngôn ngữVăn ngôn
東醫寶鑑
Hangul
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Hanja
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Romaja quốc ngữDong(-)uibogam
McCune–ReischauerTongŭibogam

Đông y bảo giám có tổng cộng 25 quyển, cấu tạo gồm 5 phần: Nội cảnh, Ngoại cảnh, Tạp bệnh, Thang dịch và Châm cứu.[1] Cuốn sách lấy Hoàng Đế Nội Kinh làm nền tảng lý luận, kết hợp với các học thuyết y học thực tiễn của Kim Nguyên tứ đại gia, đồng thời là một điển tịch lâm sàng và lý luận y học tổng hợp thúc đẩy việc sử dụng các vị thuốc nam (hương dược) của Triều Tiên.[1] Sự ra đời của bộ sách này đã xác lập vị thế độc lập cho nền Hàn y học, và cũng là tài liệu đầu tiên sáng tạo ra thuật ngữ "Đông y" để làm tên gọi riêng cho nền y học cổ truyền của Triều Tiên.[1] Năm 2009, Đông y bảo giám được UNESCO đưa vào Danh sách Di sản Ký ức Thế giới [1] .

Đông y bảo giám cùng với Hương Dược Tập Thành Phương (乡药集成方) và Y Phương Loại Tụ (医方类聚) được hợp xướng là ba tác phẩm cổ điển vĩ đại nhất trong lịch sử y học Triều Tiên.[1]:15[2]:208

Trong lời tựa bản tái bản bộ Đông y bảo giám thời nhà Thanh (Trung Quốc) đã đánh giá về cuốn sách này như sau:

"Cuốn sách này lấy năm phần: Nội cảnh, Ngoại hình, Tạp bệnh, Thang dịch và Châm biếm (châm cứu) làm đại cương, mỗi phần lại chia thành các mục riêng biệt; từ đó lại phân tích tỉ mỉ thành các điều khoản phụ hệ thống và chi tiết. Mỗi khi nêu lên một loại bệnh đều tất yếu khảo cứu từ nguồn gốc, truy cứu đến tận cùng, lấy mạch pháp làm chứng cứ, mỗi ghi chú đều dẫn rõ nguồn gốc xuất xứ để chứng minh đó không phải là ý kiến chủ quan. Quả thực đây là một báu vật quý giá trong nền y học." [1]:80

Bối cảnh và quy trình viết sách

Heo Jun (Hứa Tuấn) bắt đầu biên soạn Đông y bảo giám ngay giữa thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh Nhâm Thìn Oa Loạn (Nhật Bản xâm lược Triều Tiên). Trong khói lửa chiến tranh, dân lành Triều Tiên chết dần mòn vì bệnh tật, khiến việc cứu giúp bách tính trở thành nhiệm vụ cấp bách hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, nền y học Triều Tiên lúc bấy giờ lại rơi vào tình trạng hỗn loạn, nhiều học thuyết y học bị trộn lẫn và thiếu sự thống nhất về mặt lý luận: bao gồm y học cổ truyền bản địa, y học thời Tống, Kim, Nguyên của Trung Quốc, và cả y học thời Minh vừa mới du nhập.

Trước tình hình đó, vua Tuyên Tổ đã hạ lệnh cho Heo Jun dựa trên nền tảng y học thời Minh, kết hợp với tư tưởng y học trong nước để biên soạn một bộ sách y học tổng hợp mới phù hợp với nhu cầu thực tế của bản địa. Mục tiêu là nhằm đính chính những lý luận và phương thuốc sai lệch, đồng thời chọn lọc ra những phương pháp điều trị chính xác nhất.[1]:54-55[3] : 54-55

Để hoàn thành nhiệm vụ này, Heo Jun cùng các danh y đương thời của Triều Tiên như Jeong Jak, Yang Ye-su, Kim Eung-tak, Lee Myeong-won và Jeong Ye-nam đã thành lập biên tập cục để bắt đầu công việc biên soạn. Năm 1597, đội ngũ biên soạn buộc phải giải tán do quân Oa (Nhật Bản) xâm lược. Vào thời điểm đó, Đông y bảo giám mới chỉ hoàn thành được khung xương cơ bản. Sau khi chiến tranh kết thúc, Jeong Jak đã qua đời, Yang Ye-su đã già yếu, còn Jeong Ye-nam và Lee Myeong-won cũng không còn làm ngành y nữa. Heo Jun vì vậy đành phải một mình tiếp tục việc biên soạn. Vua Tuyên Tổ đã giao 500 cuốn sách y học lưu trữ trong cung cho Heo Jun để giúp ông hoàn thành tác phẩm. Ban đầu, tốc độ biên soạn rất chậm, cho đến khi vua Tuyên Tổ đột ngột băng hà vào năm 1608, cuốn sách vẫn chưa hoàn thành được một nửa.[1] : 55-56

Việc vua Tuyên Tổ đột ngột qua đời khiến Heo Jun bị tước quan chức và bị lưu đày đến Uiju (Nghĩa Châu). Trong thời gian lưu đày, Heo Jun đã có thể toàn tâm toàn ý dồn hết tâm sức vào việc biên soạn Đông y bảo giám. Phần còn lại của bản thảo — vốn chưa xong trong suốt giai đoạn từ 1597 đến 1608 — đã được ông hoàn tất chỉ trong thời gian lưu đày từ năm 1608 đến 1610. Tính từ khi bắt đầu vào năm 1596 đến khi thành sách vào năm 1610, quá trình biên soạn Đông y bảo giám đã trải qua hai triều đại và mất tổng cộng 14 năm. Năm 1611, Lee Jeong-gu đã viết thêm lời tựa, và đến tháng 11 năm 1613, Đông y bảo giám chính thức hoàn thành việc in ấn.[1] .

Nội dung

Đông y bảo giám có tổng cộng 25 quyển (23 quyển nội dung chính và 2 quyển mục lục thượng - hạ), mỗi quyển được đóng thành một tập độc lập, cấu thành từ 5 phần (thiên): Nội cảnh (4 quyển), Ngoại cảnh (4 quyển), Tạp bệnh (11 quyển), Thang dịch (3 quyển) và Châm cứu (1 quyển).[1][3].

Trong phần Tập lệ (nguyên tắc biên soạn), Heo Jun đã viết: "Nay cuốn sách này trước tiên lấy Nội cảnh gồm Tinh - Khí - Thần và Tạng phủ làm Nội thiên; kế đến lấy Ngoại cảnh gồm Đầu - Mặt - Tay - Chân - Gân - Mạch - Xương - Thịt làm Ngoại thiên; lại thu thập các chứng bệnh về Ngũ vận lục khí, Tứ tượng, Tam pháp, Nội thương, Ngoại cảm mà liệt vào Tạp thiên; sau cùng là Thang dịch và Châm cứu để thấu triệt mọi sự biến hóa. Giúp người bệnh mở sách ra là thấy ngay các triệu chứng hư thực, nặng nhẹ, điềm báo cát hung hay sống chết, rõ ràng như soi gương soi nước, hầu tránh được nỗi lo trị bệnh mù quáng hay làm người phải chết yểu." [1]

Trong các phần Nội cảnh, Ngoại cảnh và Tạp bệnh đã đưa ra hơn 1.130 loại bệnh chứng, 3.626 bài thuốc phối hợp (phức phương) và 915 bài thuốc đơn lẻ (đơn phương). Phần Thang dịch giải thích rõ về hình dáng, tính vị, cách thu hái và chủ trị của 1.400 loại dược liệu chia thành 15 nhóm.[1] .

Các học giả tại Viện Nghiên cứu Lý Ước Sắt (Joseph Needham) thuộc Đại học Cambridge (Anh) — những người chuyên nghiên cứu về y thư Trung Hoa — sau khi xem xét Đông y bảo giám đã nhận định rằng: Việc nghiên cứu và chỉnh lý riêng biệt các phần nội thể, ngoại thể, bệnh lý, dược phẩm và châm cứu để tập hợp lại trong một tác phẩm duy nhất là vô cùng sáng tạo, và là điều chưa từng có tiền lệ trong giới y học.[1]:63 : 63

Đông y bảo giám[1]:89
Nội cảnh thiên Thế giới bên trong cơ thể 1 Thân hình, 2 Tinh, 3 Khí, 4 Thần, 5 Huyết Cội nguồn cơ thể
6 Mộng, 7 Thanh âm, 8 Ngôn ngữ, 9 Tân dịch, 10 Đàm ẩm Biểu hiện trạng thái cơ thể
11 Tổng luận ngũ tạng lục phủ, 12 Gan, 13 Tim, 14 Tỳ, 15 Phổi, 16 Thận, 17 Túi mật, 18 Dạ dày, 19 Ruột non, 20 Ruột già, 21 Bàng quang, 22 Tam tiêu, 23 Tử cung Các cơ quan trung tâm của cơ thể
24 Trùng, 25 Đại tiện, 26 Tiểu tiện Những thứ lưu lại trong cơ thể
Ngoại hình thiên Thế giới bên ngoài cơ thể 1 Đầu, 2 Mặt, 3 Mắt, 4 Tai, 5 Mũi, 6 Miệng lưỡi, 7 Răng, 8 Hầu họng, 9 Cổ Phần đầu và mặt
10 Lưng, 11 Ngực, 12 Vú, 13 Bụng, 14 Rốn, 15 Eo, 16 Mạn sườn Phần thân mình
17 Da, 18 Thịt, 19 Mạch, 20 Gân, 21 Xương Từ bề mặt vào bên trong
22 Tay, 23 Chân, 24 Lông tóc, 25 Tiền âm, 26 Hậu âm Các phần đầu mút cơ thể
Tạp bệnh thiên Thế giới bệnh tật 1 Vận khí thiên địa, 2 Phương pháp chẩn đoán bệnh, 3 Phương pháp nắm bắt triệu chứng, 4 Chẩn mạch, 5 Nguyên tắc dùng thuốc, 6 Thổ pháp, 7 Hãn pháp (cho ra mồ hôi), 8 Hạ pháp (nhuận tràng)
Hai trọng điểm bệnh lý là Ngoại cảm và Nội thương. Sắp xếp theo ngoại tà gồm: Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa.
Các tạp bệnh không phân biệt được Ngoại cảm và Nội thương
Điều trị và phòng ngừa bệnh Phụ khoa và Nhi khoa
Thang dịch thiên Phân loại giới tự nhiên
Châm cứu thiên Thế giới của châm và cứu

Phương pháp biên soạn

Cách biên soạn và trình bày của Đông y bảo giám rất độc đáo, góc nhìn về cơ thể người và bệnh tật của tác phẩm này cũng có nhiều điểm khác biệt so với các y gia Trung Hoa[1]:57 Các điển tịch y học thời Hán, Đường của Trung Quốc thông thường đều phân loại theo bệnh chứng, chú trọng vào việc điều trị bằng phương thuốc. Đến thời Tống, Nguyên, Minh — giai đoạn y học cực thịnh, các y gia đã phát triển thêm thể thức từ y tịch thời Hán, Đường nhưng vẫn lấy bệnh chứng làm kỷ cương để luận thuật theo từng chủng loại. Thông thường, họ phân loại theo các khoa như Nội, Ngoại, Phụ, Nhi; dưới mỗi khoa lại chia theo tên bệnh chứng, còn phép chẩn trị và phương thuốc thì nằm trong phần bệnh chứng đó.

Heo Jun đã không biên soạn Đông y bảo giám theo phương pháp truyền thống này mà chọn một lối đi riêng: “Trước hết lấy Nội cảnh gồm Tinh - Khí - Thần và Tạng phủ làm Nội thiên; kế đến lấy Ngoại cảnh gồm Đầu - Mặt - Tay - Chân - Gân - Mạch - Xương - Thịt làm Ngoại thiên; lại thu thập các chứng bệnh về Ngũ vận lục khí, Tứ tượng, Tam pháp, Nội thương, Ngoại cảm mà liệt vào Tạp thiên; sau cùng là Thang dịch và Châm cứu để thấu triệt mọi sự biến hóa. Giúp người bệnh mở sách ra là thấy ngay các triệu chứng hư thực, nặng nhẹ, điềm báo cát hung hay sống chết, rõ ràng như soi gương soi nước, hầu tránh được nỗi lo trị bệnh mù quáng hay làm người phải chết yểu.[1]:61

Thể thức biên soạn này của Heo Jun có một số đặc điểm nổi bật như sau:

  • Thứ nhất, y học Triều Tiên chú trọng học thuyết thể chất. Những người có thể chất khác nhau thì mắc bệnh khác nhau, cách dùng thuốc cũng có sự khác biệt. Heo Jun dùng "Nội cảnh" và "Ngoại hình" để thống lĩnh các loại bệnh tật của con người, thể hiện quan điểm y học coi trọng hình thể và lấy hình thể làm chủ đạo.
  • Thứ hai, thể thức này có tính mạch lạc rõ ràng. Dưới 5 phần chính là Nội cảnh, Ngoại hình, Tạp bệnh, Thang dịch và Châm cứu lại có các chương (cương) và mục; dưới đó mới là các loại bệnh chứng, phép trị, cách dùng thuốc... có thể nói là "nhấc lưới thì mắt lưới tự mở" (mọi thứ đều có hệ thống).
  • Cuối cùng, Đông y bảo giám đem nguyên nhân hình thành, triệu chứng và phép trị của nhiều loại bệnh phân tán và đính kèm vào từng tạng phủ, chi thể hay cơ quan tương ứng trên cơ thể người. Cách sắp xếp này giúp người đọc vô cùng thuận tiện trong việc tra cứu và tìm hiểu.[1]:61-62[3]

Đông y bảo giám đã trích dẫn 83 bộ y thư của Trung Quốc và 3 bộ y thư bản địa của Triều Tiên bao gồm Hương Dược Tập Thành Phương, Y Phương Loại Tụ và Y Lâm Toát Yếu. Ngoài ra, tác phẩm còn trích dẫn 37 bộ sách khác về đạo gia dưỡng sinh, dưỡng tính cũng như các tạp tác văn sử; tổng cộng có 123 bộ cổ tịch có nguồn gốc tra cứu rõ ràng đã được trích dẫn [1]:57

Heo Jun đã căn cứ theo thể lệ của riêng mình để trích lục những nội dung trọng yếu từ các y thư, sau đó sắp xếp lại để tạo thành một hệ thống tự thân, thông qua các đoạn trích để thể hiện quan điểm học thuật của mình, khiến phần trích dẫn và thể lệ hòa làm một thể. Các đoạn trích dẫn trong Đông y bảo giám đại khái có thể chia làm bốn trường hợp:

  • Thứ nhất là trích dẫn nguyên văn không thay đổi: Các văn bản kinh điển như Nội Kinh, Linh Khu, Nạn Kinh thuộc trường hợp này.
  • Thứ hai là "ý dẫn" (trích ý): Dựa theo nguyên ý để trích dẫn một cách phù hợp nhưng có lược bỏ hoặc thay đổi đôi chút, chọn lọc những điểm cốt yếu để phục vụ mục đích của tác giả. Loại trích dẫn này thường là tác phẩm của các gia phái, nơi mỗi người đưa ra quan điểm riêng.
  • Thứ ba là ghi rõ xuất xứ và giản lược tên gọi: Các trích dẫn trong Đông y bảo giám đều có ghi nguồn gốc và thường dùng tên viết tắt. Ví dụ: Đan Khê Tâm Pháp viết tắt là "Đan Tâm", Y Học Nhập Môn viết tắt là "Nhập Môn".
  • Thứ tư là thay đổi liều lượng đo lường: Thay đổi lớn nhất của Heo Jun đối với các đoạn trích chính là liều lượng dược liệu trong các phương thuốc. Heo Jun cho rằng lượng thuốc trong Cục Phương quá nhiều, trong khi Y Học Chính Truyền lại quá ít; còn lượng thuốc trong Cổ Kim Y GiámVạn Bệnh Hồi Xuân là phù hợp hơn cả. Một thang thuốc tổng cộng khoảng 7-8 tiền hoặc đến 1 lạng là phù hợp với khí bẩm (thể chất) của con người thời nay. Ông đã sửa đổi liều lượng gốc theo nguyên tắc này. Do đó, liều lượng dùng thuốc trong các phương thuốc được trích dẫn của Đông y bảo giám đều khác với nguyên tác[1]:-58 .

Ấn phẩm

Kể từ khi ra đời, Đông y bảo giám đã có rất nhiều bản in tại các quốc gia như Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản và được lưu truyền rộng rãi khắp khu vực Á Đông.

  • Tại Triều Tiên: Năm 1613, cuốn sách được Nội y viện Triều Tiên chính thức xuất bản, sử sách gọi bản này là Quý Sửu Nội y viện Khai san bản (bản khắc đầu tiên), hiện đang được lưu giữ tại Khuê Chương Các thuộc thư viện Đại học Quốc gia Seoul, Hàn Quốc. Sau đó, tại Triều Tiên có tổng cộng 9 phiên bản khác nhau, tiêu biểu như: bản sơ can năm 1613, bản Nội y viện tái bản năm 1634, bản lưu trữ tại Toàn Châu thuộc Hồ Nam Quan sát doanh, bản lưu trữ tại Đại Khâu thuộc Lĩnh Nam Quan sát doanh, bản hiệu chính của Nội y viện năm 1719, bản Lĩnh doanh năm 1753 và bản khắc gỗ năm 1766.
  • Tại Trung Quốc: Có tất cả 23 phiên bản, bao gồm: bản sơ can của Bích Ngư Đường năm 1763, bản in năm 1776, bản khắc của Anh Đức Đường năm 1796, bản khắc của Thanh Vân Lâu năm 1821, bản khắc của Cận Văn Đường Quảng Đông năm 1877, bản in lại của Giang Tả Thư Lâm Giang Tô năm 1889, bản in thạch của Kim Chương Đồ thư cục Thượng Hải năm 1890 và bản in ảnh của Quảng Ích Thư cục Thượng Hải năm 1917.
  • Tại Nhật Bản: Có 33 phiên bản, tiêu biểu như: bản tái bản có huấn điểm (chú thích cách đọc) năm Khoan Chính thứ 11 (1799), bản khắc gỗ và bản của Đại Bản (Osaka) Thư Lâm.[1]:-65-66[3] : -65-66

Khảo cứu về tên sách

Về tên gọi của bộ sách, Heo Jun đã viết trong Đông y bảo giám rằng: "Vương Tiết Trai từng nói: Đông Viên là Bắc y... Đan Khê là Nam y... Như vậy y học vốn đã có danh xưng Nam - Bắc. Nước ta nằm ở cõi Đông xa xôi, đạo y học lưu truyền liên tục như một sợi chỉ mảnh, thế nên y học nước ta cũng có thể gọi là Đông y vậy."

Vương Tiết Trai chính là danh y Vương Luân thời nhà Minh (Trung Quốc), tác giả cuốn Danh y tạp trước. Sinh thời ông rất sùng bái Trương Trọng Cảnh, Lưu Hà Gian, Lý Đông Viên và Chu Đan Khê, do đó mới có thuyết gọi Lý Đông Viên là Bắc y và Chu Đan Khê là Nam y. Vua Tuyên Tổ của Triều Tiên vốn rất tự tin vào nền y học nước nhà. Việc Heo Jun dẫn lại lời này nhằm mục đích phân biệt y học Triều Tiên với Trung Nguyên, đồng thời khẳng định y học Triều Tiên có thể sánh ngang hàng với các y gia phương Bắc. Kể từ khi Đông y bảo giám ra đời, cụm từ "Đông y" đã trở thành tên gọi riêng để chỉ nền y học cổ truyền của Triều Tiên.[1]:94-95 : 94-95

Đối với hai chữ Bảo Giám, Heo Jun giải thích: "Giám (gương) là thứ soi sáng vạn vật, không để hình thể nào lọt lưới. Vì vậy, thời Nguyên có La Khiêm Phủ viết cuốn Vệ Sinh Bảo Giám, triều ta có Cung Tín viết cuốn Cổ Kim Y Giám, đều lấy chữ 'Giám' làm tên là có ý đó. Nay cuốn sách này chỉ cần mở ra xem qua, thì sự cát hung, nặng nhẹ đều sáng rõ như gương soi, nên mới đặt tên là Đông y bảo giám, ấy là ngưỡng mộ cái ý xưa của người đi trước vậy."[1]:95 [4]

Kỷ niệm

  • Từ ngày 6 tháng 9 đến ngày 20 tháng 10 năm 2013, huyện Sancheong, quê hương của Heo Jun, đã tổ chức Triển lãm Y học Cổ truyền Thế giới lần đầu tiên để kỷ niệm 400 năm ngày xuất bản cuốn Đông y bảo giám[5] .
  • Năm 2013, Hoa Kỳ đã phát hành “Tem kỷ niệm 400 năm thành lập Đông y bảo giám” và “Tem kỷ niệm ông Heo Jun”[6] .

Tài liệu tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v 车武 (2012). 许浚与东医宝鉴. 北京: 中央民族大学出版社. ISBN 978-7-5660-0134-4.
  2. ^ 杨昭全 (2009). 韩国文化史. 济南: 山东大学出版社. ISBN 978-7-5607-3874-1.
  3. ^ a b c d 朱建平 (2009). "许浚与东医宝鉴". 中国中医基础医学杂志.
  4. ^ 赵有臣 (1992). "朝鲜王朝名医许浚及其撰书东医宝鉴考述". 辽宁中医杂志.
  5. ^ "韩国传统医学的摇篮--山清郡". 新华网. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  6. ^ 徐俊 (2013). "美国发行"东医宝鉴"与"许浚"纪念邮票". 中医药国际参考.

Xem thêm

  • Lịch sử Y học Hàn Quốc
  • Đông y

Liên kết ngoài