Địa lý Armenia
Địa lý Armenia mô tả các đặc điểm tự nhiên, địa hình, địa chất cấu trúc, cấu trúc thủy văn và hệ sinh thái đa dạng của Armenia (tên gọi chính thức là Cộng hòa Armenia), một quốc gia hoàn toàn nằm trong nội địa (quốc gia nội lục) tọa lạc tại vùng Nam Kavkaz.[1] Nằm ở ngã tư đường giữa Đông Âu và Tây Á, Armenia được bao bọc hoàn toàn bởi bốn quốc gia láng giềng: Gruzia ở phía bắc, Azerbaijan ở phía đông và tây nam (giáp vùng tách rời Nakhchivan), Iran ở phía nam, và Thổ Nhĩ Kỳ ở phía tây.[2]
| Vùng | Cận Đông / Nam Kavkaz |
|---|---|
| Tọa độ | 40°00′B 45°00′Đ / 40°B 45°Đ |
| Diện tích | |
| • Đất | 94.82% |
| • Nước | 5.18% |
| Biên giới | Tổng cộng: 1.570 km (976 dặm) Azerbaijan: 996 km (619 dặm) Gruzia: 219 km (136 dặm) Iran: 44 km (27 dặm) Thổ Nhĩ Kỳ: 311 km (193 dặm) |
| Điểm cao nhất | Núi Aragats, 4.090 m (13.419 ft) |
| Điểm thấp nhất | Thung lũng Sông Debed, 375 m (1.230 ft) |
| Sông dài nhất | Sông Aras (Phần chảy qua Armenia), 1.072 km (666 dặm) (tổng chiều dài) |
| Hồ lớn nhất | Hồ Sevan |
| Địa hình | Phần lớn là núi cao dốc hiểm trở thuộc hệ thống núi Tiểu Kavkaz; các cao nguyên lửa trập trùng đồi đá kết tinh; thung lũng sông phẳng hẹp cắt xẻ sâu ở phía bắc và đông; thung lũng Ararat bằng phẳng trù phú ở phía tây nam. |
Armenia sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 29.743 kilômét vuông (khoảng 11.484 dặm vuông), xếp thứ 138 trên thế giới về diện tích.[2] Trong cơ cấu trắc địa quốc gia, diện tích đất liền chiếm khoảng 28.203 kilômét vuông (phần trăm đất chiếm 94,82%) và diện tích mặt nước nội lục chiếm khoảng 1.540 kilômét vuông (5,18%), phần lớn cấu thành từ bề mặt của Hồ Sevan khổng lồ.[2] Đất nước có đường biên giới đất liền dài tổng cộng 1.570 kilômét (976 dặm).[2] Do vị trí trắc địa nằm sâu trong lục địa và bị bao quanh bởi các dãy núi cao ngất, Armenia không giáp biển và có một nền khí hậu lục địa khô hạn mang tính chất cao nguyên rõ rệt.[3]
Địa hình Armenia cực kỳ gồ ghề và hiểm trở, bị thống trị bởi hệ thống núi Tiểu Kavkaz. Khoảng 90% diện tích đất nước nằm ở độ cao trên 1.000 mét so với mực nước biển, và hơn một nửa nằm trên 2.000 mét.[3] Đồng bằng bằng phẳng duy nhất có quy mô lớn là Thung lũng Ararat trù phú ở phía tây nam, nơi tập trung đa số dân cư và các hoạt động nông nghiệp thâm canh.[1] Thủ đô kiêm đô thị phát triển lớn nhất nước là Yerevan, tọa lạc bên bờ sông Hrazdan hướng nhìn ra ngọn núi lịch sử Ararat.[1]

Địa hình
Địa hình của Armenia được định hình bởi các hoạt động kiến tạo dữ dội của mảng Ả Rập nén ép vào mảng Á-Âu, tạo nên bốn vùng cảnh quan tự nhiên cốt lõi rõ rệt:[3]
Khối núi núi lửa phía Bắc và Đông Bắc
Vùng này bị thống trị bởi các rặng núi cao thuộc hệ thống Tiểu Kavkaz, bao gồm các dãy núi Somkheti, Bazum và Pambak chạy dài dọc biên giới Gruzia.[1] Địa hình ở đây mang đặc trưng dốc đứng hiểm trở, vách đá dựng đứng xen kẽ các thung lũng sâu do sông ngòi cắt xẻ mạnh. Sườn núi phía bắc đón nhận lượng mưa dồi dào, được che phủ bởi các cánh rừng sồi và rừng thông rậm rạp hoang sơ.[4] Tại góc đông bắc, dọc theo thung lũng Sông Debed, địa hình hạ thấp xuống điểm thấp nhất đất nước ở độ cao 375 mét (1.230 ft) so với mực nước biển.[2]
Cao nguyên lửa miền Trung
Chiếm diện tích lớn ở trung tâm đất nước, vùng này mang đặc trưng bách khoa của các lớp đá trầm tích kết hợp đá macma phun trào tạo nên các tấm khiên cao nguyên lửa rộng lớn phẳng đến trập trùng đồi núi thấp, nằm ở độ cao từ 1.500 đến 3.000 mét.[3] Điểm nhấn địa chất vĩ đại của vùng này là Núi Aragats — ngọn núi lửa hình khiên đã tắt có bốn đỉnh đá nhọn hoắt bao quanh một miệng núi lửa sụp đổ sâu thẳm. Đỉnh cao nhất của núi Aragats vươn lên độ cao 4.090 mét (13.419 ft) so với mực nước biển, trở thành điểm cao nhất của toàn bộ đất nước Armenia.[2]
Hệ thống nếp uốn phía Nam (Syunik)
Chiếm trọn phần vệt đất kéo dài phía nam của đất nước (tỉnh Syunik). Vùng này bị cắt xẻ dữ dội bởi dãy núi Zangezur hiểm trở chạy dọc biên giới Azerbaijan.[1] Địa hình dốc gồ ghề với các khối núi đá granite trơ trọi, các hẻm núi hẹp sâu hun hút và rất ít đất bằng phẳng, tạo nên một vùng ranh giới tự nhiên vô cùng khó khăn cho giao thông đường bộ nhưng lại rất giàu khoáng sản quặng kim loại màu quý báu.[5]
Thung lũng Ararat
Nằm ở phía tây nam, đây là một bồn địa sụt trầm tích phẳng rộng lớn trù phú, được bồi đắp bởi hệ thống sông Araks dọc theo biên giới Thổ Nhĩ Kỳ.[3] Nằm ở độ cao từ 800 đến 1.000 mét, thung lũng này có đất đai phù sa màu mỡ và là trái tim nông nghiệp, vựa sản xuất trái cây Địa Trung Hải, nho và rượu vang lâu đời, cung cấp nguồn lương thực chủ lực nuôi sống quốc gia.[1]
Khí hậu
Mặc dù nằm ở vành đai cận nhiệt đới, Armenia lại sở hữu một nền khí hậu lục địa cao nguyên khô hạn đặc trưng do địa hình đồi núi cao ngất che chắn hoàn toàn các luồng hơi ẩm điều hòa thổi vào từ biển.[6]
Tính chất phân hóa thời tiết
Thời tiết của Armenia có sự phân hóa sâu sắc bách khoa theo độ cao vĩ mô:[6]
- Vùng thung lũng sụt thấp (Yerevan và Thung lũng Ararat): Trải qua mùa hè rất nóng, khô khốc và kéo dài, với nhiệt độ ban ngày vào tháng 7 thường xuyên dao động từ 36 °C (97 °F) đến hơn 40 °C (104 °F). Ngược lại, mùa đông ở đây lại rất lạnh và có tuyết phủ, nhiệt độ có thể giảm sâu xuống −15 °C (5 °F) do hiện tượng khí lạnh ứ đọng lại trong bồn địa.[7]
- Vùng núi cao (Trên 2.000 mét): Mùa hè ngắn ngủi, mát mẻ với nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C (68 °F), trong khi mùa đông cực kỳ khắc nghiệt, bão tuyết dữ dội kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, nhiệt độ thường xuyên giảm sâu xuống dưới −30 °C (−22 °F).[6]
- Lượng giáng thủy khô hạn: Lượng mưa trung bình toàn quốc tương đối thấp, dao động từ 250 mm ở thung lũng Ararat lên đến khoảng 800 mm/năm ở các sườn núi cao phía bắc đón gió ẩm.[3]
Bảng dữ liệu Khí hậu tại thủ đô Yerevan
Thủ đô Yerevan tọa lạc tại vùng bồn địa sụt thung lũng nội địa phía tây nam, mang khí hậu lục địa khô hạn biên độ nhiệt ngày đêm và giữa các mùa rất lớn.
Bảng dữ liệu Khí hậu tại Yerevan (Weather box)
| Dữ liệu khí hậu của Yerevan (1961–1990) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 0.7 (33.3) |
3.6 (38.5) |
11.2 (52.2) |
18.9 (66.0) |
24.1 (75.4) |
29.6 (85.3) |
33.6 (92.5) |
33.2 (91.8) |
28.7 (83.7) |
21.0 (69.8) |
11.7 (53.1) |
3.8 (38.8) |
18.3 (65.0) |
| Trung bình ngày °C (°F) | −4.0 (24.8) |
−1.6 (29.1) |
5.2 (41.4) |
12.3 (54.1) |
17.1 (62.8) |
22.1 (71.8) |
25.8 (78.4) |
25.3 (77.5) |
20.4 (68.7) |
13.5 (56.3) |
5.9 (42.6) |
−0.8 (30.6) |
11.8 (53.2) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | −7.8 (18.0) |
−5.8 (21.6) |
0.2 (32.4) |
6.4 (43.5) |
10.7 (51.3) |
14.9 (58.8) |
18.7 (65.7) |
18.2 (64.8) |
12.9 (55.2) |
7.5 (45.5) |
1.7 (35.1) |
−4.2 (24.4) |
6.1 (43.0) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 20 (0.8) |
25 (1.0) |
29 (1.1) |
49 (1.9) |
42 (1.7) |
25 (1.0) |
14 (0.6) |
9 (0.4) |
8 (0.3) |
22 (0.9) |
26 (1.0) |
23 (0.9) |
292 (11.6) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 7 | 7 | 8 | 11 | 11 | 8 | 5 | 3 | 3 | 6 | 7 | 8 | 84 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 81 | 75 | 64 | 57 | 54 | 49 | 45 | 46 | 50 | 61 | 73 | 81 | 61 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 93.0 | 108.0 | 162.0 | 195.0 | 241.8 | 294.0 | 344.1 | 331.7 | 297.0 | 234.0 | 123.0 | 86.8 | 2.510,4 |
| Nguồn: WMO[8] | |||||||||||||
Biểu đồ Khí hậu tại Yerevan
| Yerevan | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Biểu đồ khí hậu (giải thích) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thủy văn
Do lượng bốc hơi bề mặt rất lớn kết hợp khí hậu khô cằn, các dòng sông của Armenia tương đối ngắn và chảy xiết qua các hẻm núi dốc, phần lớn đều thuộc lưu vực dòng sông mẹ Araks đổ ra biển Caspi:[3]
Các hệ thống sông chính
- Sông Aras: Dòng sông ranh giới tự nhiên vĩ đại ở phía nam và tây nam phân chia Armenia với Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Sông Araks thu nhận toàn bộ nguồn nước từ các sông nhánh nội địa đổ vào.[1]
- Sông Hrazdan và Sông Debed: Sông Hrazdan chảy thoát nước cho hồ Sevan đi qua thủ đô Yerevan, là nguồn cấp nước thủy điện và thủy lợi chiến lược. Sông Debed chảy ngược lên phía bắc sang Gruzia, có lưu lượng nước dồi dào nhất vùng núi phía bắc.[9]
Hồ Sevan
- Hồ Sevan: Tọa lạc sừng sững ở độ cao 1.900 mét (6.234 ft) so với mực nước biển, đây là một trong những hồ nước ngọt núi cao lớn nhất và sâu nhất bách khoa toàn bộ lục địa Á-Âu. Hồ Sevan chiếm tới hơn 5% tổng diện tích lãnh thổ đất nước (diện tích bề mặt khoảng 1.240 km²), đóng vai trò cực kỳ hệ trọng vô giá, là hồ điều hòa khí hậu, vựa trữ nước ngọt chiến lược khổng lồ phục vụ toàn bộ đời sống an sinh nông nghiệp nông thôn của quốc gia.[9]
Tài nguyên thiên nhiên
Mặc dù diện tích lãnh thổ khiêm tốn, Armenia lưu giữ nguồn tài nguyên phi sinh học quặng kim loại màu vô cùng phong phú phong phú chiến lược:[2]
- Ngành quặng mỏ xuất khẩu: Đất nước có trữ lượng molybdenum trầm tích chất lượng cao thuộc hàng lớn nhất thế giới tại mỏ Kajaran. Ngoài ra, lòng đất còn dồi dào các vỉa quặng đồng, kẽm, bauxite và vàng. Armenia cũng rất nổi tiếng với kho khoáng sản đá xây dựng chất lượng cao như đá tuff lửa, đá granite và đá cẩm thạch trứ danh.[2]
- Sử dụng đất (Ước tính năm 2018):
- Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 46,8%
- Đất thâm canh trồng trọt hàng năm: 15,8%
- Cây trồng lâu năm (nho, quả mọng Địa Trung Hải): 1,9%
- Đồng cỏ lâu năm dành cho chăn nuôi mục súc: 29,1%
- Diện tích rừng và thảm phủ xanh tự nhiên: 11,2% (tập trung chủ yếu ở phía đông bắc và tỉnh Syunik phía nam).
- Khác (Hoang mạc đá cằn, đô thị, mặt hồ Sevan): 42,0%
- Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 46,8%
- Đất có hệ thống tưới tiêu trắc địa: 2.080 km² (803 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[2]
Các vấn đề môi trường
Armenia hiện đang đối mặt với các thách thức sinh thái vô cùng gay gắt, phần lớn là hệ lụy lâu đời từ các mô hình thâm canh công nghiệp thời kỳ thuộc địa:[2]
- Cuộc khủng hoảng sinh thái Hồ Sevan: Việc khai thác nước hồ bừa bãi phục vụ tưới tiêu nông nghiệp và chạy chuỗi nhà máy thủy điện trong nhiều thập kỷ trước đã làm mực nước hồ sụt giảm nghiêm trọng tới hơn 19 mét, làm trơ trọi nhiều bãi cát cổ, hủy hoại các hệ sinh thái rạn sinh vật đặc hữu. Hiện nay chính phủ đang phải nỗ lực xây kênh dẫn nước ngầm từ sông Arpa để cứu hồ Sevan hồi sinh.[9]
- Nạn phá rừng và Thoái hóa đất đá dốc: Việc khai thác mỏ quặng kim loại lộ thiên tại Teghut kết hợp chặt cây rừng bừa bãi sưởi ấm thời kỳ phong tỏa kinh tế đã đẩy diện tích che phủ xanh sụt giảm mạnh, gây xói mòn và sa mạc hóa nhiều dải đồi núi dốc đứng.[1]
- Sự an toàn của Nhà máy hạt nhân Metsamor: Tọa lạc tại vùng có tần suất hoạt động địa chấn kiến tạo đứt gãy đứt gãy cao, nhà máy điện hạt nhân duy nhất này là mối lo ngại an sinh môi trường lớn cho cả vùng Nam Kavkaz.[2]
Các điểm cực địa lý
Dưới đây là bốn điểm cực địa lý vươn xa nhất của lãnh thổ Cộng hòa Armenia:
- Cực Bắc: Merdavan — ngôi làng biên giới tiếp giáp Gruzia, thuộc tỉnh Tavush (Tọa độ: vĩ độ 41°18' Bắc).
- Cực Nam: Meghri — thành phố cảng sông biên giới duy nhất tiếp giáp với Iran trên dòng sông Araks, thuộc tỉnh Syunik (Tọa độ: vĩ độ 38°50' Bắc).
- Cực Đông: Karahunj — rặng đá biên giới nhô ra sát đường ranh giới giáp Azerbaijan, thuộc tỉnh Syunik (Tọa độ: kinh độ 46°37' Đông).
- Cực Tây: Alvar — ngôi làng biên giới tiếp giáp với Thổ Nhĩ Kỳ, thuộc tỉnh Shirak (Tọa độ: kinh độ 43°27' Đông).
Thư viện ảnh
-
Hồ trên núi lửa cổ đã tắt Aragats.
-
Cấu trúc các cột đá bazan hình lăng trụ kỳ vĩ được mệnh danh là "Bản giao hưởng đá" tại hẻm núi Garni.
-
Tu viện cổ Tatev sừng sững bên vách đá dốc đứng thung lũng sông Vorotan, tỉnh Syunik phía nam.
-
Cảnh quan thủ đô Yerevan.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b c d e f g h Hovhannisyan, Karin (2010). The Geography of the South Caucasus. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402095436.
- ^ a b c d e f g h i j k "Armenia - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2026.
- ^ a b c d e f g "Armenia - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2026.
- ^ Avagyan, A. (2005). "Neotectonics and geomorphology of Northern Armenia". Quaternary International. Quyển 140. tr. 123–134. doi:10.1016/j.quaint.2005.04.012.
- ^ Pano, Niko (2015). The Tectonics of the Lesser Caucasus. Yerevan: Academy of Sciences.
- ^ a b c Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
- ^ Sultan, B. (2003). "The South Caucasian climate anomalies and atmospheric circulation". Journal of Climate. Quyển 16. tr. 3389–3406.
- ^ "World Weather Information Service – Yerevan". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2026.
- ^ a b c Pano, Niko (2015). The Water Resources of Armenia. Yerevan: Academy of Sciences.
Liên kết ngoài
- Bản đồ địa hình và dữ liệu trắc địa bách khoa toàn diện về quốc gia Armenia trên CIA World Factbook.