Địa lý Libya được đặc trưng bởi sự thống trị của vùng hoang mạc Sahara rộng lớn, cằn cỗi và vô cùng khắc nghiệt. Nằm ở Bắc Phi, Libya là quốc gia có diện tích lớn thứ tư ở Châu Phi và lớn thứ mười sáu trên toàn thế giới. Quốc gia này nằm trải dài trên bờ biển Biển Địa Trung Hải, giáp với Ai Cập ở phía đông, Tunisia ở phía tây bắc, Algérie ở phía tây, NigerTchad ở phía nam, và Sudan ở phía đông nam.[1]

Địa lý Libya
Tập tin:Libya (orthographic projection).svg
VùngBắc Phi
Tọa độ25°00′B 17°00′Đ / 25°B 17°Đ / 25.000; 17.000
Diện tích
 • Đất100%
 • Nước0%
Biên giớiTổng chiều dài: 4.348 km
Ai Cập: 1.115 km
Tchad: 1.055 km
Algérie: 982 km
Tunisia: 459 km
Sudan: 383 km
Niger: 354 km
Điểm cao nhấtBikku Bitti, 2.267 m
Điểm thấp nhấtSabkhat Ghuzayyil, -47 m
Sông dài nhấtKhông có sông chảy quanh năm
Hồ lớn nhấtKhông có
Địa hìnhPhần lớn là hoang mạc khô cằn, các dải bình nguyên nhấp nhô, cao nguyên đá và các vùng trũng sâu.

Mặc dù những đợt khám phá dầu mỏ quy mô lớn vào thập niên 1960 đã mang lại nguồn của cải khổng lồ, vào thời điểm giành độc lập, Libya chỉ là một quốc gia sa mạc cực kỳ nghèo khó mà tài sản vật chất quan trọng duy nhất dường như chỉ là vị trí địa chiến lược nằm ngay tại trung điểm rìa phía bắc của lục địa châu Phi.[2] Libya nằm trong tầm tiếp cận dễ dàng của các cường quốc hải quân châu Âu và là cầu nối quan trọng liên kết các quốc gia Ả Rập ở Bắc Phi với khu vực Trung Đông. Trong suốt chiều dài lịch sử, chính yếu tố địa lý này đã biến các trung tâm đô thị của Libya thành những ngã tư giao thương nhộn nhịp, hội tụ nhiều nền văn hóa thay vì trở thành những vùng đất biệt lập không có ảnh hưởng xã hội từ bên ngoài.

Tập tin:Libya, administrative divisions - Nmbrs - colored.svg
Bản đồ hành chính Libya.
Tập tin:Dust storm over Libya.jpg
Một cơn bão bụi khổng lồ quét qua vùng bờ biển Tripolitania của Libya. Hoang mạc chiếm hơn 90% lãnh thổ quốc gia.

Đặc điểm địa lý

Bờ biển Địa Trung Hải hiền hòa và hoang mạc Sahara khắc nghiệt là hai thái cực tự nhiên nổi bật nhất của đất nước. Lãnh thổ Libya có một số vùng cao nguyên nhưng không có các dãy núi thực sự nào vươn lên cao vút, ngoại trừ khu vực sa mạc trống trải phía nam nằm sát biên giới với Tchad, nơi dãy núi Tibesti Massif vươn lên độ cao hơn 2.200 mét.[2]

Một dải duyên hải ven biển tương đối hẹp và các vùng thảo nguyên cao nguyên nằm ngay sát phía nam dải này là những khu vực sản xuất nông nghiệp hiệu quả nhất cả nước. Tiến xa hơn về phía nam, một đới đồng cỏ thưa thớt nhường chỗ cho vùng hoang mạc Sahara bao la, một vùng đất cằn cỗi với các cao nguyên đá lởm chởm và những biển cát mênh mông. Khu vực này hỗ trợ sự sinh tồn của con người ở mức rất tối thiểu, và hoạt động nông nghiệp chỉ có thể thực hiện được ở một vài ốc đảo nằm rải rác.[2]

Các phân vùng địa lý

Theo truyền thống lịch sử và đặc điểm địa hình, Libya được chia thành ba khu vực địa lý vĩ mô: Tripolitania ở phía tây bắc, Cyrenaica ở phía đông và Fezzan nằm sâu trong sa mạc phía tây nam.

Dọc theo bờ biển Tripolitania trải dài hơn 300 km, các ốc đảo ven biển trù phú nằm xen kẽ với các vùng đất cát và những đầm phá nông. Nằm sâu vào nội địa từ khu vực bờ biển này là Đồng bằng Jifarah, một vùng bình nguyên hình tam giác rộng khoảng 15.000 kilômét vuông. Cách bờ biển khoảng 120 km, đồng bằng này kết thúc đột ngột tại một vách núi dựng đứng tạo nên Dãy núi Nafusa (Nafusa Mountains), với cao độ vươn tới 1.000 mét, đóng vai trò như rìa phía bắc vững chãi của Cao nguyên Tripolitania.[2]

Ở khu vực miền đông (Cyrenaica), số lượng các ốc đảo ven biển ít hơn hẳn. Đồng bằng Marj của Cyrenaica bao phủ một diện tích nhỏ hơn nhiều so với Đồng bằng Jifarah của Tripolitania. Các vùng đất thấp tại đây tạo thành một hình lưỡi liềm dài khoảng 210 km nằm kẹp giữa BenghaziDerna, kéo dài vào nội địa tối đa chỉ khoảng 50 km. Ở các khu vực khác dọc theo bờ biển Cyrenaica, vách đá của một cao nguyên khô cằn đâm thẳng ra tận mép biển. Ngay phía sau Đồng bằng Marj, địa hình đột ngột dâng cao tạo thành Jebel Akhdar (Núi Xanh), được đặt tên như vậy nhờ sở hữu một thảm thực vật rậm rạp hiếm hoi gồm thông, bách xù, bách và ô liu dại. Từ Jebel Akhdar, Cyrenaica trải dài về phía nam băng qua một vành đai chăn thả bán khô hạn rồi tiến thẳng vào trái tim của hoang mạc Sahara.[2]

Khu vực sa mạc tây nam, được gọi là Fezzan, từng được quản lý như một thực thể hành chính riêng biệt trong cả thời kỳ thuộc địa Ý và thời kỳ liên bang của chế độ quân chủ Libya. Những biển cát khổng lồ được gọi là "erg", điển hình như Idehan UbariIdehan Murzuq, bao phủ phần lớn diện tích của Fezzan, tạo ra những cồn cát thay đổi hình dạng liên tục theo hướng gió.[2]

Diện tích và biên giới

Tập tin:Libya 5210 Wan Caza Luca Galuzzi 2007.jpg
Cồn cát Wan Caza ở vùng sa mạc Sahara thuộc Fezzan.
Tập tin:Benghazi coast.jpg
Đường bờ biển xanh ngắt của Benghazi tại vùng Cyrenaica, miền đông Libya.
  • Tổng diện tích: 1.759.540 km²
  • Diện tích đất liền: 1.759.540 km²
  • Diện tích mặt nước nội địa: 0 km²

Libya là quốc gia có quy mô lãnh thổ lớn thứ tư ở châu Phi, rộng gấp 7 lần diện tích Vương quốc Anh và nhỉnh hơn một chút so với bang Alaska của Hoa Kỳ.

Tổng chiều dài đường biên giới trên đất liền của Libya là 4.348 km. Các nước láng giềng có chung đường biên giới bao gồm: Algérie (982 km), Tchad (1.055 km), Ai Cập (1.115 km), Niger (354 km), Sudan (383 km) và Tunisia (459 km). Vùng Cyrenaica tiếp giáp với Ai Cập, và phần lớn đoạn biên giới tại đây không được xác định bởi bất kỳ ranh giới tự nhiên nào (như sông ngòi hay đồi núi); do đó các hoạt động vượt biên hợp pháp cũng như buôn lậu bất hợp pháp vẫn thường diễn ra. Ngược lại, biên giới của Fezzan ở phía tây nam giáp với Algérie, Niger và Tchad hiếm khi bị vượt qua do đặc thù địa hình sa mạc mênh mông và gần như không có sự sống.[2]

Libya sở hữu đường bờ biển tiếp giáp Địa Trung Hải dài nhất trong số tất cả các quốc gia châu Phi.

  • Lãnh hải: Tuyên bố 12 hải lý (22,2 km; 13,8 mi). Lưu ý: Libya tuyên bố toàn bộ vùng nước trong Vịnh Sidra là vùng nước nội thủy với một đường đóng vịnh ở vĩ độ 32 độ 30 phút Bắc.
  • Vùng đặc quyền kinh tế: 351.589 km².

Khí hậu

Tập tin:Koppen-Geiger Map LBY present.svg
Bản đồ phân loại đới khí hậu Köppen tại Libya, cho thấy sắc đỏ của khí hậu hoang mạc nóng bao trùm phần lớn lãnh thổ.

Libya được Viện Tài nguyên Thế giới xếp hạng là một trong những quốc gia chịu áp lực về nước ngọt cao nhất trên thế giới. Trong lãnh thổ Libya, các nhà khí hậu học đã ghi nhận được tới năm đới khí hậu khác nhau, nhưng hai đới khí hậu thống trị hoàn toàn là khí hậu Địa Trung Hải mùa hè nóng bức dọc bờ biển và khí hậu sa mạc nóng trong nội địa (phân loại khí hậu KöppenCsaBWh).[1]

Ở hầu hết các dải đất thấp ven biển, khí hậu mang tính chất Địa Trung Hải điển hình, với mùa hè rất nóng, khô hanh và mùa đông cực kỳ ôn hòa. Lượng mưa diễn ra thưa thớt và chỉ tập trung vào mùa đông. Thời tiết trở nên mát mẻ hơn ở các vùng cao nguyên, và sương giá thỉnh thoảng có thể xuất hiện trên các đỉnh cao cực đại. Tiến sâu vào nội địa hoang mạc, bất chấp độ cao tương đối cao của một số cao nguyên, khí hậu vẫn vô cùng khắc nghiệt: mùa hè nóng như thiêu đốt (nhiệt độ có thể vượt ngưỡng 50 °C ở bóng râm) và biên độ nhiệt độ chênh lệch giữa ban ngày và ban đêm là cực kỳ lớn do bầu trời không có mây bao phủ và không khí thiếu độ ẩm trầm trọng.[2]

Chưa tới 2% diện tích lãnh thổ quốc gia nhận đủ lượng mưa tự nhiên để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp định cư lâu dài. Khu vực ẩm ướt nhất là vùng Jebel Akhdar của Cyrenaica, nơi ghi nhận lượng mưa hàng năm ổn định từ 400 đến 600 mm (15,7 đến 23,6 in). Gần như tất cả các khu vực khác của đất nước nhận được lượng mưa dưới 400 mm (15,7 in), và tại khu vực trung tâm hoang mạc Sahara, lượng mưa sụt giảm nghiêm trọng chỉ còn 50 mm (1,97 in) hoặc ít hơn mỗi năm. Tình trạng mưa thường diễn ra rất thất thường và một đợt hạn hán khốc liệt hoàn toàn có thể kéo dài liên tục qua hai đến ba mùa.[2]

Bảng dữ liệu Khí hậu tại Tripoli (Weather box)

Dữ liệu khí hậu của Tripoli, Libya
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình ngày tối đa °C (°F) 18.3
(64.9)
19.3
(66.7)
21.3
(70.3)
24.3
(75.7)
27.5
(81.5)
31.0
(87.8)
33.2
(91.8)
33.6
(92.5)
32.5
(90.5)
29.2
(84.6)
24.3
(75.7)
19.7
(67.5)
26.2
(79.1)
Trung bình ngày °C (°F) 13.4
(56.1)
14.3
(57.7)
16.0
(60.8)
18.7
(65.7)
21.9
(71.4)
25.3
(77.5)
27.5
(81.5)
28.1
(82.6)
26.6
(79.9)
23.3
(73.9)
18.7
(65.7)
14.6
(58.3)
20.7
(69.3)
Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) 8.9
(48.0)
9.5
(49.1)
11.2
(52.2)
13.7
(56.7)
16.7
(62.1)
20.1
(68.2)
22.2
(72.0)
23.4
(74.1)
22.2
(72.0)
18.7
(65.7)
14.1
(57.4)
10.3
(50.5)
15.9
(60.7)
Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) 62.1
(2.44)
32.2
(1.27)
29.6
(1.17)
14.3
(0.56)
4.6
(0.18)
1.3
(0.05)
0.7
(0.03)
0.1
(0.00)
16.7
(0.66)
46.6
(1.83)
58.2
(2.29)
67.5
(2.66)
333.9
(13.14)
Nguồn: WMO[3]

Biểu đồ Khí hậu tại Tripoli

Tripoli
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
62
 
 
18
9
 
 
32
 
 
19
10
 
 
30
 
 
21
11
 
 
14
 
 
24
14
 
 
4.6
 
 
28
17
 
 
1.3
 
 
31
20
 
 
0.7
 
 
33
22
 
 
0.1
 
 
34
23
 
 
17
 
 
33
22
 
 
47
 
 
29
19
 
 
58
 
 
24
14
 
 
68
 
 
20
10
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: WMO[3]

Gió Ghibli

Một trong những hiện tượng thời tiết đặc trưng và ám ảnh nhất ở Libya là luồng gió Ghibli (hay Gibli). Đây là một luồng gió nam khô khốc, nóng hầm hập, cuốn theo hàng nghìn tấn cát và bụi mịn thổi bốc từ sa mạc Sahara tràn lên các vùng ven biển trù phú. Ghibli thường kéo dài liên tục từ một đến bốn ngày, chủ yếu xuất hiện vào mùa xuân và mùa thu, làm nhiệt độ môi trường tăng vọt đột ngột và làm suy giảm tầm nhìn xuống gần bằng không, gây gián đoạn giao thông và ảnh hưởng sức khỏe đường hô hấp.[2]

Tài nguyên nước ngầm

Do sự thiếu hụt hoàn toàn các dòng chảy bề mặt vĩnh viễn (sông ngòi), Libya phụ thuộc một cách sống còn vào các mạch nước ngầm và các đợt bão dông hiếm hoi đổ nước vào các dòng wadi (những lòng sông khô cạn chỉ có nước chảy xiết sau những trận mưa rào cục bộ). Một số lượng nhỏ các con suối cũng xuất hiện rải rác dọc theo các sườn đồi của dãy Jebel Nafusa và Jebel Akhdar.[2]

Tài nguyên nước vĩ đại và đáng chú ý nhất của Libya chính là các tầng ngậm nước khổng lồ nằm ẩn sâu dưới lòng sa mạc. Vào cuối thập niên 1970, các giếng khoan sâu đã được thiết lập tại ốc đảo Kufra và Sabha như một phần của nỗ lực biến sa mạc thành đất phát triển nông nghiệp. Một dự án còn mang tầm vóc vĩ đại hơn nhiều là Sông Nhân tạo Lớn (Great Man-Made River), được khởi công xây dựng vào năm 1984. Đây là mạng lưới đường ống ngầm lớn nhất thế giới, nhằm mục đích khai thác các tầng ngậm nước hóa thạch cổ đại (Tầng ngậm nước Sa thạch Nubian) dưới lòng Kufra, Sarir và Sabha để bơm dẫn nước ngọt lên dải bờ biển Địa Trung Hải, cung cấp nước sinh hoạt cho các thành phố lớn và phục vụ tưới tiêu nông nghiệp.[2]

Các điểm cực địa lý

Dưới đây là các điểm vươn xa nhất về 4 hướng của lãnh thổ Libya:

  • Cực Bắc: Mũi Ras Ajdir, nằm ngay tại điểm giao cắt biên giới với Tunisia trên bờ Địa Trung Hải.
  • Cực Nam: Giao điểm ngã ba biên giới (tripoint) giữa ba nước Libya, SudanTchad.
  • Cực Đông: Một điểm không tên trên đường biên giới thẳng với Ai Cập.
  • Cực Tây: Một điểm không tên sát biên giới Algérie gần thị trấn Ghadames.
  • Điểm cao nhất: Đỉnh núi Bikku Bitti đạt cao độ 2.267 m (7.438 ft).
  • Điểm thấp nhất: Vùng trũng Sabkhat Ghuzayyil sâu tới −47 m (−154 ft) dưới mực nước biển.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b "The World Factbook: Libya". cia.gov. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.
  2. ^ a b c d e f g h i j k l Metz, Helen Chapin (1987). Libya: A Country Study. Library of Congress. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.
  3. ^ a b "Tripoli Climate Normals". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.

Liên kết ngoài