Địa lý Tanzania
Địa lý Tanzania mô tả các đặc điểm tự nhiên, cấu trúc địa hình, hệ thống thủy văn, khí hậu và sinh thái học của Tanzania (tên gọi chính thức là Cộng hòa Liên bang Tanzania), một quốc gia rộng lớn nằm ở khu vực Đông Phi thuộc vùng Hồ Lớn châu Phi.[1]
| Tập tin:Tanzania (orthographic projection).svg | |
| Vùng | Đông Phi (vùng Các hồ lớn châu Phi) |
|---|---|
| Tọa độ | 6°00′N 35°00′Đ / 6°N 35°Đ |
| Diện tích | |
| • Đất | 93.51% |
| • Nước | 6.49% |
| Biên giới | Tổng cộng: 4.001 km (2.486 dặm) Kenya: 769 km (478 dặm) Mozambique: 756 km (470 dặm) Malawi: 475 km (295 dặm) Cộng hòa Dân chủ Congo: 459 km (285 dặm) Burundi: 451 km (280 dặm) Uganda: 396 km (246 dặm) Zambia: 338 km (210 dặm) Rwanda: 217 km (135 dặm) |
| Điểm cao nhất | Kilimanjaro, 5.895 m (19.341 ft) |
| Điểm thấp nhất | Ấn Độ Dương, 0 m (0 ft) |
| Sông dài nhất | Sông Rufiji (hệ thống sông nội địa dài nhất) |
| Hồ lớn nhất | Hồ Victoria (phần thuộc lãnh thổ) |
| Địa hình | Các dải đồng bằng ven biển nóng ẩm; cao nguyên rộng lớn ở trung tâm bị bao phủ bởi đồng cỏ xavan; vùng núi cao hiểm trở ở phía bắc và phía nam. |
Tanzania sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 947.303 kilômét vuông (khoảng 365.756 dặm vuông), bao gồm cả phần đất liền của Tanganyika cổ và các hòn đảo thuộc Quần đảo Zanzibar (bao gồm đảo Unguja, Pemba và Mafia). Diện tích đất liền của nước này chiếm 885.800 kilômét vuông, trong khi các diện tích mặt nước nội địa (bao gồm các hồ lớn) chiếm tới 61.500 kilômét vuông.[2]
Tanzania có đường bờ biển dài 1.424 kilômét (885 dặm) hướng ra Ấn Độ Dương ở phía đông.[3] Đất nước này chia sẻ đường biên giới đất liền dài tổng cộng 4.001 kilômét với 8 quốc gia láng giềng: Kenya (769 km) và Uganda (396 km) ở phía bắc; Rwanda (217 km), Burundi (451 km) và Cộng hòa Dân chủ Congo (459 km) ở phía tây; Zambia (338 km), Malawi (475 km) và Mozambique (756 km) ở phía nam.[2]
Về mặt địa lý tự nhiên, Tanzania là vùng đất của những kỷ lục châu lục: nơi đây sở hữu đỉnh núi Kilimanjaro sừng sững cao 5.895 mét (19.341 ft) — điểm cao nhất châu Phi, đồng thời nắm giữ một phần diện tích của ba hồ nước lớn nhất và sâu nhất châu lục là Hồ Victoria, Hồ Tanganyika và Hồ Malawi.[3]
Địa hình học phân đới
Cảnh quan địa hình của Tanzania có cấu trúc chuyển tiếp đa dạng, lượn sóng từ bờ đại dương vào sâu trong nội địa lục địa, được chia thành bốn vùng chính:[1]
Vùng đồng bằng và bờ biển phía Đông
Đây là một dải đất thấp, hẹp, có khí hậu nóng và ẩm ướt chạy dọc theo bờ Ấn Độ Dương. Vùng này bao gồm các thành phố cảng lớn nhất như Dar es Salaam. Ngay phía ngoài khơi của dải duyên hải này là quần đảo Zanzibar, nổi tiếng với địa hình đá vôi san hô và các đồn điền trồng cây gia vị quý. Hệ sinh thái rừng ngập mặn bờ biển Đông Phi phát triển mạnh tại lưu vực các cửa sông vùng này.[4]
Khối núi cao phía Đông Bắc
Khu vực này có địa hình hiểm trở và núi cao ngoạn mục nhất đất nước. Tại đây tọa lạc Núi Meru — một núi lửa còn hoạt động, và núi Kilimanjaro — một núi lửa đã tắt. Kilimanjaro là đỉnh núi đơn độc đứng độc lập cao nhất trên thế giới so với mực nước biển, thu hút hàng chục ngàn du khách leo núi mỗi năm.[5] Về phía đông nam của khối núi này là các dãy núi cổ Usambara và Pare, sở hữu hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới cổ xưa có tính đặc hữu rất cao.[6]
Cao nguyên miền Trung
Chiếm hơn một nửa diện tích lãnh thổ, đây là một bộ phận lớn thuộc Cao nguyên Đông Phi rộng lớn. Độ cao trung bình của vùng dao động từ 900 mét đến 1.500 mét.
- Nửa phía nam cao nguyên: Là dải đồng cỏ trù phú nằm trong vùng sinh thái rừng thưa Miombo hữu ngạn, phần lớn diện tích được bảo vệ nghiêm ngặt bên trong Vườn quốc gia Nyerere (trước đây là Khu bảo tồn Selous) — một trong những khu bảo tồn hoang dã rộng nhất thế giới.[7]
- Nửa phía bắc cao nguyên: Địa hình thích hợp cho canh tác trắc địa, bao gồm cả vị trí của thủ đô hành chính mới Dodoma. Phía bắc của cao nguyên chuyển tiếp vào Bình nguyên Serengeti, nơi diễn ra cuộc di cư vĩ đại hàng năm của hàng triệu con linh dương đầu bò và ngựa vằn.[8]
Hệ thống Thung lũng Tách giãn Lớn (Great Rift Valley)
Địa chất Tanzania bị chia cắt sâu sắc bởi hai nhánh của Thung lũng Tách giãn Lớn:[9]
- Nhánh Đông (Gregory Rift): Chạy qua miền bắc và trung bộ Tanzania, tạo nên các hồ muối lớn nông hẹp đáy sụt như Hồ Natron (nổi tiếng với màu nước đỏ rực), Hồ Manyara và Hồ Eyasi. Khu vực này cũng có núi lửa Ol Doinyo Lengai — ngọn núi lửa duy nhất trên thế giới phun ra dung nham natrocarbonat mát mẻ.[10]
- Nhánh Tây (Albertine Rift): Chạy dọc biên giới phía tây, hình thành nên máng sụt sâu chứa Hồ Tanganyika sâu thẳm.
Hệ thống thủy văn và lưu vực
Mạng lưới thủy văn của Tanzania phong phú và phân hóa rõ rệt thành ba lưu vực thoát nước lớn hướng ra các đại dương khác nhau và một lưu vực nội địa tích tụ nước muối:[3]
Lưu vực Ấn Độ Dương
Bao phủ toàn bộ khu vực miền đông và miền trung nước này, được các dòng sông lớn chảy theo hướng tây-đông đổ thẳng ra đại dương tưới mát:
- Sông Rufiji: Là hệ thống sông lớn nhất và quan trọng nhất của Tanzania. Sông Rufiji được hình thành từ sự hợp lưu của sông Kilombero và sông Great Ruaha, chảy xuyên qua vườn quốc gia Nyerere tạo nên một mạng lưới các hồ nước trù phú trước khi đổ ra biển qua một vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn.
- Sông Ruvuma: Chạy dài dọc theo biên giới phía nam, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Tanzania và Mozambique.
- Các dòng sông phụ lưu quan trọng khác chảy ra bờ biển Đông Phi bao gồm sông Pangani ở phía bắc, sông Wami và sông Ruvu ở trung bộ.[3]
Lưu vực Hồ Victoria (Hướng sông Nile)
Toàn bộ mạng lưới thủy văn ở khu vực phía bắc Tanzania đều thoát nước vào Hồ Victoria. Hồ Victoria là hồ nước ngọt lớn nhất châu Phi. Nguồn nước tích tụ từ các dòng sông miền bắc Tanzania chảy vào hồ này, sau đó thoát ra ở đầu phía bắc thuộc Uganda để cấu thành nên nguồn nước thượng nguồn tối thượng của dòng Sông Nile, chảy ngược lên hướng bắc qua Sudan và Ai Cập để đổ ra Địa Trung Hải.[11]
Lưu vực Hồ Tanganyika (Hướng sông Congo)
Vùng phía tây của đất nước thuộc lưu vực của Hồ Tanganyika. Hồ Tanganyika là hồ sâu thứ hai trên thế giới và chứa lượng nước ngọt khổng lồ. Dòng sông lớn nhất miền tây Tanzania là Sông Malagarasi, chảy cắt ngang qua các bình nguyên bằng phẳng rồi đổ vào Hồ Tanganyika. Nước từ hồ này sau đó thoát ra dòng sông Lukuga thuộc lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Congo để nhập vào hệ thống của dòng Sông Congo, cuộn chảy về hướng tây đổ ra Đại Tây Dương.[12]
Lưu vực Hồ Malawi và Nội địa
- Lưu vực Hồ Malawi: Nằm ở phía nam, gom nước đổ vào Hồ Malawi (Hồ Nyasa), sau đó thoát qua sông Shire và sông Zambezi đổ ra Ấn Độ Dương.
- Lưu vực Nội địa: Do ảnh hưởng của Thung lũng Tách giãn Lớn, một khu vực rộng lớn ở miền bắc và miền trung nước này hoàn toàn không thông ra đại dương, mà thoát nước vào các hồ muối nội địa nông và cạn kiệt dần do bốc hơi như Hồ Natron, Hồ Eyasi và Hồ Manyara.[12]
Khí hậu
Khí hậu của Tanzania vô cùng đa dạng và phân hóa sâu sắc theo độ cao địa hình, từ kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm dọc theo dải đồng bằng ven biển cho đến khí hậu bán khô hạn trên cao nguyên miền trung và khí hậu ôn đới vùng cao dễ chịu ở các khối núi phía bắc và tây nam.[13]
Chế độ gió mùa và lượng mưa
Lượng mưa tại Tanzania được quyết định hoàn toàn bởi sự dịch chuyển của Đới hội tụ liên nhiệt đới (ITCZ), chia đất nước thành hai vùng chế độ mưa khác biệt rõ rệt:[14]
- Chế độ mưa hai đỉnh (Bimodal): Phổ biến ở miền bắc, đông bắc và dải ven biển. Vùng này trải qua hai mùa mưa trong năm: Mùa mưa ngắn (gọi là Vuli) diễn ra từ tháng 10 đến tháng 12, và Mùa mưa dài (gọi là Masika) diễn ra mạnh mẽ từ tháng 3 đến tháng 5.
- Chế độ mưa một đỉnh (Unimodal): Phổ biến ở cao nguyên miền trung, miền nam và miền tây đất nước. Vùng này chỉ có một mùa mưa duy nhất kéo dài liên tục từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, các tháng còn lại hoàn toàn khô hạn.
Bảng dữ liệu Khí hậu tại Dar es Salaam
Dar es Salaam là thành phố lớn nhất và là trung tâm kinh tế sầm uất nhất của Tanzania, tọa lạc bên bờ Ấn Độ Dương, mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ẩm xavan (Aw).
Bảng dữ liệu Khí hậu tại Dar es Salaam (Weather box)
| Dữ liệu khí hậu của Dar es Salaam (1961–1990) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 31.8 (89.2) |
32.4 (90.3) |
32.1 (89.8) |
30.7 (87.3) |
29.8 (85.6) |
29.3 (84.7) |
28.9 (84.0) |
29.4 (84.9) |
30.3 (86.5) |
31.2 (88.2) |
31.4 (88.5) |
31.6 (88.9) |
30.7 (87.3) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 27.8 (82.0) |
28.0 (82.4) |
27.7 (81.9) |
26.7 (80.1) |
25.7 (78.3) |
24.9 (76.8) |
24.3 (75.7) |
24.5 (76.1) |
25.1 (77.2) |
26.1 (79.0) |
26.9 (80.4) |
27.4 (81.3) |
26.3 (79.3) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 23.5 (74.3) |
23.3 (73.9) |
22.8 (73.0) |
22.4 (72.3) |
21.3 (70.3) |
19.2 (66.6) |
18.2 (64.8) |
18.1 (64.6) |
18.4 (65.1) |
19.7 (67.5) |
21.3 (70.3) |
22.8 (73.0) |
20.9 (69.6) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 75.7 (2.98) |
84.5 (3.33) |
179.4 (7.06) |
367.8 (14.48) |
198.2 (7.80) |
42.1 (1.66) |
31.0 (1.22) |
26.0 (1.02) |
31.0 (1.22) |
64.9 (2.56) |
120.8 (4.76) |
111.4 (4.39) |
1.332,8 (52.48) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 8 | 7 | 12 | 19 | 14 | 6 | 6 | 7 | 7 | 7 | 9 | 11 | 113 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 77 | 76 | 80 | 84 | 81 | 78 | 77 | 76 | 76 | 77 | 78 | 78 | 78 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 235.6 | 223.2 | 213.9 | 156.0 | 213.9 | 222.0 | 223.2 | 266.6 | 252.0 | 275.9 | 252.0 | 241.8 | 2.776,1 |
| Nguồn: WMO[15] | |||||||||||||
Biểu đồ Khí hậu tại Dar es Salaam
| Dar es Salaam | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Biểu đồ khí hậu (giải thích) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Tài nguyên thiên nhiên và sử dụng đất
Khoáng sản phi sinh học phong phú
Tanzania là một quốc gia trù phú về tài nguyên khoáng sản. Lòng đất của nước này chứa lượng dự trữ lớn về vàng (đóng vai trò nguồn thu xuất khẩu lớn), kim cương, thạch anh, than đá, quặng sắt, nickel và phosphat. Đặc biệt, vùng đồi núi Mererani dưới chân núi Kilimanjaro là nơi duy nhất trên thế giới khai thác được đá quý Tanzanite màu xanh tím độc nhất vô nhị.[16] Hoạt động thăm dò tại mỏ khí Songo Songo ngoài khơi đại dương cũng mở ra trữ lượng khí thiên nhiên khổng lồ phục vụ sản xuất điện năng quốc gia.[2]
Sử dụng đất (Ước tính năm 2018)
- Đất phục vụ nông nghiệp: 43,7%
- Đất canh tác trồng trọt: 14,3%
- Cây trồng lâu năm: 2,4%
- Đồng cỏ lâu năm dành cho chăn nuôi: 27,0%
- Diện tích rừng và thảm che phủ xanh: 48,1% (một tỷ lệ rất cao nhờ mạng lưới vườn quốc gia rộng khắp).
- Khác: 8,2%
- Đất có tưới tiêu: 1.840 km² (710 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[2]
Các điểm cực địa lý
Dưới đây là các điểm giới hạn địa lý của lãnh thổ Cộng hòa Liên bang Tanzania:
- Cực Bắc: Điểm biên giới giáp ranh với Uganda trên bờ Hồ Victoria, phía bắc thị trấn Bukoba, Vùng Kagera.
- Cực Nam: Điểm uốn khúc của Sông Ruvuma nằm trên đường biên giới với Mozambique, thuộc Vùng Ruvuma.
- Cực Đông: Mũi đất Mwambo nhô ra Ấn Độ Dương sát ranh giới quốc gia Mozambique, phía đông nam thị trấn Mtwara, Vùng Mtwara.
- Cực Tây: Điểm ranh giới trên bờ Hồ Tanganyika tiếp giáp Cộng hòa Dân chủ Congo, phía tây thị trấn Kigoma, Vùng Kigoma.
Thư viện ảnh
-
Đỉnh núi tuyết phủ Kilimanjaro sừng sững cao nhất châu Phi và voi châu Phi.
-
Cuộc di cư vĩ đại của hàng triệu con linh dương đầu bò trên bình nguyên Serengeti.
-
Miệng núi lửa Ngorongoro, miệng núi lửa không hoạt động và còn nguyên vẹn lớn nhất thế giới..
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b Saddik, LaVerle (2015). Tanzania: a country study. Washington, D.C.: Federal Research Division, Library of Congress. ISBN 978-0844495699.
- ^ a b c d "Tanzania - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026.
- ^ a b c d "Tanzania - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026.
- ^ Wang, Y. (2003). "Mangrove distribution and dynamics on the Tanzania coast". Wetlands Ecology and Management. Quyển 11 số 4. tr. 243–255. doi:10.1023/A:1025091705649.
- ^ Loxon, J. (2009). Kilimanjaro: Physical Features and Glaciers. London: Macmillan.
- ^ Burgess, N. D. (2007). "Biological importance of the Eastern Arc Mountains of Kenya and Tanzania". Biological Conservation. Quyển 134 số 2. tr. 209–231. doi:10.1016/j.biocon.2006.08.015.
- ^ WWF (2014). "The Miombo Woodlands Ecoregions of Central and Southern Africa" (Tài liệu). World Wildlife Fund.
- ^ Sinclair, A. R. E. (2008). Serengeti III: Human Impacts on Ecosystem Dynamics. Chicago: University of Chicago Press.
- ^ Chorowicz, J. (2005). "The East African Rift System". Journal of African Earth Sciences. Quyển 43 số 1. tr. 379–410. doi:10.1016/j.jafrearsci.2005.07.019.
- ^ Keller, J. (2006). "The 2006 eruption of Ol Doinyo Lengai, Tanzania". Bulletin of Volcanology. Quyển 69. tr. 111–118.
- ^ Shahin, Mamdouh (2002). Hydrology and Water Resources of Africa. Dordrecht: Kluwer Academic Publishers. ISBN 978-1402008665.
- ^ a b Shahin, Mamdouh (2002). Hydrology and Water Resources of Africa. Dordrecht: Kluwer Academic Publishers. ISBN 978-1402008665.
- ^ Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
- ^ Food and Agriculture Organization (2008). "Climate and Water Resources of Tanzania" (Tài liệu). FAO-SWALIM. tr. 22–29.
- ^ "World Weather Information Service – Dar es Salaam". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026.
- ^ Olivier, B. M. (2006). "The geology and tanzanite deposits of the Merelani area, northern Tanzania". Gems & Gemology. Quyển 42 số 3. tr. 212–231.
Liên kết ngoài
- Hồ sơ địa lý quốc gia Tanzania Lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine trên CIA World Factbook.