Địa lý Tunisia
Địa lý Tunisia mô tả các đặc điểm tự nhiên, địa hình, địa chất, cấu trúc thủy văn, khí hậu và các vùng sinh thái đặc trưng của Tunisia (tên gọi chính thức là Cộng hòa Tunisia), một quốc gia tọa lạc tại khu vực Bắc Phi.[1] Quốc gia này nằm ở rìa phía bắc của lục địa châu Phi, sở hữu một vị thế địa chính trị và trắc địa vô cùng quan trọng khi đóng vai trò là cầu nối tự nhiên giữa lưu vực Đông và Tây của Địa Trung Hải, đồng thời là dải đất trung chuyển giữa châu Âu và sa mạc Sahara.[2]
| Tập tin:Tunisia (orthographic projection).svg | |
| Vùng | Bắc Phi |
|---|---|
| Tọa độ | 34°00′B 9°00′Đ / 34°B 9°Đ |
| Diện tích | |
| • Đất | 94.96% |
| • Nước | 5.04% |
| Biên giới | Tổng cộng: 1.495 km (929 dặm) Algérie: 1.034 km (642 dặm) Libya: 461 km (286 dặm) |
| Điểm cao nhất | Núi Jebel ech Chambi, 1.544 m (5.066 ft) |
| Điểm thấp nhất | Shatt al Gharsah, −17 m (−56 ft) |
| Sông dài nhất | Sông Medjerda, 450 km (280 dặm) |
| Hồ lớn nhất | Chott el Djerid (Hồ muối lớn) |
| Địa hình | Phía bắc là đồi núi dốc trập trùng thuộc hệ thống núi Atlas, thoải dần xuống các đồng bằng thung lũng sông trù phú; miền trung là vùng cao nguyên bán khô hạn mọc đầy cỏ khô cỏ esparto; phía nam hạ thấp thành các bồn địa hồ muối (chott) trước khi sụt trũng hoàn toàn vào hoang mạc Sahara cắt xẻ bởi các cồn cát khổng lồ. |
Tunisia sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 163.610 kilômét vuông (khoảng 63.170 dặm vuông), trong đó diện tích đất liền chiếm khoảng 155.360 kilômét vuông và diện tích mặt nước, bao gồm hệ thống đầm phá ven biển và các hồ muối lớn, chiếm 8.250 kilômét vuông (phần trăm đất chiếm 94,96%).[3] Đất nước này có đường biên giới đất liền dài tổng cộng 1.495 kilômét (929 dặm), tiếp giáp với hai quốc gia láng giềng: Algérie ở phía tây và tây nam (1.034 km) và Libya ở phía đông nam (461 km).[3] Ngược lại, phía bắc và phía đông của Tunisia mở ra một dải đường bờ biển Địa Trung Hải dài tới 1.148 kilômét (713 dặm) trù phú.[3]
Địa hình Tunisia phân hóa sâu sắc từ bắc xuống nam. Phía bắc là hệ thống đồi núi Atlas rậm rạp sồi bần và các thung lũng sông màu mỡ; miền trung chuyển tiếp thành vùng cao nguyên bán khô hạn; trong khi toàn bộ dải lãnh thổ phía nam bị thống trị bởi các bồn địa hồ muối sụt trũng trước khi hòa lẫn hoàn toàn vào biển cát khổng lồ Grand Erg Oriental của hoang mạc Sahara.[2] Thủ đô và thành phố lớn nhất của đất nước là Tunis, tọa lạc bên bờ một vịnh biển nông ở phía đông bắc.[1]
Địa hình
Mặc dù có diện tích tương đối khiêm tốn so với các quốc gia Bắc Phi khác, Tunisia lại sở hữu một sự đa dạng địa hình đáng kinh ngạc, được phân chia thành bốn vùng địa lý tự nhiên cốt lõi rõ rệt:[2]
Vùng đồi núi phía Bắc (The Tell)
Chiếm khu vực phía bắc đất nước, vùng Tell là phần kéo dài phía đông của dãy núi Atlas. Vùng này bị cắt xẻ bởi chuỗi núi Tunisia (Tunisian Ridge hoặc Dorsale), chạy dài theo hướng tây nam - đông bắc từ biên giới Algérie ra đến bán đảo Cap Bon.[2] Tại vùng núi này, tọa lạc đỉnh Núi Jebel ech Chambi sừng sững vươn lên độ cao 1.544 mét (5.066 ft) so với mực nước biển, đây chính là điểm cao nhất của đất nước Tunisia.[3] Phía bắc của dãy Dorsale là thung lũng sông Medjerda trù phú — vựa lúa mỳ và là vùng nông nghiệp quan trọng nhất của đất nước nhờ lượng mưa dồi dào.[1]
Vùng Cao nguyên Miền Trung (The Steppes)
Nằm ở phía nam dãy núi Dorsale, địa hình hạ thấp thành một cao nguyên rộng lớn có độ cao dao động từ 180 đến 600 mét. Vùng này mang đặc trưng của dải khí hậu bán khô hạn với các thảo nguyên bao la mọc đầy cỏ esparto (Stipa tenacissima) — loại cỏ được khai thác thâm canh để sản xuất giấy chất lượng cao.[4] Địa hình vùng này tương đối phẳng, thỉnh thoảng bị chia cắt bởi các dải đồi đá cô lập (inselbergs) và các lòng suối khô (wadi).[2]
Vùng Hồ muối Sụt trũng (The Chotts)
Tiến sâu hơn về phía nam, địa hình sụt trũng mạnh mẽ thành một chuỗi các bồn địa hồ muối khổng lồ nội lục nằm dưới hoặc ngang bằng mực nước biển, được gọi là các chott.[5] Lớn nhất trong số đó là Chott el Djerid, một lòng hồ muối mênh mông bốc hơi khô khốc vào mùa hè, để lại một lớp vỏ muối trắng xóa lấp lánh như gương.[6] Tại vùng trũng này, tọa lạc điểm Shatt al Gharsah với độ cao hạ thấp xuống tận −17 mét (−56 ft), đây chính là điểm thấp nhất của lãnh thổ Tunisia.[3]
Vùng Hoang mạc Sahara phía Nam
Chiếm hơn 40% tổng diện tích đất nước ở phía nam các hồ muối. Vùng này bị bao phủ hoàn toàn bởi dải cát khổng lồ Grand Erg Oriental, nơi có những cồn cát di động vĩ đại vươn cao tới hàng chục mét chịu sự thổi quét liên tục của gió hoang mạc.[2] Sự sống tại vùng này chỉ tập trung xung quanh các ốc đảo trù phú nhờ nguồn nước ngầm dồi dào, tiêu biểu như ốc đảo Tozeur và Gabès — nơi nổi tiếng với các đồn điền chà là bạt ngàn.[1]
Địa chất
Cấu trúc địa chất của Tunisia là kết quả của sự tương tác kiến tạo phức tạp giữa mảng châu Phi và mảng Á-Âu:[7]
- Hệ nếp uốn Atlas (Phía Bắc): Cấu thành chủ yếu từ các lớp đá vôi, đá phiến sét và sa thạch có niên đại từ kỷ Phấn trắng đến kỷ Tầm cận. Sự đứt gãy và uốn nếp mạnh mẽ ở đây đã hình thành nên các mỏ quặng chì, kẽm và quặng sắt trầm tích phong phú ở vùng biên giới tây bắc.
- Nền tảng ổn định võng nam (Miền Trung và Nam): Bao phủ bởi các lớp trầm tích ngang phẳng của kỷ Đệ Tam và Đệ Tứ. Điểm nhấn địa chất chiến lược của vùng này là các vỉa trầm tích Phosphat khổng lồ có niên đại Eocene xung quanh khu vực Gafsa, đưa Tunisia trở thành một thế lực khai khoáng hàng đầu thế giới.[3] Ngoài ra, bồn địa El Borma ở cực nam còn lưu giữ các túi Dầu mỏ và khí thiên nhiên chiến lược.[3]
Hệ thổ nhưỡng phân hóa sâu sắc bách khoa tương ứng với thảm thực vật:[2]
- Đất nâu Địa Trung Hải (Cambisols): Tập trung ở lưu vực thung lũng sông Medjerda phía bắc, giàu chất hữu cơ và khoáng chất phù sa, có độ phì nhiêu cực cao thích hợp cho nông nghiệp thâm canh.[2]
- Đất xám thảo nguyên (Gyphisols) và Đất cát hoang mạc (Arenosols): Chiếm trọn miền trung và miền nam, đất nghèo dinh dưỡng, chứa hàm lượng thạch cao và muối rất cao, dễ bị tổn thương gãy nứt xói mòn và sa mạc hóa dưới tác động của gió mùa khô hạn.[6]
Khí hậu
Khí hậu của Tunisia phân hóa rõ rệt theo vĩ độ và địa hình từ bắc xuống nam, chịu tác động sâu sắc bởi sự điều hòa của Địa Trung Hải ở phía bắc và sự khô khốc của sa mạc Sahara ở phía nam:[8]
Các vùng đới khí hậu
- Khí hậu Địa Trung Hải ẩm (Miền Bắc): Vùng duyên hải phía bắc và dãy núi Tell trải qua mùa hè nóng, khô và mùa đông ôn hòa, mưa nhiều (Csa theo Phân loại khí hậu Köppen). Lượng mưa trung bình năm ở đây dồi dào nhất đất nước, dao động từ 400 mm đến 1.000 mm, thậm chí vùng núi cao Kroumirie có thể nhận tới hơn 1.500 mm mưa mỗi năm, thỉnh thoảng có tuyết rơi vào mùa đông. Nhiệt độ mùa hè trung bình khoảng 32 °C (90 °F) và mùa đông giảm xuống khoảng 7 °C (45 °F).[8]
- Khí hậu bán khô hạn (Miền Trung): Thảo nguyên miền trung trải qua thời tiết khắc nghiệt hơn với lượng mưa giảm mạnh xuống còn 200 mm đến 400 mm/năm. Mùa hè rất nóng bức và mùa đông lạnh hơn so với vùng duyên hải.[2]
- Khí hậu hoang mạc khô hạn (Miền Nam): Toàn bộ dải đất phía nam các hồ muối thuộc đới khí hậu sa mạc nóng khô khốc (BWh). Lượng mưa trung bình năm sụt giảm nghiêm trọng dưới 100 mm, nhiều vùng không có mưa trong nhiều năm liền. Vào mùa hè, nhiệt độ ban ngày thường xuyên vượt ngưỡng 45 °C (113 °F). Thành phố Kebili từng ghi nhận mức nhiệt độ kỷ lục lên tới 55 °C (131 °F) — một trong những mức nhiệt cao nhất từng được ghi nhận ở bán cầu đông.[9] Một hiện tượng thời tiết đặc trưng là gió Sirocco (người địa phương gọi là Chehili) — luồng gió hoang mạc cực kỳ nóng và khô thổi mạnh từ Sahara lên phía bắc vào mùa hè, có thể đẩy nhiệt độ tăng vọt thêm 10 °C chỉ trong vài giờ và làm héo úa toàn bộ cây trồng.[8]
Bảng dữ liệu Khí hậu tại thủ đô Tunis
Thủ đô Tunis tọa lạc ở phía đông bắc đất nước bên vịnh Tunis, mang khí hậu Địa Trung Hải điển hình với mùa hè khô nóng và mùa đông mưa ấm.
Bảng dữ liệu Khí hậu tại Tunis (Weather box)
| Dữ liệu khí hậu của Tunis (1961–1990) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 15.7 (60.3) |
16.5 (61.7) |
18.1 (64.6) |
20.7 (69.3) |
24.9 (76.8) |
29.5 (85.1) |
33.0 (91.4) |
32.8 (91.0) |
29.7 (85.5) |
25.2 (77.4) |
20.5 (68.9) |
16.7 (62.1) |
23.6 (74.5) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 11.5 (52.7) |
12.0 (53.6) |
13.2 (55.8) |
15.6 (60.1) |
19.3 (66.7) |
23.6 (74.5) |
26.8 (80.2) |
26.8 (80.2) |
24.4 (75.9) |
20.4 (68.7) |
15.9 (60.6) |
12.5 (54.5) |
18.5 (65.3) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 7.2 (45.0) |
7.4 (45.3) |
8.3 (46.9) |
10.4 (50.7) |
13.7 (56.7) |
17.7 (63.9) |
20.5 (68.9) |
20.8 (69.4) |
19.0 (66.2) |
15.5 (59.9) |
11.3 (52.3) |
8.2 (46.8) |
13.3 (56.0) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 59 (2.3) |
57 (2.2) |
47 (1.9) |
38 (1.5) |
22 (0.9) |
10 (0.4) |
3 (0.1) |
7 (0.3) |
33 (1.3) |
66 (2.6) |
56 (2.2) |
67 (2.6) |
465 (18.3) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 12 | 11 | 11 | 9 | 5 | 3 | 1 | 2 | 6 | 9 | 10 | 12 | 91 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 76 | 74 | 73 | 71 | 68 | 64 | 61 | 63 | 68 | 72 | 74 | 77 | 70 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 145.7 | 159.6 | 198.4 | 225.0 | 282.1 | 309.0 | 356.5 | 328.6 | 258.0 | 217.0 | 156.0 | 145.7 | 2.781,6 |
| Nguồn: WMO[10] | |||||||||||||
Biểu đồ Khí hậu tại Tunis
| Tunis | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Biểu đồ khí hậu (giải thích) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thủy văn
Do sự phân hóa khí hậu cực đoan, mạng lưới thủy văn của Tunisia tương đối nghèo nàn và tập trung chủ yếu ở phía bắc dãy núi Dorsale:[2]
Hệ thống lưu vực Sông Medjerda
- Sông Medjerda: Dòng sông duy nhất chảy quanh năm của Tunisia với chiều dài 450 kilômét (280 dặm). Sông bắt nguồn từ vùng núi Tell thuộc Algérie, chảy cắt ngang qua miền bắc Tunisia từ tây sang đông trước khi đổ ra vịnh Tunis. Sông Medjerda mang ý nghĩa sống còn đối với toàn bộ nền nông nghiệp quốc gia khi cung cấp nước tưới tiêu trắc địa cho các vựa lúa mì lớn và là nguồn cấp nước sinh hoạt chính cho thủ đô Tunis thông qua hệ thống các đập nước lớn như đập Sidi Salem.[1]
Hệ thống sông mùa và Hồ đầm phá
- Phía nam dãy Dorsale không có sông chảy quanh năm. Các dòng suối chỉ có nước sau những trận mưa giông lớn mùa đông rồi nhanh chóng cạn khô thành các thung lũng đá lòng cát gọi là các Wadi. Dòng chảy của các wadi này đổ vào các bồn địa hồ muối nội lục (chott).[6]
- Hệ thống đầm phá duyên hải: Miền bắc Tunisia sở hữu Hồ Ichkeul — một hồ nước ngọt tự nhiên trập trùng được UNESCO công nhận là Di sản thế giới nhờ vai trò là trạm dừng chân sống còn của hàng triệu loài chim di cư từ châu Âu xuống châu Phi vào mùa đông.[11] Ngược lại, dọc bờ biển phía đông là các đầm phá nước mặn lớn như đầm phá Monastir và vịnh Gabès.[2]
Tài nguyên thiên nhiên
Lòng đất và lãnh hải Tunisia lưu giữ nhiều nguồn tài nguyên phi sinh học quan trọng cho nền kinh tế Bắc Phi:[3]
- Khoáng sản xuất khẩu: Các mỏ phosphat trầm tích quanh Gafsa là nguồn thu lớn. Ngoài ra, đất nước còn khai thác các mỏ quặng sắt, chì, kẽm chất lượng cao ở vùng núi tây bắc và trữ lượng dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên dồi dào tại vịnh Gabès và sa mạc phía nam.[3]
- Sử dụng đất (Ước tính năm 2018):
- Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 64,8%
- Đất trồng trọt hàng năm: 18,3%
- Cây trồng lâu năm (chủ yếu là ô liu và chà là): 14,8%
- Đồng cỏ lâu năm dành cho chăn nuôi: 31,7%
- Diện tích rừng và thảm che phủ xanh: 6,6%
- Khác (Hoang mạc, đô thị, hồ muối): 28,6%
- Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 64,8%
- Đất có tưới tiêu: 4.210 km² (1.625 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[3]
Các vấn đề môi trường
Tunisia hiện đang đối mặt với nhiều thách thức sinh thái nghiêm trọng bị thúc đẩy bởi hiện tượng biến đổi khí hậu:[3]
- Sa mạc hóa lan rộng: Đây là thách thức sinh thái lớn nhất khi hoang mạc Sahara có xu hướng lấn dần lên phía bắc do tình trạng chăn thả gia súc quá mức trên các thảo nguyên cỏ esparto và việc khai thác tài nguyên nước ngầm quá mức phục vụ du lịch và nông nghiệp.[1]
- Quản lý chất thải và Ô nhiễm công nghiệp: Hoạt động chế biến phosphat tại Sfax và Gabès xả ra lượng bã thải thạch cao phosphate khổng lồ, gây ô nhiễm nghiêm trọng bầu không khí và làm suy thoái hệ sinh thái biển vịnh Gabès.[12]
- Thiếu hụt nguồn nước ngọt nghiêm trọng: Khí hậu khô hạn kéo dài khiến lượng nước ngọt tính theo đầu người của Tunisia thuộc hàng thấp nhất Bắc Phi, buộc chính phủ phải đầu tư mạnh vào các nhà máy khử mặn nước biển.[2]
Các điểm cực địa lý
Dưới đây là bốn điểm cực địa lý vươn xa nhất của lãnh thổ Cộng hòa Tunisia:
- Cực Bắc: Ras ben Sakka — đây cũng chính là điểm cực Bắc của toàn bộ lục địa châu Phi, tọa lạc vĩ độ 37°21′B, nằm gần thành phố Bizerte.
- Cực Nam: Điểm ranh giới ba bên giáp với Algérie và Libya, nằm sát thị trấn hoang mạc Borj El Khadra ở tỉnh Tataouine.
- Cực Đông: Điểm biên giới trên bờ biển Địa Trung Hải giáp với Libya, nằm ở phía đông thị trấn Ras Ajdir thuộc tỉnh Medenine.
- Cực Tây: Đoạn biên giới thẳng đứng giáp với Algérie, nằm ở phía tây nam thị trấn hoang mạc Hazoua thuộc tỉnh Tozeur.
Thư viện ảnh
-
Đỉnh núi Jebel ech Chambi — điểm cao nhất của đất nước Tunisia, sừng sững bên sườn biên giới tây bắc.
-
Tozeur trù phú xanh tươi nổi tiếng với các đồn điền chà là hữu cơ ngay giữa lòng hoang mạc Sahara.
-
Vườn quốc gia Ichkeul.
-
Kiến trúc nhà hang ngầm trũng độc đáo của người Berber bản địa để thích nghi với cái nóng hoang mạc tại Matmata.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b c d e f Perkins, Kenneth (2014). A History of Modern Tunisia. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-1107654082.
- ^ a b c d e f g h i j k l "Tunisia - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2026.
- ^ a b c d e f g h i j k "Tunisia - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2026.
- ^ King, Russell (1986). The Mediterranean Structural Regions. London: Routledge.
- ^ Swezey, C. (1997). "Pluvial and interpluvial sedimentation in the Chott el Djerid basin, southern Tunisia". Palaeogeography, Palaeoclimatology, Palaeoecology. Quyển 130. tr. 125–144. doi:10.1016/S0031-0182(96)00139-4.
- ^ a b c Swezey, C. (1997). "Pluvial and interpluvial sedimentation in the Chott el Djerid basin, southern Tunisia". Palaeogeography, Palaeoclimatology, Palaeoecology. Quyển 130. tr. 125–144. doi:10.1016/S0031-0182(96)00139-4.
- ^ Ben Ayed, N. (1993). "Evolution tectonique de la Tunisie phía bắc". Geological Survey of Tunisia Bulletin. Quyển 14. tr. 67–89.
- ^ a b c Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
- ^ Sultan, B. (2003). "The North African climate anomalies and Sirocco dynamics". Journal of Climate. Quyển 16. tr. 3389–3406.
- ^ "World Weather Information Service – Tunis". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2026.
- ^ "Ichkeul National Park". UNESCO World Heritage Centre. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2026.
- ^ UNEP (2018). "Tunisia: National Environmental Action Plan" (Tài liệu). United Nations Environment Programme.
Liên kết ngoài
- Hồ sơ địa lý bách khoa toàn diện về đất nước Tunisia Lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine trên CIA World Factbook.