Địa lý Zambia
Địa lý Zambia mô tả các đặc điểm tự nhiên, địa hình, địa chất, cấu trúc thủy văn trù phú và tài nguyên sinh thái của Zambia (tên gọi chính thức là Cộng hòa Zambia), một quốc gia nội lục rộng lớn nằm ở khu vực phía nam của lục địa Châu Phi.[1] Zambia tọa lạc trên một vùng cao nguyên khổng lồ thuộc trung tâm lục địa châu Phi, đóng vai trò là dải đất bản lề chuyển tiếp sinh thái giữa vùng rừng mưa bồn địa Congo và các thảo nguyên khô cằn của hoang mạc Kalahari.[2]
| Vùng | Nam Phi |
|---|---|
| Tọa độ | 15°00′N 30°00′Đ / 15°N 30°Đ |
| Diện tích | |
| • Đất | 98.77% |
| • Nước | 1.23% |
| Biên giới | Tổng cộng: 6.043 km (3.755 dặm) Cộng hòa Dân chủ Congo: 2.332 km (1.449 dặm) Angola: 1.065 km (662 dặm) Malawi: 847 km (526 dặm) Zimbabwe: 763 km (474 dặm) Mozambique: 439 km (273 dặm) Namibia: 244 km (152 dặm) Tanzania: 353 km (219 dặm) Botswana: 0.15 km (0.09 dặm) |
| Điểm cao nhất | Núi Mafinga Central, 2.339 m (7.674 ft) |
| Điểm thấp nhất | Sông Zambezi (Biên giới Mozambique), 329 m (1.079 ft) |
| Sông dài nhất | Sông Zambezi, 2.574 km (1.599 dặm) (tổng chiều dài hệ thống) |
| Hồ lớn nhất | Hồ Bangweulu / Hồ Kariba (Hồ nhân tạo chung) |
| Địa hình | Phần lớn là một cao nguyên rộng lớn bao la phẳng đến trập trùng đồi thấp, thoải dần từ bắc xuống nam; bị chia cắt bởi các thung lũng đứt gãy sông sâu thẳm ở phía đông và nam; hệ thống hồ nước và đầm lầy chiếm diện tích đáng kể ở trung tâm phía bắc. |
Zambia sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 752.618 kilômét vuông (khoảng 290.587 dặm vuông), xếp thứ 38 trên thế giới về diện tích đất liền.[3] Trong tổng diện tích, đất liền chiếm khoảng 743.398 kilômét vuông (phần trăm đất chiếm 98,77%) và mặt nước chiếm khoảng 9.220 kilômét vuông (1,23%), bao gồm các lòng hồ tự nhiên và hệ thống hồ nhân tạo khổng lồ.[3] Là một quốc gia nội lục, Zambia hoàn toàn không giáp biển nhưng lại có đường biên giới đất liền dài kỷ lục tới 6.043 kilômét (3.755 dặm), tiếp giáp với tám quốc gia láng giềng: Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía bắc và tây bắc (2.332 km), Angola ở phía tây (1.065 km), Malawi ở phía đông (847 km), Zimbabwe ở phía nam (763 km), Mozambique ở phía đông nam (439 km), Tanzania ở phía đông bắc (353 km), Namibia ở phía tây nam (244 km) và Botswana ở phía nam thông qua một điểm ranh giới đặc biệt ngắn trên sông (0,15 km).[3]
Địa hình cốt lõi của quốc gia này bị cắt xẻ bởi hệ thống sông ngòi thuộc hai lưu vực lớn: lưu vực sông Zambezi đổ ra Ấn Độ Dương và lưu vực sông Congo đổ ra Đại Tây Dương.[2] Thủ đô kiêm thành phố phát triển lớn nhất nước là Lusaka, tọa lạc trên vùng cao nguyên trung nam có vị trí chiến lược kết nối các mạng lưới giao thương nội địa.[1]

Các khu vực địa hình
Địa hình Zambia mang đặc trưng cấu trúc của một bề mặt cao nguyên cổ phẳng đến đồi lượn sóng thoai thoải, dốc nhẹ từ bắc xuống nam, với độ cao trung bình dao động từ 1.000 đến 1.350 mét so với mực nước biển.[2] Lãnh thổ đất nước được phân hóa thành năm vùng tự nhiên cốt lõi rõ rệt:
Cao nguyên Zambia
Khu vực này trải rộng từ miền trung lên biên giới phía bắc giáp Cộng hòa Dân chủ Congo. Độ cao trung bình vùng này đạt khoảng 1.200 mét, bề mặt được bao phủ bởi thảm thực vật rừng thưa Miombo bạt ngàn.[2] Đây là vùng kinh tế và dân cư sầm uất nhất của Zambia nhờ sự hiện diện của vùng khoáng sản Copperbelt — vựa lưu trữ quặng đồng và cobalt trầm tích khổng lồ, là xương sống công nghiệp xuất khẩu của đất nước.[3]
Khối núi phía Đông
Chạy dọc theo đường biên giới phía đông giáp với Malawi. Địa hình nơi đây nâng cao đột ngột thành các dải núi dốc đứng hiểm trở, được cấu thành từ đá móng kết tinh cổ.[4] Tại vùng đồi núi này, vươn lên đỉnh Núi Mafinga Central (Mafinga Hills) đạt độ cao kỷ lục 2.339 mét (7.674 ft) so với mực nước biển, trở thành điểm cao nhất của đất nước Zambia.[3]
Lưu vực thung lũng sông Luangwa
Nằm ở phía tây dãy núi Mafinga, đây là một hệ thống thung lũng đứt gãy sụt trũng sâu (rift valley), một nhánh kéo dài của Thung lũng tách giãn Lớn Đông Phi.[2] Lòng thung lũng hạ thấp xuống dưới 500 mét, được bao bọc bởi các vách đá đứng dựng đứng. Nơi đây có sông Luangwa uốn khúc chảy qua, tạo nên các vùng đầm lầy trù phú sinh thái, là nơi bảo tồn các quần thể động vật hoang dã lớn nhất Nam Phi bên trong các vườn quốc gia danh tiếng.[5]
[[File:Loxodonta africana South Luangwa National Park (1).jpg |nhỏ|phải|Đàn voi châu Phi băng qua dòng sông Luangwa bên trong Vườn quốc gia Nam Luangwa, thuộc vùng thung lũng đứt gãy phía đông Zambia.]]
Bình nguyên cát phía Tây
Chiếm trọn phần diện tích phía tây của đất nước dọc theo biên giới Angola. Địa hình vùng này phẳng lặng một cách tuyệt đối, bị bao phủ bởi lớp cát dày mịn phong hóa từ hoang mạc Kalahari thổi sang.[2] Vùng này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chu kỳ ngập lụt hàng năm của sông Zambezi, tạo nên đồng cỏ ngập nước Barotse rộng lớn, thuận lợi cho hoạt động chăn nuôi mục súc chăn thả tự do.[1]
Lòng chảo hồ Bangweulu
Tọa lạc ở phía bắc đất nước, đây là một vùng trũng sinh thái ngập nước khổng lồ bao gồm Hồ Bangweulu và mạng lưới các đầm lầy cỏ giấy papyrus bạt ngàn bao quanh, đóng vai trò như một bộ lọc nước tự nhiên vĩ đại lưu giữ các loài chim nước quý hiếm của châu Phi.[2]
Khí hậu
Mặc dù nằm hoàn toàn trong vành đai nội chí tuyến nhiệt đới của Nam Bán cầu, Zambia lại thừa hưởng một nền khí hậu nhiệt đới xavan tương đối ôn hòa và dễ chịu quanh năm. Điều này có được là nhờ cao nguyên nội địa nâng cao địa hình trung bình của đất nước lên trên 1.000 mét so với mực nước biển, làm dịu đi cái nóng oi bức đặc trưng của vùng vĩ độ thấp.[6]
Chu kỳ ba mùa thời tiết
Khí hậu Zambia phân hóa sâu sắc thành ba mùa rõ rệt chịu chi phối bởi sự dịch chuyển của Đới hội tụ liên nhiệt đới (ITCZ) và gió mùa đông nam:[6]
- Mùa mưa nóng ẩm (Tháng 12 đến tháng 4 năm sau): Thời tiết bị thống trị bởi các khối khí xích đạo ẩm, mang lại những trận mưa giông dối dả, chiếm hơn 90% tổng lượng mưa hàng năm. Lượng mưa có xu hướng giảm dần từ bắc xuống nam: vùng phía bắc nhận từ 1.200 mm đến 1.400 mm, trong khi vùng phía nam và tây nam khô hạn chỉ nhận dưới 700 mm/năm, thường xuyên đối mặt với hạn hán cực đoan do hiện tượng El Niño.[7]
- Mùa khô mát (Tháng 5 đến tháng 8): Luồng gió tín phong đông nam lạnh và khô tràn về từ Nam Cực đẩy nhiệt độ ban đêm sụt giảm mạnh. Trên các vùng cao nguyên trung nam, nhiệt độ ban đêm có thể xuống dưới 10 °C (50 °F), thỉnh thoảng xuất hiện sương muối ở các thung lũng nông.[6]
- Mùa khô nóng (Tháng 9 đến tháng 11): Đây là giai đoạn chuyển tiếp khi góc chiếu mặt trời tăng cao nhưng chưa có mưa điều hòa. Bầu không khí trở nên khô nóng và ngột ngạt, nhiệt độ ban ngày tại các bồn địa thung lũng sông thấp như Luangwa và hạ lưu Zambezi thường xuyên vượt ngưỡng 40 °C (104 °F).[2]
Bảng dữ liệu Khí hậu tại thủ đô Lusaka
Thủ đô Lusaka tọa lạc ở phía nam trung tâm đất nước trên một vùng cao nguyên phẳng có độ cao 1.280 mét, mang kiểu khí hậu nhiệt đới xavan điều hòa cao nguyên (Aw theo Phân loại khí hậu Köppen) vô cùng mát mẻ.
Bảng dữ liệu Khí hậu tại Lusaka (Weather box)
| Dữ liệu khí hậu của Lusaka (1961–1990) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 26.0 (78.8) |
26.0 (78.8) |
26.2 (79.2) |
26.1 (79.0) |
24.5 (76.1) |
22.7 (72.9) |
22.7 (72.9) |
25.2 (77.4) |
28.9 (84.0) |
30.6 (87.1) |
29.0 (84.2) |
26.7 (80.1) |
26.2 (79.2) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 20.6 (69.1) |
20.4 (68.7) |
20.4 (68.7) |
19.4 (66.9) |
17.3 (63.1) |
15.1 (59.2) |
15.1 (59.2) |
17.7 (63.9) |
21.6 (70.9) |
23.4 (74.1) |
22.4 (72.3) |
21.0 (69.8) |
19.5 (67.2) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 16.3 (61.3) |
16.1 (61.0) |
15.4 (59.7) |
13.5 (56.3) |
10.7 (51.3) |
8.5 (47.3) |
8.2 (46.8) |
10.4 (50.7) |
14.2 (57.6) |
16.2 (61.2) |
16.6 (61.9) |
16.5 (61.7) |
13.6 (56.4) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 245.4 (9.66) |
185.9 (7.32) |
95.0 (3.74) |
19.3 (0.76) |
3.3 (0.13) |
0.0 (0.0) |
0.1 (0.00) |
0.4 (0.02) |
1.7 (0.07) |
18.3 (0.72) |
89.3 (3.52) |
208.1 (8.19) |
866.8 (34.13) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 18 | 15 | 10 | 3 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 2 | 8 | 16 | 72 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 82 | 83 | 78 | 71 | 66 | 61 | 58 | 52 | 46 | 47 | 62 | 78 | 65 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 176.7 | 168.0 | 220.1 | 246.0 | 275.9 | 270.0 | 294.5 | 303.8 | 291.0 | 272.8 | 222.0 | 176.7 | 2.917,5 |
| Nguồn: WMO[8] | |||||||||||||
Biểu đồ Khí hậu tại Lusaka
| Lusaka | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Biểu đồ khí hậu (giải thích) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thủy văn
Mạng lưới thủy văn của Zambia vô cùng dày dặn và giàu tiềm năng điện năng, được phân chia thành hai lưu vực đại dương lớn thông qua dải phân thủy chạy dọc dải Copperbelt và dãy đồi miền trung:[2]
Lưu vực sông Zambezi
Chiếm hơn 75% tổng diện tích đất nước, đây là lưu vực thủy văn cốt lõi định hình nên tên gọi của quốc gia này:[9]
- Sông Zambezi: Dòng sông vĩ đại thứ tư của châu Phi, bắt nguồn từ một đầm lầy nông ở phía tây bắc Zambia. Sông chảy qua Angola rồi quay trở lại Zambia, lượn sóng uốn khúc dọc theo toàn bộ sườn biên giới phía nam giáp với Namibia, Botswana và Zimbabwe trước khi đổ sang Mozambique. Tại đoạn biên giới gần thành phố Livingstone, dòng sông trút xuống vách đá dựng đứng sâu 108 mét, tạo nên Thác Victoria (Mosi-oa-Tunya) — một trong những thác nước kỳ vĩ và lớn nhất hành tinh, được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.[9] Trên dòng sông này, hai đập thủy điện khổng lồ là đập Kariba (tạo nên Hồ Kariba nhân tạo lớn nhất thế giới tính theo dung tích nước) và đập Itezhi-Tezhi trên sông Kafue là nguồn cung cấp điện năng sống còn cho cả vùng Nam Phi.[2]
- Sông Kafue và Sông Luangwa: Là hai phụ lưu nội địa khổng lồ chảy hoàn toàn trong lòng Zambia, bồi đắp nên các đồng bằng phù sa ngập nước trù phú nuôi dưỡng các hệ sinh thái và nông nghiệp của đất nước.[1]
[[File:Cataratas Victoria, Zambia-Zimbabue, 2018-07-27, DD 30-34 PAN.jpg |nhỏ|phải|Quang cảnh Thác Victoria hùng vĩ nhìn từ sườn bờ bờ phía thuộc chủ quyền của Zambia vào mùa nước lớn.]]
Lưu vực sông Congo
Chiếm phần diện tích phía bắc của đất nước:
- Sông Chambeshi và Sông Luapula: Sông Chambeshi bắt nguồn từ vùng núi phía đông bắc, chảy đổ nước vào hệ thống đầm lầy hồ Bangweulu. Dòng thoát ra khỏi đầm lầy đổi tên thành sông Luapula, chảy uốn khúc dọc theo biên giới giáp với Cộng hòa Dân chủ Congo đổ vào Hồ Mweru. Hệ thống thủy văn này chính là một trong những nguồn thượng nguồn xa xôi nhất nuôi dưỡng dòng Sông Congo vĩ đại.[2]
Tài nguyên thiên nhiên
Zambia là một trong những quốc gia giàu tài nguyên khoáng sản phi sinh học hàng đầu lục địa châu Phi:[3]
- Ngành khai khoáng chiến lược: Đất nước nắm giữ trữ lượng quặng đồng và cobalt trầm tích thuộc hàng lớn nhất thế giới, tập trung tại tỉnh Copperbelt và tỉnh Tây Bắc. Ngoài ra, lòng đất còn dồi dào các vỉa ngọc lục bảo chất lượng cao quanh Lufwanyama, quặng chì, kẽm, vàng và than đá.[3]
- Sử dụng đất (Ước tính năm 2018):
- Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 31,7%
- Đất trồng trọt hàng năm: 5,4%
- Cây trồng lâu năm: 0,1%
- Đồng cỏ lâu năm dành cho chăn nuôi mục súc: 26,2%
- Diện tích rừng và thảm che phủ xanh tự nhiên: 61,0% (bị thống trị bởi hệ sinh thái rừng thưa khô Miombo và rừng gỗ quý Mopane).
- Khác (Diện tích đô thị, đầm lầy hồ chứa): 7,3%
- Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 31,7%
- Đất có hệ thống tưới tiêu: 1.560 km² (602 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[3]
Các vấn đề môi trường
Zambia hiện đang đối mặt với các thách thức sinh thái nghiêm trọng, bị thúc đẩy bởi tốc độ đô thị hóa và khai thác mỏ bừa bãi không bền vững:[3]
- Nạn phá rừng ở mức nghiêm trọng: Mỗi năm đất nước sụt giảm diện tích rừng rất lớn do phương thức canh tác phát nương làm rẫy truyền thống (chitemene) và việc chặt cây rừng bừa bãi để sản xuất than củi sinh hoạt cho các đô thị lớn nghèo hạ tầng.[1]
- Ô nhiễm hóa chất do khai khoáng: Các hoạt động luyện đồng và xả bã thải thạch cao quặng xung quanh Kitwe, Ndola và Kabwe đang xả lượng kim loại nặng (chì, cadmium) khổng lồ vào hệ thống sông Kafue, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước và khiến Kabwe bị các tổ chức quốc tế xếp vào danh sách các đô thị ô nhiễm nhất hành tinh.[10]
- Khủng hoảng nguồn nước do Biến đổi khí hậu: Các đợt hạn hán kéo dài liên tục do El Niño làm sụt giảm nghiêm trọng mực nước hồ chứa đập Kariba, gây ra tình trạng mất điện diện rộng, làm suy sụp kinh tế và đẩy các quần thể động vật hoang dã vào thảm cảnh khát nước.[2]
Các điểm cực địa lý
Dưới đây là bốn điểm cực địa lý vươn xa nhất của lãnh thổ Cộng hòa Zambia:
- Cực Bắc: Mũi đất nhô ra bờ phía nam của Hồ Tanganyika tiếp giáp với Tanzania, thuộc tỉnh phía Bắc.
- Cực Nam: Khúc uốn cực nam của dòng Sông Zambezi trên đường biên giới với Zimbabwe, nằm ở phía nam thị trấn Kongola, thuộc tỉnh phía Nam.
- Cực Đông: Điểm ranh giới ba bên giáp với Malawi và Mozambique, nằm ở phía đông thị trấn Vubwi, thuộc tỉnh phía Đông.
- Cực Tây: Đoạn biên giới thẳng đứng kéo dài chạy dọc giáp với Angola, nằm ở phía tây thị trấn Shangombo, thuộc tỉnh phía Tây.
Thư viện ảnh
-
Đàn linh dương lechwe đen (Kobus leche smithemani) chạy nhảy trên đầm lầy ngập nước Bangweulu.
-
Bức tường bê tông vòng cung vĩ đại của đập thủy điện Kariba trên sông Zambezi.
-
Hoàng hôn trên dòng sông Luangwa.
-
Sọ trâu rừng châu Phi bị phong hóa trên thảo nguyên, Khu bảo tồn Upper Lupande, Zambia.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b c d e Brelsford, W. V. (1965). The Tribes of Zambia. Lusaka: Government Printer.
- ^ a b c d e f g h i j k l "Zambia - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ^ a b c d e f g h i "Zambia - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ^ Prasad, R. (1994). "Geomorphology and tectonics of the Mafinga Hills, Zambia". Journal of African Earth Sciences. Quyển 18 số 2. tr. 105–118.
- ^ Phillipson, D. W. (1975). Mosi-oa-Tunya: A Handbook to the Victoria Falls Region. London: Longman.
- ^ a b c Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
- ^ Sultan, B. (2003). "The Southern African monsoon dynamics and rainfall variability over Zambia". Journal of Climate. Quyển 16. tr. 3389–3406.
- ^ "World Weather Information Service – Lusaka". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ^ a b Phillipson, D. W. (1975). Mosi-oa-Tunya: A Handbook to the Victoria Falls Region. London: Longman.
- ^ UNEP (2015). "Environmental Performance Review: Zambia" (Tài liệu). United Nations Environment Programme.
Liên kết ngoài
- Bản đồ địa hình và dữ liệu trắc địa toàn diện về đất nước Zambia Lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine trên CIA World Factbook.