Địa lý Zimbabwe
Địa lý Zimbabwe mô tả các đặc điểm tự nhiên, địa hình, địa chất cấu trúc, mạng lưới thủy văn và hệ sinh thái đặc trưng của Zimbabwe (tên gọi chính thức là Cộng hòa Zimbabwe), một quốc gia hoàn toàn nằm trong nội địa (quốc gia nội lục) tại khu vực phía nam của lục địa Châu Phi.[1] Tọa lạc trên một vùng cao nguyên nội địa tương đối cao ráo giữa hai thung lũng sông vĩ đại là Sông Zambezi ở phía bắc và Sông Limpopo ở phía nam, Zimbabwe sở hữu một dải cảnh quan sinh thái phong phú, chuyển tiếp từ các rừng thưa nhiệt đới ẩm đến dải bán khô hạn thảo nguyên bụi gai hoang sơ.[2]
| Vùng | Nam Phi |
|---|---|
| Tọa độ | 20°00′N 30°00′Đ / 20°N 30°Đ |
| Diện tích | |
| • Đất | 99.00% |
| • Nước | 1.00% |
| Biên giới | Tổng cộng: 3.229 km (2.006 dặm) Nam Phi: 230 km (143 dặm) Botswana: 831 km (516 dặm) Zambia: 763 km (474 dặm) Mozambique: 1.405 km (873 dặm) |
| Điểm cao nhất | Núi Nyangani (Mont Nyangani), 2.592 m (8.504 ft) |
| Điểm thấp nhất | Ngã ba Sông Runde và Sông Save, 162 m (531 ft) |
| Sông dài nhất | Sông Zambezi, 2.574 km (1.599 dặm) (tổng chiều dài hệ thống) |
| Hồ lớn nhất | Hồ Kariba (Hồ nhân tạo chung với Zambia) |
| Địa hình | Phần lớn là một vùng cao nguyên trung tâm lượn sóng (Highveld), thoải dần về hai phía bắc và nam thành vùng đồi thấp trung bình (Middleveld) và các thung lũng sông phẳng (Lowveld); rìa phía đông nâng cao đột ngột thành dải núi dốc hiểm trở và thung lũng sâu. |
Zimbabwe sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 390.757 kilômét vuông (khoảng 150.872 dặm vuông), xếp thứ 61 trên thế giới.[3] Trong cơ cấu trắc địa của đất nước, diện tích đất liền chiếm khoảng 386.847 kilômét vuông (phần trăm đất chiếm 99,00%) và diện tích mặt nước chiếm khoảng 3.910 kilômét vuông (1,00%), phần lớn cấu thành từ bề mặt của hồ nhân tạo khổng lồ Kariba.[3] Mặc dù không giáp biển, Zimbabwe có chung đường biên giới đất liền dài tổng cộng 3.229 kilômét (2.006 dặm) tiếp giáp chiến lược với bốn quốc gia: Mozambique ở phía đông và đông bắc (1.405 km), Botswana ở phía tây và tây nam (831 km), Zambia ở phía bắc (763 km) và Nam Phi ở phía nam qua dòng sông Limpopo (230 km).[3]
Về mặt cấu trúc hình thái, địa hình Zimbabwe được phân chia một cách bách khoa dựa trên độ cao vĩ mô so với mực nước biển, tạo nên các vành đai kinh tế và dân cư rõ rệt từ vùng trung tâm thoải dần ra các dải biên giới sụt trũng.[4] Thủ đô kiêm thành phố phát triển lớn nhất nước là Harare, tọa lạc sừng sững trên vùng cao nguyên Highveld trù phú ở phía đông bắc.[1]
Các khu vực địa hình
Địa hình của Zimbabwe được chia tách một cách tự nhiên thành bốn vùng độ cao cốt lõi, chạy dài theo trục đông bắc - tây nam của đất nước:[2]
Vùng Cao nguyên cao
Đây là xương sống địa lý của Zimbabwe, chiếm khoảng 25% tổng diện tích đất nước. Vùng Highveld là một dải cao nguyên rộng lớn dài khoảng 400 dặm (640 km) và rộng 50 dặm (80 km), chạy dọc trung tâm từ tây nam lên đông bắc, với độ cao dao động từ 1.200 đến 1.500 mét so với mực nước biển.[4] Địa hình vùng này mang đặc trưng của dải đồi lượn sóng thoai thoải, dồi dào các khối đá móng granite tròn trịa bị phong hóa mài mòn (kopjes). Do có khí hậu mát mẻ và lượng mưa dồi dào nhất, đây là vùng tập trung các đô thị lớn như Harare, Bulawayo và là trung tâm nông nghiệp thương mại trù phú nhất đất nước.[1]
Vùng Cao nguyên trung bình
Nằm bao bọc ở hai sườn sườn của vùng Highveld, có độ cao trung bình dao động từ 900 đến 1.200 mét và chiếm khoảng 40% diện tích đất nước.[2] Địa hình vùng Middleveld trập trùng đồi núi thấp và bị cắt xẻ sâu sắc bởi các hệ thống thung lũng sông cổ. Thảm thực vật ở đây bị thống trị bởi các dải rừng thưa Miombo hoang sơ, chủ yếu được khai thác để chăn thả gia súc mục súc và canh tác nông nghiệp quy mô gia đình.[4]
Vùng Đồng bằng thấp
Chiếm khoảng 30% diện tích lãnh thổ, bao gồm hai lưu vực trũng sụt phẳng nằm ở rìa phía bắc (lưu vực sông Zambezi) và phía nam (lưu vực sông Limpopo và sông Save), với độ cao hạ thấp hẳn xuống dưới 900 mét. Vùng Lowveld mang khí hậu nóng bức và bán khô hạn đặc trưng, thảm thực vật chủ yếu là cây bụi gai và cây bao báp (baobab).[2] Tại ngã ba sông Runde và sông Save ở góc đông nam, địa hình hạ xuống điểm thấp nhất đất nước, đạt độ cao vỏn vẹn 162 mét (531 ft) so với mực nước biển.[3]
Dãy núi phía Đông
Chạy dọc theo đường ranh giới tự nhiên hiểm trở với Mozambique. Đây là vùng đất cao và dốc nhất đất nước, cấu thành từ các rặng núi đá vôi kiên cố như dãy Inyangani và dãy Chimanimani, với độ cao thường xuyên vượt ngưỡng 2.000 mét.[5] Tại đây vươn lên đỉnh Núi Nyangani sừng sững vươn lên độ cao 2.592 mét (8.504 ft) so với mực nước biển, trở thành điểm cao nhất của đất nước Zimbabwe.[3] Cảnh quan vùng này rực rỡ với các thác nước trút dốc, thung lũng sâu rậm rạp sương mù che phủ quanh năm.[2]
Địa chất
Nền tảng địa chất của Zimbabwe vô cùng cổ xưa và giàu có về tài nguyên khoáng sản phi sinh học, gắn liền với khiên lục địa Craton Zimbabwe (Tiền Cambri):[6]
- Dải mạch đá Đại Bản Lề (Great Dyke): Đây là một trong những cấu trúc địa chất kỳ vĩ nhất hành tinh, là một dải mạch đá macma xâm nhập siêu mafic dài tới 340 dặm (khoảng 550 km) và rộng 7 dặm (11 km) chạy dọc cắt thẳng qua tâm vùng Highveld.[7] Great Dyke là vựa lưu trữ quặng crom và các kim loại nhóm platinum (bạch kim) trữ lượng khổng lồ hàng đầu thế giới, bên cùng quặng nickel và đồng trầm tích.
Hệ thổ nhưỡng phân hóa sâu sắc bách khoa tương ứng với địa hình nâng cao:[2]
- Đất Đỏ Laterit phì nhiêu (Fersiallitic soils): Bao phủ phần lớn vùng Highveld trù phú. Đất hình thành từ đá granite và bazan phong hóa, giàu oxit sắt, có độ phì nhiêu cao và thoát nước tốt, rất lý tưởng cho trồng trọt thâm canh cây thuốc lá, ngô và bông bông vải.[4]
- Đất cát pha và Đất xám hoang mạc (Vertisols): Chiếm các lưu vực vùng Lowveld phía nam, đất nghèo dinh dưỡng, chứa hàm lượng muối cao và dễ bị tổn thương xói mòn mạnh mẽ khi mùa khô hạn kéo dài.[2]
Khí hậu
Mặc dù nằm hoàn toàn trong vành đai nội chí tuyến nhiệt đới của Nam Bán cầu, Zimbabwe lại sở hữu một nền khí hậu nhiệt đới xavan tương đối ôn hòa và dễ chịu quanh năm. Điều này có được là nhờ cao nguyên trung tâm Highveld đã nâng cao địa hình trung bình của đất nước lên trên 1.200 mét, làm dịu đi đáng kể cái nóng oi bức đặc trưng của miền cận xích đạo.[8]
Chu kỳ bốn mùa khí hậu
Khí hậu nước này phân hóa thành bốn mùa rõ rệt chịu chi phối bởi sự dịch chuyển của Đới hội tụ liên nhiệt đới (ITCZ):[8]
- Mùa mưa nóng ẩm (Tháng 11 đến tháng 3 năm sau): Khối không khí ẩm từ Ấn Độ Dương tràn về mang theo những trận mưa giông dồi dào, chiếm hơn 90% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa phân hóa mạnh theo địa hình: vùng núi phía Đông Highlands nhận trên 1.500 mm, thủ đô Harare nhận khoảng 850 mm, trong khi vùng Lowveld phía nam khô hạn chỉ nhận dưới 400 mm/năm.[9]
- Mùa hậu mưa chuyển tiếp (Tháng 4 đến tháng 5): Mưa giảm dần, thời tiết mát mẻ và bầu trời quang đãng.
- Mùa khô mát (Tháng 6 đến tháng 8): Gió tín phong đông nam lạnh và khô từ Nam Cực thổi về khiến nhiệt độ ban đêm hạ sụt mạnh. Trên các đỉnh đồi Highveld, nhiệt độ ban đêm có thể xuống dưới 5 °C (41 °F), thỉnh thoảng xuất hiện sương muối nông.[8]
- Mùa khô nóng (Tháng 9 đến tháng 10): Góc chiếu mặt trời tăng cao trước mùa mưa khiến bầu không khí khô khốc và ngột ngạt. Nhiệt độ ban ngày ở các thung lũng sụt Lowveld thường xuyên vượt ngưỡng 40 °C (104 °F).[2]
Bảng dữ liệu Khí hậu tại thủ đô Harare
Thủ đô Harare tọa lạc sừng sững trên vùng cao nguyên Highveld trù phú ở phía đông bắc với độ cao 1.490 mét, mang kiểu khí hậu cận nhiệt đới cao nguyên (Cwb theo Phân loại khí hậu Köppen) quanh năm mát mẻ như mùa xuân.
Bảng dữ liệu Khí hậu tại Harare (Weather box)
| Dữ liệu khí hậu của Harare (1961–1990) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 26.3 (79.3) |
25.8 (78.4) |
26.2 (79.2) |
26.0 (78.8) |
24.3 (75.7) |
21.8 (71.2) |
21.6 (70.9) |
24.1 (75.4) |
28.4 (83.1) |
28.8 (83.8) |
27.3 (81.1) |
26.3 (79.3) |
25.6 (78.0) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 21.0 (69.8) |
20.7 (69.3) |
20.3 (68.5) |
19.4 (66.9) |
17.1 (62.8) |
14.8 (58.6) |
14.3 (57.7) |
16.6 (61.9) |
20.7 (69.3) |
22.1 (71.8) |
21.5 (70.7) |
21.1 (70.0) |
19.1 (66.4) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 15.8 (60.4) |
15.6 (60.1) |
14.5 (58.1) |
12.7 (54.9) |
9.9 (49.8) |
7.8 (46.0) |
7.0 (44.6) |
9.1 (48.4) |
12.9 (55.2) |
15.4 (59.7) |
15.7 (60.3) |
15.8 (60.4) |
12.7 (54.8) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 190.8 (7.51) |
176.3 (6.94) |
99.1 (3.90) |
37.2 (1.46) |
7.4 (0.29) |
1.8 (0.07) |
1.5 (0.06) |
2.9 (0.11) |
6.5 (0.26) |
40.4 (1.59) |
97.3 (3.83) |
174.7 (6.88) |
835.9 (32.9) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 17 | 14 | 10 | 4 | 2 | 1 | 1 | 1 | 2 | 5 | 10 | 16 | 83 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 76 | 77 | 72 | 67 | 62 | 60 | 56 | 50 | 45 | 48 | 61 | 73 | 62 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 176.7 | 170.8 | 220.1 | 237.0 | 248.0 | 252.0 | 279.0 | 300.7 | 294.0 | 285.2 | 201.0 | 170.5 | 2.835 |
| Nguồn: WMO[10] | |||||||||||||
Biểu đồ Khí hậu tại Harare
| Harare | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Biểu đồ khí hậu (giải thích) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thủy văn
Mạng lưới thủy văn của Zimbabwe được chia tách hoàn toàn thành hai lưu vực đại dương lớn bởi sống núi cao nguyên trung tâm Highveld hoạt động như một dải phân thủy tự nhiên vĩ đại:[2]
Lưu vực phía Bắc (Hệ thống Sông Zambezi)
- Sông Zambezi: Dòng sông ranh giới tự nhiên khổng lồ ở phía bắc chia tách Zimbabwe và Zambia. Tại vùng biên giới phía tây bắc, sông trút xuống khe nứt đá sâu tạo thành Thác Victoria kỳ vĩ trước khi đổ dòng chảy vào Hồ Kariba — hồ nhân tạo vĩ đại dài hơn 140 dặm (khoảng 220 km) cung cấp nguồn thủy hải sản khổng lồ và nguồn thủy điện cốt lõi cho cả hai quốc gia thông qua đập Kariba.[11]
- Các phụ lưu lớn chảy từ vùng Highveld đổ vào sông Zambezi bao gồm sông Gwayi, sông Sanyati và sông Manyame.[1]
Lưu vực phía Nam (Hệ thống sông Limpopo và sông Save)
- Sông Limpopo: Đường biên giới tự nhiên ở phía nam phân chia Zimbabwe và Nam Phi, chảy qua vùng đất thấp Lowveld khô cằn gồ ghề đổ dòng ra bờ biển Mozambique.[4]
- Hệ thống Sông Save và Sông Runde: Chảy qua vùng đất đỏ đông nam. Ngã ba sông Save và Runde là vùng đất sụt trũng nông phì nhiêu, là nơi có độ cao thấp nhất đất nước.[2]
Tài nguyên thiên nhiên
Lòng đất và thảm xanh của đất nước Zimbabwe sở hữu nguồn lâm thổ sản phong phú chiến lược của Nam Phi:[3]
- Khai khoáng xuất khẩu: Ngoài quặng sắt và bạch kim, đất nước nắm giữ trữ lượng lithium trầm tích lớn nhất châu Phi tại mỏ Bikita, mở ra tiềm năng kinh tế năng lượng xanh khổng lồ. Đất nước cũng khai thác thâm canh các mỏ nickel, thiếc và vàng cổ.[3]
- Sử dụng đất (Ước tính năm 2018):
- Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 42,5%
- Đất thâm canh trồng trọt hàng năm: 10,9%
- Cây trồng lâu năm: 0,3%
- Đồng cỏ lâu năm dành cho chăn nuôi mục súc: 31,3%
- Diện tích rừng và thảm phủ xanh tự nhiên: 39,5% (bị thống trị bởi thảm thực vật rừng thưa khô Savannah và cây gỗ quý Mopane chịu hạn).
- Khác (Diện tích đô thị, lòng hồ chứa): 18,0%
- Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 42,5%
- Đất có hệ thống tưới tiêu trắc địa: 1.740 km² (672 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[3]
Các vấn đề môi trường
Zimbabwe hiện đang đối mặt với các thách thức sinh thái và an sinh môi trường vô cùng phức tạp, bị thúc đẩy nghiêm trọng bởi các biến động kinh tế nông thôn:[3]
- Nạn phá rừng và Suy giảm lớp phủ xanh: Tình trạng thiếu hụt điện năng trầm trọng buộc đại đa số cư dân nông thôn và các khu ổ chuột đô thị phải chặt phá các dải rừng thưa Miombo bừa bãi để lấy củi đốt phục vụ sinh hoạt sấy khô thuốc lá xuất khẩu.[4]
- Xói mòn và Hoang mạc hóa đất đai: Việc thâm canh ngô nghiệp dư quá mức trên các khoảnh đất dốc vùng Middleveld mà không áp dụng các biện pháp bảo tồn cơ giới đang làm suy sụp độ phì nhiêu của lớp đất laterit đỏ, gia tăng tốc độ sa mạc hóa lấn át từ sa mạc Kalahari.[2]
- Ô nhiễm hóa chất mỏ bất hợp pháp: Hoạt động khai thác vàng lậu lộ thiên diễn ra bừa bãi dọc các thung lũng sông đang xả lượng hóa chất độc hại cực lớn như thủy ngân và cyanide trực tiếp vào lưu vực sông Mazowe, làm hủy hoại các quần thể động vật thủy sinh và birds hoang dã.[12]
Các điểm cực địa lý
Dưới đây là bốn điểm cực địa lý vươn xa nhất của lãnh thổ Cộng hòa Zimbabwe:
- Cực Bắc: Kanyemba — điểm biên giới ba bên giáp với Zambia và Mozambique trên dòng sông Zambezi, thuộc tỉnh Mashonaland Central.
- Cực Nam: Điểm biên giới ba bên giáp với Nam Phi và Mozambique tại ngã ba sông Limpopo, thuộc tỉnh Masvingo.
- Cực Đông: Đoạn biên giới chạy dọc sườn núi Highlands gần thị trấn Mutare giáp với Mozambique, thuộc tỉnh Manicaland.
- Cực Tây: Điểm ranh giới bốn bên độc nhất vô nhị trên thế giới (gần Kazungula) tiếp giáp với Botswana, Namibia và Zambia trên sông Zambezi, thuộc tỉnh Matabeleland North.
Thư viện ảnh
-
Quần thể Voi vây quanh một hố nước lớn vào mùa khô mát tại Vườn quốc gia Hwange lớn nhất nước.
-
Bề mặt mênh mông của lòng hồ chứa nhân tạo khổng lồ Kariba nhìn từ sườn núi.
-
Nhà nghỉ Pamushana ở Zimbabwe.
-
Cây bao sáp khổng lồ tại tỉnh Manicaland, Zimbabwe.
-
Cảnh quan các tòa nhà văn phòng cao tầng hiện đại của thủ đô Harare.
-
Khí hậu và thời tiết gần Kariba ở Zimbabwe.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b c d Beach, D. N. (1980). The Shona and Zimbabwe 900–1850. London: Heinemann. ISBN 978-0435945053.
- ^ a b c d e f g h i j k "Zimbabwe - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ^ a b c d e f g h i "Zimbabwe - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ^ a b c d e f Lang, George (1995). A Regional Geography of Southern Africa. Cape Town: Oxford University Press.
- ^ Stagman, J. G. (1978). "An outline of the geology of Rhodesia". Rhodesia Geological Survey Bulletin. Quyển 80. tr. 23–56.
- ^ Stagman, J. G. (1978). "An outline of the geology of Rhodesia". Rhodesia Geological Survey Bulletin. Quyển 80. tr. 23–56.
- ^ Wilson, A. H. (1982). "The geology of the Great Dyke, Zimbabwe: instructions from an extended field study". Journal of Petrology. Quyển 23 số 2. tr. 240–292. doi:10.1093/petrology/23.2.240.
- ^ a b c Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
- ^ Sultan, B. (2003). "The Southern African monsoon dynamics and rainfall variability over Zimbabwe". Journal of Climate. Quyển 16. tr. 3389–3406.
- ^ "World Weather Information Service – Harare". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ^ Phillipson, D. W. (1975). Mosi-oa-Tunya: A Handbook to the Victoria Falls Region. London: Longman.
- ^ UNEP (2016). "Zambezi River Basin: Environmental Performance Review" (Tài liệu). United Nations Environment Programme.
Liên kết ngoài
- Bản đồ địa hình và dữ liệu trắc địa toàn diện bách khoa về quốc gia Zimbabwe Lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine trên CIA World Factbook.