Định cư
Định cư (tiếng Anh: sessility) hay còn gọi là bám đáy,[1] một đặc tính của một số động vật thiếu hoặc không có khả năng tự di chuyển. Động vật định cư không có khả năng vận động tự nhiên và bất động trừ khi có lực tác động từ bên ngoài (chẳng hạn như dòng nước). Thông thường, động vật định cư được gắn cố định vào một vật thể rắn, chẳng hạn như đá, thân cây chết hoặc vật thể do con người tạo ra như phao hoặc thân tàu.[2] Các sinh vật như san hô tạo ra chất nền riêng của chúng để từ đó chúng phát triển.
Thuật ngữ "sessility" trong tiếng Anh còn có nghĩa là không cuống trong thực vật học, vốn đề cập đến một cấu trúc sinh học gắn trực tiếp vào đất hoặc cơ quan khác bằng phần gốc mà không có cuống.
Khả năng di chuyển
Các loài động vật sống cố định thường có giai đoạn di chuyển trong giai đoạn ấu trùng. Thân lỗ có giai đoạn ấu trùng di chuyển và biến đổi để sống cố định khi trưởng thành. Ngược lại, nhiều loài sứa phát triển thành các polyp sống cố định ở giai đoạn đầu của vòng đời. Trong trường hợp của rệp son, chính ở giai đoạn ấu trùng mà chúng có thể phát tán. Ấu trùng di chuyển đến nơi kiếm ăn (cơ quan của thực vật, ví dụ như thân cây xương rồng) và tạo ra các sợi sáp dài. Sau đó, chúng di chuyển đến rìa của phiến xương rồng, nơi gió cuốn các sợi sáp và mang những ấu trùng nhỏ đến vật chủ mới.
Sự sinh sản
Nhiều động vật cố định, bao gồm bọt biển, san hô và thủy tức, có khả năng sinh sản vô tính bằng quá trình nảy chồi. Các sinh vật bám đáy như hà và sống đuôi cần một số cơ chế để di chuyển con non của chúng đến môi trường sống mới. Đây là lý do tại sao lý thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất giải thích sự tiến hóa của giai đoạn ấu trùng là nhu cầu về khả năng phát tán cá thể. Nghiên cứu năm 1979 của nhà sinh vật học Wayne Sousa về sự xáo trộn vùng triều đã củng cố thêm lý thuyết về cấu trúc cộng đồng không cân bằng, "cho thấy rằng không gian mở là cần thiết để duy trì sự đa dạng trong hầu hết các cộng đồng sinh vật bám đáy".[3]
Cụm cá thể
Tập hợp thành cụm là một tập tính ở các sinh vật sống cố định, trong đó các cá thể của một loài cụ thể tập hợp lại gần nhau vì những mục đích có lợi, như có thể thấy ở rạn san hô, hà biển và rệp son. Điều này cho phép sinh sản nhanh hơn và tự vệ tốt hơn khỏi kẻ săn mồi.[4]
Phân bố
Vùng cận duyên hải với quần xã sinh vật ven biển phong phú là nơi sinh sống chủ yếu của các sinh vật sống cố định, ví dụ như hàu. Sự tích tụ vỏ ngoài của các sinh vật sống cố định, thường là vi sinh vật, gây ra sự lắng tụ carbonat thông qua quá trình trao đổi chất của chúng, từ đó hình thành các thềm carbonat.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Lê Mạnh Chiến, Lê Thị Hà, Nguyễn Thu Hiền, Trần Anh Kỳ, Nguyễn Hữu Ngọc, Nguyễn Văn Thân, Nguyễn Đức Thịnh, Nguyễn Quang Toàn, Đặng Văn Sử (1997). Từ điển Sinh học Anh - Việt và Việt - Anh [English - Vietnamese and Vietnamese - English Biology Dictionary]. Hà Nội: Nxb Khoa học và Kỹ thuật. tr. 733.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ^ Pechenik, Jan (2016). Biology of the Invertebrates. ISBN 9781497006515.
- ^ Sousa, Wayne P. (1979). "Disturbance in Marine Intertidal Boulder Fields: The Nonequilibrium Maintenance of Species Diversity". Ecology. 60 (6): 1225–1239. doi:10.2307/1936969.
- ^ James H. Thorp; Alan P. Covich (2001). Ecology and Classification of North American Freshwater Invertebrates. Academic Press. tr. 213. ISBN 0-12-690647-5.