Bước tới nội dung

Đồng bằng sông Hồng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Đồng bằng Bắc bộ)
Tập tin:Red River Delta in Vietnam.png
Bản mẫu:Colorbox Đồng Bằng Sông Hồng
Tập tin:Bắc Bộ.jpg
Các tiểu vùng ở Bắc Bộ trước năm 2013, khi Vùng Đồng bằng sông Hồng chưa có tỉnh Quảng Ninh

Đồng bằng sông Hồng là khu vực hạ lưu sông Hồngsông Thái Bình thuộc Bắc Bộ Việt Nam. Đồng bằng sông Hồng sau khi sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025 bao gồm 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hưng YênNinh Bình.[1]

Vùng có diện tích tự nhiên là 23.939 km², chiếm 7,22% diện tích Việt Nam; dân số 24.752,2 ngàn người, chiếm 23,4% dân số Việt Nam; mật độ dân số 1.110 người/km2, cao nhất so với các vùng khác và gấp 3,6 lần so với mật độ trung bình chung của Việt Nam.[2]

Không giống như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có tỉnh Hưng Yên là không có núi, do đó khu vực này thường được gọi là "châu thổ sông Hồng" trong khi các tỉnh vùng ven vùng núi áp đảo như Quảng Ninh, Bắc Ninh.

Vị trí, diện tích

Đồng bằng sông Hồng trải rộng từ phía bắc là 2 góc ở vĩ độ 21°40´B (huyện Bình Liêu cũ, tỉnh Quảng Ninh) và 21°34´B (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc cũ), tới 19°52´B (đảo Cồn Nổi, huyện Kim Sơn cũ, tỉnh Ninh Bình), từ 105°17´Đ (huyện Ba Vì cũ, thành phố Hà Nội) đến 108°04´Đ (mũi Sa Vĩ, thành phố Móng Cái cũ, tỉnh Quảng Ninh). Toàn vùng có diện tích 23 938,5 km², tỷ lệ khoảng 6,4% tổng diện tích cả nước.

Phía bắc và đông bắc giáp Đông Bắc BộTrung Quốc, phía tây và tây bắc giáp Tây Bắc Bộ, phía tây nam giáp vùng Bắc Trung Bộ, phía đông và đông nam là vịnh Bắc Bộ. Đồng bằng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các thềm phù sa cổ 10 - 15m xuống đến các bãi bồi 2 - 4m ở trung tâm rồi các bãi triều hàng ngày còn ngập nước triều.

Hành chính

STT Tên Trung tâm hành chính Diện tích
(km²)[3]
Dân số
( nghìn người)[3]
Mật độ
(người/km²)
Hành chính Biển số xe Mã vùng ĐT
Phường Đặc khu
1 Hà Nội Hoàn Kiếm 3.359,8 8.717,6 2.594 51 75 29–33, 40 24
2 Hải Phòng Thủy Nguyên 3.194,7 4.102,7 1.284 45 67 2 15, 16, 34 225
3 Bắc Ninh Bắc Giang 4.718,6 3.509,2 743 33 66 99, 98 222
4 Hưng Yên Phố Hiến 2.514,8 3.208,5 1.275 11 93 17, 89 221
5 Ninh Bình Hoa Lư 3.942,4 3.818,7 968 32 97 18, 35, 90 229
6 Quảng Ninh Hạ Long 6.208,00 1.396,5 224 30 22 2 14 203
Toàn vùng 23.938,3 24.753,2 1034 202 420 4

Đặc điểm tên gọi

Các nhà nghiên cứu như Giáo sư Trần Quốc Vượng gọi vùng này là châu thổ Bắc bộ mà không gọi đồng bằng sông Hồng vì lý do:[4]

Địa chất

Toàn bộ miền đồng bằng sông Hồng nằm trên một lớp đá kết tinh cổ, loại nền đá ở vùng Đông Bắc. Cách đây 200 triệu năm, vào cuối đại Cổ sinh, lớp đá này bị sụt xuống. Vào thời đó, biển lên đến quá Việt Trì ngày nay, tiến sát các vùng đồi Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Nho Quan. Cửa sông Hồng lúc đó ở Việt Trì. Chế độ biển kéo dài trên 170 triệu năm. Các trầm tích Neogen lắng xuống làm cho vịnh biển thu hẹp lại. Lớp trầm tích này có nơi dày đến 3000 mét. Trên cùng là lớp phù sa Holocen dày từ 80 đến 100 mét ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, và càng xa trung tâm thì càng mỏng dần.

Trong đồng bằng sông Hồng có nhiều ô trũng tự nhiên, điển hình là ô trũng Hà Nam Ninh, ô trũng Hải Hưng và ô trũng Nho Quan. Ngoài ra còn có rất nhiều đầm lầy. Trầm tích và phù sa do các sông vận chuyển ra khỏi lòng sông mỗi mùa lũ đã không lấp được các ô trũng và đầm lầy này do chúng quá xa sông hoặc do bị đê điều nhân tạo ngăn cản. Việc các sông đổi dòng cũng tạo ra nhưng đầm lầy và ao hồ.

Dân số

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 17.078.400
1996 17.289.800
1997 17.494.800
1998 17.692.900
1999 17.877.800
2000 18.060.700
2001 18.249.900
2002 18.432.900
2003 18.617.500
2004 18.807.900
2005 18.976.700
2006 19.108.900
2007 19.228.800
2008 19.473.700
2009 19.618.100
2010 19.803.300
2011 19.999.300
2016 21.237.416
Nguồn:[6]

Dân số khu vực Đồng bằng sông Hồng năm 2021 là 21.848.913 người, chiếm khoảng 22,3% tổng dân số cả nước,[7] với bình quân khoảng 1.450 người/km2. Đây là vùng có mật độ dân số cao nhất cả nước.Đa số dân số là người Kinh, một bộ phận nhỏ thuộc Ba Vì (Hà Nội) và Nho Quan (Ninh Bình) có thêm dân tộc Mường.

  • Dân cư đông nên có lợi thế: Có nguồn lao động dồi dào, nguồn lao động này có nhiều kinh nghiệm và truyền thống trong sản xuất, chất lượng lao động cao. Tạo ra thị trường có sức mua lớn.
  • Tuy nhiên lại gây sức ép lớn cho tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm, xuất hiện nhiều vấn đề về chỗ ở, việc làm, tỉ lệ phạm luật và tệ nạn xã hội cao.
  • Chính sách: có sự đầu tư nhiều của Nhà nước và nước ngoài.
  • Có lịch sử khai phá lâu đời, là nơi tập trung nhiều di tích, lễ hội, làng nghề truyền thống... với 2 trung tâm kinh tế xã hội là Hà Nội và Hải Phòng.

Quân sự

Vùng đồng bằng sông Hồng có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, thủ đô Hà Nội do Bộ tư lệnh Thủ đô bảo vệ, tỉnh Bắc Ninh do Quân khu 1, các tỉnh còn lại thuộc Quân khu 3 bảo vệ.

Quân đoàn 12, được thành lập ngày 21 tháng 12 năm 2023, đóng tại Tam Điệp, Ninh Bình là một trong 2 quân đoàn chủ lực ở Việt Nam.

Tài nguyên thiên nhiên

  • Diện tích đất nông nghiệp khoảng 760.000 ha, trong đó 100% là đất phù sa màu mỡ, có giá trị lớn về sản xuất nông nghiệp. Đất nông nghiệp chiếm 51,2% diện tích vùng.
  • Khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có mùa hè nóng ẩm nhưng mùa đông phi nhiệt đới lạnh và khô, làm cho cơ cấu cây trồng đa dạng. Tài nguyên khí hậu và thủy văn thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp. Thời tiết mùa đông rất phù hợp cho các cây trồng ưa lạnh.
  • Tài nguyên nước phong phú, có giá trị lớn về kinh tế là hệ thống sông Hồngsông Thái Bình. Ngoài ra còn có nước ngầm, nước nóng, nước khoáng.
  • Tài nguyên biển: bờ biển dài khoảng 400 km, vùng biển có tiềm năng lớn để phát triển nhiều ngành kinh tế (đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, giao thông, du lịch,...)
  • Khoáng sản không nhiều, đáng kể nhất là trữ lượng than nâu trữ lượng dự tính là 8,8 tỉ tấn. Khí thiên nhiên được thăm dò và khai thác ở Tiền Hải – Thái Bình. Tuy nhiên, khoáng sản làm vật liệu xây dựng khá phong phú như đá vôi hàng tỉ tấn...

Kinh tế

Cơ sở hạ tầng

Kết cấu hạ tầng phát triển mạnh (giao thông, điện, nước...),

Công nghiệp

Các ngành công nghiệp mà đồng bằng sông Hồng có là: luyện kim, cơ khí, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, nhiệt điện. Các ngành công nghiệp khai thác: khai thác dầu khí, khai thác đá vôi, khai thác cao lanh.

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng mạnh từ 18,3 nghìn tỷ đồng (1995) lên 55,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 21% cả nước.Bản mẫu:Cần dẫn nguồn Những nơi có nhiều ngành công nghiệp tập trung nhất là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh.

Tính đến cuối năm 2009, vùng Đồng bằng sông Hồng có 61 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên trên 13.800 ha, trong đó có 9.400 ha đất công nghiệp có thể cho thuê.[8] So với cả nước, vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 26% về số lượng KCN và 23% về diện tích đất tự nhiên các KCN.

Nông nghiệp

Đồng bằng sông Hồng là khu vực có đất đai trù phú, phù sa màu mỡ. Diện tích và tổng sản lượng lương thực chỉ đứng sau Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng là vùng có trình độ thâm canh cao, lâu đời.

Sản lượng lúa của khu vực tăng từ 44,4 tạ/ha (1995) lên là 58,9 tạ/ha (2008)

Không chỉ có sản lượng lúa tăng mà còn có một số lương thực khác như ngô, khoai tây, cà chua, cây ăn quả... cũng tăng về mặt sản lượng và cả chất lượng. Đem lại hiệu quả cho ngành kinh tế của vùng. Vụ đông trở thành vụ sản xuất chính.[9]

Nuôi lợn, gia cầm cũng là nghề phát triển mạnh của vùng.

Vùng duyên hải Bắc Bộ gồm Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình nằm giáp biển, có nhiều cửa sông lớn đổ ra, thuận lợi phát triển nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.

Dịch vụ

Đồng bằng sông Hồng là vùng có hạ tầng giao thông đồng bộ và thuận lợi, hoạt động vận tải sôi nổi nhất. Có nhiều đường sắt nhất đi qua các nơi khác nhau trong vùng.

Đồng bằng sông Hồng có nhiều địa danh du lịch như Tam Đảo, Hồ Tây, Chùa Hương, chùa Phật Tích, Tam Cốc-Bích Động, Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phố Hiến, Cúc Phương, Tràng An, Chùa Bút Tháp, Chùa Tam Chúc, Cát Bà, Phủ Dầy, Đền Trần, Chùa Keo, Chùa Dâu, Đền Đô, Vườn quốc gia Xuân Thủy, biển Quất Lâm...

Sân bay: sân bay lớn nhất nằm ở Nội Bài (Hà Nội). Cảng: có cảng Hải Phòng lớn nhất nên Hà Nội và Hải Phòng là 2 đầu mối quan trọng. Cảng sông quan trọng là cảng Ninh Phúc và cảng Nam Định.

Ngành bưu chính viễn thông của vùng phát triển mạnh. Hà Nội là trung tâm thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ, đồng thời là nơi tập trung nhiều tổ chức tài chính và ngân hàng lớn nhất Việt Nam.

Khó khăn

  • Địa hình thấp, có nhiều ô trũng, mùa mưa dễ gây ngập lụt kéo dài và cuốn trôi hoa màu.
  • Đất phía trong đê không được bồi đắp thường xuyên và đang dần thoái hóa, rìa đồng bằng đất bạc màu.
  • Phải chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc với những đợt giá rét, khí hậu nhiệt đới ẩm dễ phát sinh dịch bệnh như sốt xuất huyết và khó khăn trong bảo dưỡng máy móc thiết bị sản xuất.
  • Nguồn tài nguyên trong khu vực hạn chế, phần lớn phải nhập khẩu nguyên nhiên liệu từ các vùng khác về.

Các thành phố

Hiện nay, hầu hết các đô thị vốn trước đây là thị xã tỉnh lỵ của một tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng đều đã trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh (ngoại trừ Hà NộiHải Phòng là hai thành phố trực thuộc Trung ương). Trong đó, tỉnh Vĩnh Phúc có hai thành phố là Vĩnh YênPhúc Yên, tỉnh Hải Dương có hai thành phố là Hải DươngChí Linh, tỉnh Bắc Ninh có hai thành phố là Bắc NinhTừ Sơn, tỉnh Ninh Bình có hai thành phố là Hoa LưTam Điệp.

Trong suốt thời kỳ từ đầu năm 1945 cho đến năm 1997, toàn vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có ba thành phố là Hà Nội, Hải PhòngNam Định. Từ năm 1997 đến nay, lần lượt các thị xã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh.

Các thành phố được thành lập đến năm 1975:

  • Hà Nội: thành lập ngày 19 tháng 7 năm 1888 theo Sắc lệnh của Tổng thống Pháp
  • Hải Phòng: thành lập ngày 19 tháng 7 năm 1888 theo Sắc lệnh của Tổng thống Pháp
  • Nam Định: thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1921 theo Sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương.
  • Hải Dương: thành lập ngày 6 tháng 8 năm 1997 theo Nghị định số 88-CP[10]
  • Thái Bình: thành lập ngày 29 tháng 4 năm 2004 theo Nghị định số 117/2004/NĐ-CP[11]
  • Bắc Ninh: thành lập ngày 26 tháng 1 năm 2006 theo Nghị định số 15/2006/NĐ-CP[12]
  • Vĩnh Yên: thành lập ngày 1 tháng 12 năm 2006 theo Nghị định số 146/2006/NĐ-CP[13]
  • Ninh Bình: thành lập ngày 7 tháng 2 năm 2007 theo Nghị định số 19/2007/NĐ-CP[14]
  • Phủ Lý: thành lập ngày 9 tháng 6 năm 2008 theo Nghị định số 72/2008/NĐ-CP[15]
  • Hưng Yên: thành lập ngày 19 tháng 1 năm 2009 theo Nghị định số 04/NĐ-CP[16]
  • Tam Điệp: thành lập ngày 10 tháng 4 năm 2015 theo nghị quyết số 904/NQ-UBTVQH13[17]
  • Phúc Yên: thành lập ngày 7 tháng 2 năm 2018 theo nghị quyết số 484/NQ-UBTVQH14[18]
  • Chí Linh: thành lập ngày 1 tháng 3 năm 2019 theo nghị quyết số 623/NQ-UBTVQH14[19]
  • Từ Sơn: thành lập ngày 1 tháng 11 năm 2021 theo Nghị quyết số 387/NQ-UBTVQH15[20]
  • Thủy Nguyên: thành lập ngày 1 tháng 1 năm 2025 theo Nghị quyết số 1232/NQ-UBTVQH15[21]
  • Hoa Lư: thành lập ngày 1 tháng 1 năm 2025 theo Nghị quyết số 1318/NQ-UBTVQH15[22]

Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2025, vùng đồng bằng sông Hồng có 1 đô thị loại đặc biệt: thành phố Hà Nội (trực thuộc Trung ương); 5 đô thị loại I: thành phố Hải Phòng (trực thuộc Trung ương), thành phố Hoa Lư (thuộc tỉnh Ninh Bình), thành phố Bắc Ninh (thuộc tỉnh Bắc Ninh), thành phố Hải Dương (thuộc tỉnh Hải Dương). Các thành phố là đô thị loại II: thành phố Thái Bình (thuộc tỉnh Thái Bình), thành phố Nam Định (thuộc tỉnh Nam Định), thành phố Vĩnh Yên (thuộc tỉnh Vĩnh Phúc), thành phố Phủ Lý (thuộc tỉnh Hà Nam). Các thành phố còn lại hiện nay đều là các đô thị loại III trực thuộc tỉnh.

Đô thị

Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2025, vùng Đồng bằng sông Hồng có:

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Quyết định số: 368/QĐ-TTg Hà Nội, ngày 04 tháng 5 năm 2024 tiếp tục xác định Quảng Ninh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng
  2. ^ 6 điểm đột phá trong quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng
  3. ^ a ă Thành Chung (ngày 13 tháng 5 năm 2025). "Chi tiết dự kiến quy mô dân số, diện tích, kinh tế của 34 tỉnh, thành sau sáp nhập". Tuổi Trẻ Online. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2025.
  4. ^ "Châu thổ Bắc bộ". Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2015.
  5. ^ trước đây Hưng Yên thuộc tỉnh Hải Hưng nên có dãy núi Côn Sơn
  6. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  7. ^ Dân số ở thời điểm 2011 là 19.999.300 người. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương (2010), Báo cáo Kết quả điều tra suy rộng mẫu Tổng điều tra dân số và nhà ở 01/4/2009.
  8. ^ [1] Lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2010 tại Wayback Machine
  9. ^ [2]
  10. ^ "Nghị định 88/CP". Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  11. ^ "Nghị định 117/2004/NĐ". Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  12. ^ Nghị định 15/2006/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Bắc Ninh thuộc tỉnh Bắc Ninh
  13. ^ Nghị định 146/2006/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Vĩnh Yên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc
  14. ^ Nghị định 19/2007/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Ninh Bình thuộc tỉnh Ninh Bình
  15. ^ Nghị định 72/2008/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Phủ Lý thuộc tỉnh Hà Nam
  16. ^ "Nghị quyết 04/NĐ". Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  17. ^ Nghị quyết só 904/NQ-UBTVQH13 năm 2015 về việc thành lập thành phố Tam Điệp thuộc tỉnh Ninh Bình.
  18. ^ "Nghị quyết 04/NĐ". Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2018.
  19. ^ "Nghị quyết 04/NĐ". Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2019.
  20. ^ "Nghị quyết số 387/NQ-UBTVQH15".
  21. ^ "Nghị quyết số 1232/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2023–2025". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 24 tháng 10 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2024.
  22. ^ "Nghị quyết số 1318/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2023 – 2025". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 10 tháng 12 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2024.

Bản mẫu:Vùng của Việt Nam