Đa Minh Maria Đinh Đức Trụ

Bản mẫu:Thông tin chức sắc Kitô giáo Chi tiết (2023) Bản mẫu:Danh xưng giám mục

Đa Minh Maria Đinh Đức Trụ (15 tháng 10 năm 1909 – 7 tháng 6 năm 1982)[1] là một Giám mục Công giáo Việt Nam. Ông là Giám mục tiên khởi của Giáo phận Thái Bình và cai quản giáo phận này trong suốt 22 năm, từ khi thiết lập giáo phận năm 1960 đến năm 1982.[2]

Ttừ sớm đã đi theo con đường tu trì bằng cách theo học tại các Chủng viện Công giáo khác nhau. Sau 14 năm tu học, ông được phong chức linh mục, và lần lượt đảm nhận các chức vụ khác nhau như quản lý các giáo xứ, giám đốc trường thầy giảng Hưng Yên và giáo sư, linh hướng chủng viện Mỹ Đức.

Từ năm 1954, Đinh Đức Trụ trở thành Giám quản Địa phận Thái Bình. Tòa Thánh chính thức bổ nhiệm ông làm Đại diện Tông Tòa Thái Bình tháng 3 năm 1960 và giám mục Tiên khởi Giáo phận Thái Bình từ tháng 11 cùng năm. Thời kỳ làm giám mục, ông quan tâm đến việc đào tạo giáo sĩ và phong chức cho các linh mục.

Tu tập

Giám mục Đa Minh Đinh Đức Trụ sinh tại thôn Phú Nhai, xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định[3] (nay là xã Xuân Hưng, tỉnh Ninh Bình) thuộc giáo xứ Phú Nhai, giáo phận Bùi Chu. Nguồn tin từ Giáo phận Thái Bình ghi nhận ngày sinh của ông là 15 tháng 10 năm 1909,[4] trong khi nguồn sách của Lê Ngọc Bích ghi nhận năm sinh 1908.[3] Phú Nhai cũng là giáo xứ nhà của giám mục Giuse Maria Đinh Bỉnh, sau là giám mục kế vị của Giám mục Trụ,[5] và là xứ nhà của ba giám mục khác, gồm các giám mục Đa Minh Hoàng Văn Đoàn, Đa Minh Maria Lê Hữu CungĐa Minh Nguyễn Chu Trinh.[6]

Năm 16 tuổi, cậu bé Trụ được gia đình cho nhập học tại Tiểu chủng viện Ninh Cường và học tiếng Latinh tại đây. Để tiếp nối công việc tu học, mùa thu năm 1931, cậu tiếp tục theo học phân môn Triết học tại Đại chủng viện thánh Alberto Nam Định. Sau khi học xong Triết, năm 1933, chủng sinh Đinh Đức Trụ được cho đi thực tập tại Đông Chú và Đồng Lạc thuộc xứ Đồng Quan. Năm 1934, chủng sinh Trụ trở lại Đại chủng viện tiếp tục học phân môn Thần học trong vòng bốn năm sau đó.[7]

Thời kỳ linh mục

Sau quá trình tu học lâu dài, chủng sinh Đinh Đức Trụ được thụ phong linh mục ngày 23 tháng 5[gc 1] năm 1938, bởi Giám mục Juan Casado Obispo Thuận O.P. tại Nhà thờ chính tòa Thái Bình. Sau khi được truyền chức linh mục, tân linh mục Đa Minh được bổ nhiệm làm phó xứ Vĩnh Phúc cho đến năm 1939, đổi thành phó xứ Thái Bình. Trong thời gian từ năm 1940 đến năm 1942, ông là Phó xứ Cao Xá, trước khi đảm trách giáo vụ Phó xứ Lực Điền từ năm 1942 đến năm 1943. Sau thời gian làm phó xứ, linh mục Đa Minh Trụ được bổ nhiệm chức linh mục chính xứ Võng Phan, và đảm nhận chức vụ này cho đến năm 1945.[8]

Năm 1945, linh mục Đa Minh Đinh Đức Trụ được bổ nhiệm làm Giám đốc Trường Thầy giảng Hưng Yên,[9] và đến năm 1948 được thuyên chuyển làm Giáo sư văn học tiếng Latinh, kiêm Linh hướng Tiểu chủng viện Mỹ Đức.[10] Sau hai năm, năm 1950, linh mục Trụ được bổ nhiệm giữ chức chính xứ Giáo xứ Nguyệt Lãng. Ngày 30 tháng 6 năm 1954, Giám mục Đại diện Tông Tòa Thái Bình Santos Ubierna Ninh O.P. bổ nhiệm ông làm linh mục Tổng quản Hạt Đại diện Tông Tòa Thái Bình (quen gọi là Địa phận Thái Bình).[9]

Năm 1954, ông bắt đầu nhiệm vụ của linh mục Giám quản Hạt đại diện Tông Tòa Thái Bình.[7] Trong giai đaọn đầu làm Tổng quản Địa phận và sinh sống tại giáo xứ Nguyệt Lãng, một thế lực nhân danh Công giáo chiếm quyền kiểm soát Tòa giám mục Thái Bình, thu giữ rượu lễ Tây Ban Nha để rao bán. Linh mục Đinh Đức Trụ đã đứng ra yêu cầu hoàn trả và từ biến cố này, đã đến sinh sống tại Tòa giám mục Thái Bình. Do hộ khẩu chính thức của linh mục Trụ là ở giáo xứ Nguyệt Lãng, ông nhiều lần bị mời làm việc tại Uỷ ban, tuy quyết định tiếp tục cư trú tại Tòa giám mục.[11]

Cuộc di cư năm 1954 đã mang đi hầu hết thành quả mà các giáo sĩ và tín đồ Công giáo Thái Bình xây dựng trong nhiều thế kỷ và đây cũng là giai đoạn khó khăn nhất của giáo phận, với sự thiếu thốn nhân sự dẫn tới tình trạng gần như ngừng hẳn các hoạt động tôn giáo.[1] Khoảng 80.000 giáo dân và 79 linh mục của địa phận di cư vào miền Nam trong biến cố này. Linh mục Đinh Đức Trụ tình nguyện ở lại địa phận.[10] Nhân sự của địa phận chỉ còn lại 13 linh mục, 20 thầy giảng và 26 nữ tu định cư rải rác trên địa bàn.[9] Vì thế một trong những ưu tiên hàng đầu của linh mục Đinh Đức Trụ là đào tạo nhân sự truyền giáo bằng việc mở cửa tiểu chủng viện Mỹ Đức để tiếp nhận các ứng sinh vào học và thụ phong linh mục cho các chủng sinh đã đủ điều kiện nhằm khôi phục và tổ chức lại các hoạt động tôn giáo.[1][7] Năm 1956, ông khai giảng trường Mỹ Đức, đón nhận tất cả các con em trong giáo phận về học. Trong niên khoá đầu tiên năm học 1956–1957, số lượng học sinh khoảng 350 em.[7] Hai hội đoàn chính yếu trong địa phận Thái Bình là Hội Mân Côi và Dòng Ba Đa Minh được củng cố, cũng như phát triển thêm các phong trào ''Đền Tạ Trái Tim Chúa Giêsu'' và ''Đền Tạ Trái Tim Đức Mẹ'' trong địa phận. Linh mục Tổng quản Đinh Đức Trụ đã phải cải trang để đến thăm các giáo dân.[9]

Thời kỳ Giám mục

Ngày 24 tháng 11 năm 1959, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Đa Minh Đinh Đức Trụ làm Giám quản Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Thái Bình.[10] Ngày 5 tháng 3 năm 1960, linh mục Đa Minh Maria Đinh Đức Trụ được bổ nhiệm làm Giám mục Hiệu tòa Catapas,[gc 2] Cùng thời điểm bổ nhiệm kể trên, hai giám mục tân cử người Việt Nam khác được bổ nhiệm, là Giám mục Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh cho Địa phận Bùi Chu và Giám mục Vinh Sơn Phaolô Phạm Văn Dụ tại Địa phận Lạng Sơn và Cao Bằng. Tất cả ba giám mục này đều không được [phía chính quyền] công nhận.[12] Do không còn giám mục Công giáo nào tại miền Bắc Việt Nam vào thời điểm này ngoài Giám mục Trịnh Như Khuê tại Hà Nội, giám mục tân cử Đinh Đức Trụ cải trang thành người đạp xích lô đến Tòa Giám mục Hà Nội. Ngày lễ Truyền Tin (ngày 25 tháng 3 năm 1960), ông được Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê tấn phong giám mục tại Nhà nguyện Tòa Giám mục Hà Nội.[9] Giám mục Trụ là giám mục Công giáo người Việt Nam đầu tiên kể từ khi địa phận được thành lập vào năm 1936.[10] Tân giám mục chọn khẩu hiệu Giám mục là "Lính tốt của Chúa Kitô – Bonus Miles Christi".[7] Trong Tông hiến thành lập hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam, ông được nhắc đến với chức vụ Giám quản Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Thái Bình.[13]

Ngày 16 tháng 7 năm 1960, Giám mục Đa Minh Trụ đã truyền chức linh mục cho bốn thầy giảng gồm: Giuse Maria Đinh Bỉnh (sau là giám mục kế vị) (1922), Giuse Bùi Văn Cẩm (1931), Joachim Trần Đức Uyên (1901), Giuse Vũ Văn Vân (1897).[7] Ngày 10 tháng 11 năm 1960, Tân giám mục Đại diện Tông Tòa Bùi Chu Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh cùng tùy tùng đêm khuya âm thầm đến Tòa Giám mục Thái Bình để truyền chức giám mục. Giám mục Trụ chính là giám mục tấn phong cho vị giám mục Tân cử.[14] Giám mục Đinh Đức Trụ chủ sự nghi thức tấn phong cho tân giám mục Địa phận Bùi Chu Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh trong đêm ngày 10 tháng 11 năm 1960.[9][11] Riêng giám mục tân cử Phạm Văn Dụ không được tấn phong cho đến năm 1979.[12]

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Tòa Thánh thiết lập Hàng giáo phẩm Việt Nam, Giám mục Đa Minh Đinh Đức Trụ, theo thông cáo của Tòa Thánh, đang đương chức Giám quản Tông Tòa,[15] được thăng Giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình.[7] Trong thời kỳ này, ông không thể cho thiết lập các trường đào tạo linh mục công khai.[7] Chính quyền yêu cầu giải tán Chủng viện Mỹ Đức vào năm 1963, trong khi các chủng sinh tu học tại Hà Nội phải trở về từ năm 1960.[11][16] Trường Thầy giảng Hưng Yên và Tu viện Cát Đàm mượn làm trường học. Nhiều nhà xứ, nhà thờ của các giáo họ và giáo xứ di cư được trưng dụng làm nhà văn hóa, trường học, vựa lúa, nhà kho, chuồng bò hoặc đưa người không Công giáo đến sinh sống.[16] Năm 1967, một nhóm người đã đột nhập Văn Khố Tòa Giám Mục và lấy đi hoặc đốt sạch các giấy tờ, kể cả Sắc lệnh thành lập Giáo phận.[7]

Giám mục Trụ quyết định âm thầm đào tạo các chủng sinh bằng phương pháp hàm thụ và xin phép Tòa Thánh phong chức linh mục trẻ hơn 25 tuổi.[17] Năm 1965, bốn chủng sinh đã được thụ phong linh mục. Tháng 1 năm 1968 lại có thêm hai tân linh mục. Các năm 1970, 1971 và 1972 lần lượt có thêm 2, 1 và 4 tân linh mục. Sau thời kỳ khốn khó này, chủng viện Mỹ Đức được mở cửa trở lại và đào tạo khóa 1972 – 1977, làm gia tăng số linh mục.[7] Năm đầu tiên mở lại chủng viện, có 15 chủng sinh, và linh mục Giuse Maria Đinh Bỉnh được bổ nhiệm làm Giám đốc Chủng viện.[18]Trong thời gian chiến sự, máy bay Mỹ oanh tạc giáo phận làm thiệt hại các cơ sở tôn giáo và nhân mạng, trong đó có hai lần bom rơi vào nhà thờ chính tòa Thái Bình trong năm 1967.[16] Cũng trong giai đoạn này, giáo phận Thái Bình thiếu nhân sự, nhiều linh mục quản lý 10 đến 20 giáo xứ, tuy cũng không thể thi hành công việc mục vụ cho tất cả các xứ này.[19] Nhiều linh mục chịu cảnh tù đày trong thời gian ông quản lý giáo phận.[4] Do nhiều ngăn trở, Giám mục Trụ không thể thực hiện việc đến thăm các giáo xứ thuộc quyền (kinh lý) như ràng buộc của Giáo luật Công giáo.[11] Để đến thăm giáo dân, ông đóng giả tiều phu, ăn xin và người cần bán lợn.[4]

Niên khóa chủng sinh đầu tiên sau khi chủng viện được phép mở lại được Giám mục Trụ truyền chức vào tháng 10 năm 1977, và đến tháng 4 năm 1978, các tân linh mục đã hoàn tất các thủ tục để đến các giáo xứ được bổ nhiệm. Đợt này, Giám mục Trụ truyền chức được 9 tân linh mục, và sau đợt truyền chức này, tổng số linh mục giáo phận là 25.[18] Trong thời gian quản lý giáo phận Thái Bình, Giám mục Trụ đã truyền chức linh mục cho tổng số là 32 người.[10] Giám mục Trụ cũng xin Tòa Thánh bổ nhiệm giám mục phó vì sức khỏe kém, và linh mục Đinh Bỉnh đã được chọn đảm trách vai trò này.[18]

Giám mục Đinh Đức Trụ giữ vai trò Giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình cho đến khi qua đời ngày 7 tháng 6 năm 1982, hưởng thọ 73 tuổi.[7][20] Ông qua đời sau một thời gian bệnh tật và chứng bệnh cao huyết áp. Tang lễ được cử hành ngày 11 tháng 6 và thi hài được an táng tại Nhà thờ chính tòa Thái Bình.[18]

Tông truyền

Giám mục Đa Minh Maria Đinh Đức Trụ được tấn phong giám mục năm 1960, thời Giáo hoàng Gioan XXIII, bởi:[21]

Giám mục Đa Minh Maria Đinh Đức Trụ là Giám mục Chủ phong cho giám mục:[21]

Giám mục Đa Minh Maria Đinh Đức Trụ là Giám mục Phụ phong cho giám mục:[21]

Dưới đây là sơ đồ tính Tông truyền từ giám mục Việt Nam đầu tiên được giám mục ngoại quốc chủ phong cho đến đời Giám mục Đa Minh Maria Đinh Đức Trụ.[21] Bản mẫu:Chart top

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “TreeChart”.

Bản mẫu:Chart bottom

Tóm tắt chức vụ

Tiền nhiệm:
Tiên khởi
Giám mục chính tòa
Giáo phận Thái Bình

1960–1982
Kế nhiệm:
Giuse Maria Đinh Bỉnh
Tiền nhiệm:
Santos Ubierna Ninh
Đại diện Tông Tòa
Hạt Đại diện Tông Tòa Thái Bình

1960
Kế nhiệm:
Chức vụ bãi bỏ

Chú thích

  1. ^ a ă â "Khái quát về giáo phận Thái Bình nhân kỷ niệm 75 năm thành lập". Ban Tôn Giáo Chính phủ, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019.
  2. ^ "Giáo phận Thái Bình kỷ niệm 75 năm thành lập". Ban Tôn giáo Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019.
  3. ^ a ă â Lê Ngọc Bích 1995, tr. 159
  4. ^ a ă â b "03 - Đức Cha Đa Minh Maria Đinh Đức Trụ (1954-1982)". Giáo phận Thái Bình. ngày 7 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
  5. ^ Lê Ngọc Bích 1995, tr. 162
  6. ^ Văn Chiến (ngày 3 tháng 12 năm 2010). "Đồng hương Phú Nhai: Nhìn về quá khứ, hướng đến tương lai". Tổng giáo phận Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026.
  7. ^ a ă â b c d đ e ê g h "Lược sử Giáo phận Thái Bình". Giáo phận Thái Bình. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019.
  8. ^ Nhóm nghiên cứu độc lập Tư liệu Lịch sử Giáo phận Thái Bình 2026, tr. 172
  9. ^ a ă â b c d đ Nhóm nghiên cứu độc lập Tư liệu Lịch sử Giáo phận Thái Bình 2026, tr. 173, 174
  10. ^ a ă â b c Lê Ngọc Bích 1995, tr. 160
  11. ^ a ă â b Nhóm nghiên cứu độc lập Tư liệu Lịch sử Giáo phận Thái Bình 2026, tr. 175
  12. ^ a ă Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt (ngày 31 tháng 8 năm 2020). "Chia sẻ của Đức TGM.Giuse Ngô Quang Kiệt về Đức cha cố Vinhsơn Phaolô Phạm Văn Dụ". Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026.
  13. ^ "Tông hiến thành lập Hàng Giáo Phẩm - VENERABILIUM NOSTRORUM". Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019.
  14. ^ "Lễ tấn phong giám mục chỉ có 4 người". Giáo phận Bùi Chu. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2019.
  15. ^ Văn phòng Báo chí Tòa Thánh 1961, tr. 346, 347
  16. ^ a ă â Nhóm nghiên cứu độc lập Tư liệu Lịch sử Giáo phận Thái Bình 2026, tr. 176
  17. ^ Nhóm nghiên cứu độc lập Tư liệu Lịch sử Giáo phận Thái Bình 2026, tr. 179, 180
  18. ^ a ă â b Nhóm nghiên cứu độc lập Tư liệu Lịch sử Giáo phận Thái Bình 2026, tr. 181, 182
  19. ^ Nhóm nghiên cứu độc lập Tư liệu Lịch sử Giáo phận Thái Bình 2026, tr. 177, 178
  20. ^ Việt Nam Công giáo Niên giám 1964, tr.193.
  21. ^ a ă â b "Bishop Dominique-Marie Dinh-Duc-Tru Bishop of Thái Bình, Viet Nam". Catholic-hierarchy. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2019.
Sách, tư liệu

Ghi chú

  1. ^ Sách của tác giả Lê Ngọc Bích ghi nhận ngày thụ phong linh mục là 25 tháng 5 năm 1938.[3]
  2. ^ Nguồn tư liệu Nghiên cứu Độc lập (2026)[9] và Giáo phận Thái Bình[4] đều ghi nhận chức Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Thái Bình (quen gọi là Địa phận Thái Bình).


Tham khảo

Bản mẫu:Giám mục Công giáo người Việt

Đọc thêm