Đinh Thị Bích Lân
Đinh Thị Bích Lân (sinh 1960) là Phó Giáo sư, tiến sĩ thú y Việt Nam, được tặng Giải thưởng Kovalevskaia năm 2017. Hiện nay bà là giảng viên cao cấp Viện Công nghệ sinh học, Đại học Huế.
Đinh Thị Bích Lân
Thông tin cá nhân | |
|---|---|
| Sinh | 1960 (65–66 tuổi) |
| Học vị | Tiến sĩ Thú y |
| Trường lớp | Đại học Huế |
| Đảng phái chính trị | |
| Học hàm | Phó Giáo sư (2007) |
Sự nghiệp khoa học | |
| Ngành | |
| Tiến sĩ | Đại học Obihiro, Nhật Bản |
| Giải thưởng khoa học | Danh sách |
| Đơn vị công tác | Đại học Huế |
Tiểu sử và học vấn
Đinh Thị Bích Lân sinh năm 1960, sống tại Thành phố Huế.
Đinh Thị Bích Lân vốn là sinh viên y khoa nhưng khi đi Liên Xô bà lại được phân đi học chuyên ngành thú y tại Học viện Thú y Matxcơva.[1]
Năm 1986, bà tốt nghiệp đại học bằng “đỏ” chuyên ngành Thú y tại Viện Thú y Matxcơva và trở về nước. Sau đó trở thành giảng viên của Trường Đại học Nông nghiệp 2 Huế (nay là Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế).[2]
Từ năm 1996–2000, bà là nghiên cứu sinh của Đại học Gifu, một trong những trường đại học nổi tiếng đào tạo về Thú y, thuộc Đại học Obihiro của Nhật Bản, hoàn thành luận án Tiến sĩ năm 2000.[3] Năm 2007, bà được phong học hàm Phó Giáo sư.[3]
Từ 2007–2013, bà là Phó Viện trưởng Viện Tài nguyên và Môi trường; từ 2014–2015, là Phó Viện trưởng - Phụ trách Viện Công nghệ sinh học; từ 2015, bà là giảng viên cao cấp tại Viện Công nghệ sinh học và Trường Đại học Nông lâm thuộc Đại học Huế.[4]
Hiện nay bà là giảng viên cao cấp Viện Công nghệ sinh học thuộc Đại học Huế.
Sự nghiệp
Đinh Thị Bích Lân là nhà khoa học với nhiều công trình nghiên cứu đi tiên phong trong lĩnh vực chăn nuôi thú y, không chỉ ở Thừa Thiên Huế mà còn trong khu vực miền Trung – Tây Nguyên và trên cả nước.[5] Các nghiên cứu của bà nhằm xây dựng các phương pháp chẩn đoán, các phương pháp phòng, trị bệnh cho gia súc gia cầm, đảm bảo sức khỏe, an toàn cho vật nuôi và cộng đồng, nâng cao hiệu quả chăn nuôi, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Thông qua các đề tài nghiên cứu, bà đã tạo ra được nhiều sản phẩm công nghệ có tính ứng dụng cao.[2] Bà là tác giả của nhiều đề tài nghiên cứu tạo ra những sản phẩm công nghệ có tính ứng dụng cao, như các loại kháng nguyên tái tổ hợp, các loại KIT chẩn đoán nhanh (que nhúng), văcxin tái tổ hợp, chế phẩm sinh học chứa kháng thể lòng đỏ trứng gà hay các tổ hợp lợn lai …[6]
Gần 30 năm công tác, bà đã làm chủ nhiệm 1 đề tài độc lập và 1 nhánh đề tài cấp Nhà nước, 3 đề tài cấp Bộ, 1 đề tài cấp tỉnh và là thành viên nghiên cứu của nhiều đề tài khác.[2] Bà là tác giả của 2 giáo trình phục vụ đào tạo ngành Thú y tại các trường đại học nông lâm trên cả nước; 64 bài báo khoa học, trong đó có 17 bài đăng trên tạp chí quốc tế.[4] Bà đã hướng dẫn thành công 2 nghiên cứu sinh, 21 học viên cao học.[2]
Những đóng góp khoa học của bà đã được ghi nhận qua các giải thưởng: Giải B Giải thưởng Cố đô về Khoa học Công nghệ tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2011 với cụm công trình “Lai tạo và hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất các tổ hợp lợn lai 3/4 máu ngoại mới có năng suất và tỉ lệ nạc cao”.[1] Giải nhất Giải thưởng Sáng tạo khoa học & công nghệ tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2012 với đề tài: “Nghiên cứu sản xuất que chẩn đoán nhanh bệnh ký sinh trùng Toxoplasma ở người và gia súc”;[3] Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2015 với đề tài “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh do Cryptosporidium parvum gây ra ở bò lây sang người và xây dựng quy trình chẩn đoán nhanh”; Giải Nhất Giải thưởng sáng tạo Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2016 với đề tài “Nghiên cứu tạo kháng nguyên bám dính tái tổ hợp để sản xuất KIT chẩn đoán và vắc xin phòng bệnh do E.coli gây ra ở lợn”; Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2017 với đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất chế phẩm sinh học để phòng và trị bệnh cầu trùng ở gà”.[7]
Vinh danh
Giải thưởng khoa học
- Giải thưởng Kovalevskaia (2017)
- Giải nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ VIII năm 2017
- Giải Nhất Giải thưởng sáng tạo Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2016
- Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2015
- Giải nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ VI năm 2012
- Giải B Giải thưởng Cố đô về Khoa học Công nghệ tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2011
Công trình khoa học chính
- Giáo trình Miễn dịch học Thú y, NXB Đại học Huế, 2007
- Giáo trình Sinh lý bệnh Thú y, NXB Đại học Huế, 2007
Nguồn:[4]
Tham khảo
- ^ a b Hoàng Văn Minh (ngày 2 tháng 5 năm 2018). "PGS-TS Đinh Thị Bích Lân: Thú y là nghề cao quý". Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b c d Nguyễn Huyền (ngày 4 tháng 3 năm 2018). "PGS.TS Đinh Thị Bích Lân, người bạn của nhà nông". Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b c Nguyên Thu. "PGS.TS. Đinh Thị Bích Lân: Nghiên cứu khoa học là đam mê". Bảo tàng di sản các nhà khoa học Việt Nam. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b c "Đinh Thị Bích Lân". Thông tin nhà khoa học - Đại học Huế. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2026.
- ^ Doãn Quan (ngày 22 tháng 2 năm 2017). "PGS.TS. Đinh Thị Bích Lân, Nhà khoa học đam mê nghiên cứu, sáng tạo". HUSTA. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
- ^ Dương Tâm (ngày 2 tháng 3 năm 2018). "Hai nữ phó giáo sư giành giải thưởng Kovalevskaia năm 2017". VnExpress. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2026.
- ^ Lê Đăng (ngày 13 tháng 10 năm 2019). "PGS.TS Đinh Thị Bích Lân: Niềm tự hào của giới khoa học nữ". Báo Giáo dục & Thời đại. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2026.