Ōryōki
Ōryōki là một bộ bát chén xếp chồng và các dụng cụ ăn uống khác được dùng bởi các nhà sư Phật giáo. Ōryōki cũng chỉ một hình thức ăn thiền định sử dụng các dụng cụ này, có nguồn gốc từ Nhật Bản, nhấn mạnh thực hành chánh niệm bằng cách tuân theo một trình tự nghiêm ngặt của các động tác chính xác.
Hầu hết các ngôn ngữ đều mượn trực tiếp từ tiếng Phạn Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). pātra có nghĩa đơn giản là 'bát'.[1] Gốc Ấn-Âu Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). mang ý nghĩa uống và các dụng cụ uống, và được tìm thấy trong nhiều từ liên quan ở các ngôn ngữ hiện đại. Tiếng Trung và tiếng Nhật cũng có các phiên âm từ tiếng Phạn (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; hoặc đơn giản là Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., và Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).).
Tuy nhiên, thuật ngữ được sử dụng trong tông Sōtō (曹洞宗 (Tào Động tông)) của Thiền tông là ōryōki (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., gốc từ Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) một từ mới có nghĩa là 'bình chứa vừa đủ'.
Trong tong phái Rinzai (臨済宗 (Lâm Tế tông)) và Ōbaku (黄檗宗 (Hoàng Bách tông)) các dụng cụ này được gọi là jihatsu, được viết là 持鉢 (trì bát; cầm bát) theo tông phái Rinzai và 自鉢 (tự bát; bát cá nhân) theo tông phái Ōbaku. Jihatsu cũng được dùng để chỉ riêng những chiếc bát.[2]
Các bát thường được làm bằng gỗ sơn mài, với các dụng cụ được gói trong một tấm vải.[2] Chiếc bát lớn nhất, đôi khi được gọi là Bát Phật hay zuhatsu,[2] tượng trưng cho đầu của Đức Phật và trí tuệ của Ngài. Những chiếc bát còn lại nhỏ dần. Khi mô tả hình thức ōryōki được sử dụng tại một tu viện ở miền Tây Hoa Kỳ, một du khách đã mô tả các dụng cụ:
Gói đồ có kích thước bằng quả dưa lưới bao gồm ba chiếc bát nhựa màu đen lồng vào nhau, hai chiếc đũa, một chiếc thìa gỗ, một chiếc thìa cao su nhỏ, một chiếc khăn ăn màu xám và một chiếc khăn lau, tất cả được gói gọn gàng trong một tấm vải màu xám với phần nút thắt trên cùng trông giống như một đóa hoa sen.[3]
Đây là phong cách phục vụ và dùng bữa trang trọng được thực hiện tại các ngôi chùa Thiền tông.[2]
Truyền thống Phật giáo cho biết sau khi Huệ Năng nhận được áo cà sa và bình bát của sư phụ Hoằng Nhẫn như bằng chứng cho việc nhận truyền thừa giáo pháp, bản thân chiếc bình bát đã được xem là biểu tượng của sự truyền thừa từ thầy sang trò.[4]
Ōryōki đã phát triển trong các tịnh xá ở Đông Á qua nhiều năm và là một phần của truyền thống Phật giáo hiện đã được truyền sang phương Tây. Cả các nhà sư và cư sĩ đều sử dụng ōryōki để dùng các bữa ăn trang trọng trong các thiền viện và nơi tu tập. Một dòng truyền thừa cũng đã được truyền từ Kōbun Chino Otogawa đến tăng đoàn Phật giáo Tây Tạng của Chögyam Trungpa và hiện được thực hành tại tất cả các trung tâm tu tập của Shambhala International.[2]
Các thiền sư cho rằng việc dùng bữa với ōryōki giúp vun bồi lòng biết ơn, chánh niệm và hiểu rõ bản thân hơn.[5] (Về phương diện này, nó không khác mấy so với tọa thiền.) Những chi tiết phức tạp của hình thức này có thể đòi hỏi người thực hành phải hết sức chú ý đến từng chi tiết nhỏ.[5]
Ý nghĩa của từ tiếng Nhật
Theo Shohaku Okumura :
Chữ ō đầu tiên trong ōryōki có nghĩa là "tương xứng với", ryō có nghĩa là "số lượng" hoặc "chất lượng", và ki có nghĩa là "đồ chứa".[4]
Trong tiếng Nhật, từ ōryōki được tạo thành từ ba chữ Hán-Nhật :
- ō (応 ō), sự đáp lại của người nhận đối với việc dâng thức ăn (nguyên gốc tiếng Trung là 'phù hợp')
- ryō (量 ryō), một thước đo, hoặc một số lượng, sẽ được nhận
- ki (器 ki), cái bát.
Tài liệu tham khảo
- ^ "Entry for 'पात्र'". Wiktionary.
- ^ a b c d e Kain, John (Fall 2003), "Eating Just The Right Amount", Tricycle: The Buddhist Review, quyển 13 số 1, tr. 62
- ^ Maguire, Jack (2000). Waking Up: A Week Inside a Zen Monastery. Skylight Paths. tr. 107. ISBN 978-1-893361-13-3.
- ^ a b Okumura, Shohaku (2012). Living by Vow: A Practical Introduction to Eight Essential Zen Chants and Texts. Somerville, MA: Wisdom Publications. tr. 99. ISBN 978-1-61429-010-0. OCLC 760977623.
- ^ a b Maguire, Jack (2000). Waking Up: A Week Inside a Zen Monastery. Skylight Paths. tr. 108–109. ISBN 978-1-893361-13-3.
Liên kết ngoài
- Ảnh của Oryoki
- Bản dịch lời bình luận của Dogen Zenji về người đầu bếp trưởng.
- Bản dịch bài bình luận của Dogen Zenji về việc ăn uống
- Bản dịch bài tụng kinh trong bữa ăn của Cộng đồng Thiền Gió Trắng
- Giải thích về việc dòng truyền thừa Shambhala sử dụng Oryoki.
- Patrick Reynolds giải thích ngắn gọn và trình bày về Soto oryoki.
- Robin giải thích ngắn gọn và trình bày cách thực hành oryoki trong cộng đồng Shambhala.