Bước tới nội dung

Câu lạc bộ thể thao 25 tháng 4

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ 4.25 Sports Team)
25 tháng 4
Tập tin:Logo 4.25 SC.png
Tên đầy đủCâu lạc bộ thể thao 25 tháng 4
Thành lập
  • tháng 3 năm 1947; 79 năm trước (1947-03)
  • tháng 7 năm 1949; 77 năm trước (1949-07) (với tên gọi Câu lạc bộ thể thao Trường Huấn luyện Thể thao Trung ương)
Sân vận độngKim Nhật Thành
Sức chứa50.000
Chủ sở hữuBộ Quốc phòng Bắc Triều Tiên
Chủ tịch điều hànhRi Mun-song
Người quản lýO Yun-son
Giải đấuNgoại hạng CHDCND Triều Tiên
Câu lạc bộ thể thao 25 tháng 4
Chosŏn'gŭl
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Hancha
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Romaja quốc ngữSa io cheyukdan
McCune–ReischauerSa io ch'eyuktan

Câu lạc bộ thể thao 25 tháng 4 (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., Sa io ch'eyuktan), viết tắt 4.25 SC, hay còn được gọi là Câu lạc bộ thể thao Quốc phòng 25 tháng 4 (4.25'국방체육단', Sa io "Kukpang ch'eyuktan"), là một câu lạc bộ thể thao đa môn của Bắc Triều Tiên, có trụ sở tại thủ đô Bình Nhưỡng, chủ yếu được biết đến thông qua đội bóng đá nam và nữ của mình. Câu lạc bộ được quản lý và điều hành bởi Bộ Quốc phòng Bắc Triều Tiên;[1] toàn bộ các vận động viên ở các phân môn của câu lạc bộ đều là quân nhân phục vụ trong Quân đội Nhân dân Triều Tiên.

Lịch sử

Câu lạc bộ được thành lập khoảng tháng 3 năm 1947[2] hoặc tháng 7 năm 1949[3] với tên gọi Câu lạc bộ thể thao Trường Huấn luyện Thể thao Trung ương (중앙체육강습소체육단, Chung'ang ch'eyukkangsŭpso ch'eyukdan).

Vào ngày 25 tháng 6 năm 1971[4][5] hoặc 26 tháng 6 năm 1972,[6] tên của câu lạc bộ đã được đổi từ Trường Huấn luyện Thể thao Trung ương thành 25 tháng 4 như hiện nay; đích thân Chủ tịch Kim Chính Nhật đã lấy tên này để tôn vinh đội quân du kích kháng Nhật đầu tiên mà cha ông – cố Chủ tịch Kim Nhật Thành đã thành lập vào ngày 25 tháng 4 năm 1932, đội quân đó được xem là tiền thân của Quân đội Nhân dân Triều Tiên sau này.[7] Trên thực tế cho đến năm 1977, ngày thành lập chính thức của Quân đội Nhân dân Triều Tiên ban đầu vẫn được xác định là ngày 8 tháng 2 năm 1948. Tuy nhiên, vào năm 1978, ngày này đã được thay đổi thành ngày 25 tháng 4 năm 1932. Sự thay đổi này sau đó đã được đảo ngược vào năm 2018.[8][9]

Đội bóng đá nam của câu lạc bộ hiện thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng CHDCND Triều Tiên, và là đội bóng thành công nhất nước này, với hơn 20 danh hiệu vô địch quốc gia.[10] Sân nhà của 25 tháng 4 là sân vận động Yanggakdo. Trong các giải đấu cấp câu lạc bộ quốc tế, các trận đấu sân nhà của đội thường được diễn ra trên sân vận động Kim Nhật Thành. Năm 2015, 25 tháng 4 đã đạt được một thành tích hiếm có, khi cả đội bóng đá nam và đội bóng đá nữ của câu lạc bộ đều giành được chức vô địch quốc gia; đây là lần đầu tiên trong lịch sử thể thao Bắc Triều Tiên, đội bóng đá nam và nữ vô địch quốc gia trong một năm cùng trực thuộc một câu lạc bộ/đơn vị.[11]

25 tháng 4 từng lọt vào đến trận chung kết của Cúp AFC 2019, chạm trán với Al-Ahed của Liban. Trận đấu được tổ chức tại Kuala Lumpur, Malaysia và kết thúc với tỷ số chung cuộc là 0–1 nghiêng về phía đại diện Tây Á. Trước đó, 25 tháng 4 đã đánh bại Hà Nội của Việt Nam trong trận chung kết liên khu vực nhờ luật bàn thắng sân khách. Trong đó, trận lượt về của cặp đấu này diễn ra trên sân vận động Kim Nhật ThànhBình Nhưỡng trước sự chứng kiến ​​của 5.500 khán giả. 25 tháng 4 thường chơi các trận sân nhà trước hàng nghìn khán giả. Đội đã thu hút được lượng khán giả trung bình là 4.050 người/trận trong bốn trận sân nhà của mình tại Cúp AFC 2019.

Nhầm lẫn với 8 tháng 2

Câu lạc bộ thể thao 8 tháng 2 và Câu lạc bộ thể thao 25 tháng 4 có nhiều điểm tương đồng do hai đội cùng trực thuộc Bộ Quốc phòng, dù vậy họ lại được quản lý và điều hành một cách riêng biệt và không hề liên quan đến nhau.[12][13] Mùa giải 2017 của cả Giải thưởng Bạch Đầu Sơn và Giải thưởng Mangyongdae đều đã được vô địch bởi 25 tháng 4 và á quân bởi 8 tháng 2.[14]

Kình định

Đối thủ chính của 25 tháng 4 là Amnokgang – câu lạc bộ thể thao của Bộ Công an Bắc Triều Tiên, bởi lẽ sự cạnh tranh giữa Quân đội và Công an cũng được thể hiện rất rõ nét trong lĩnh vực thể thao. Ngoài ra đội cũng có mối kình địch lớn với Bình Nhưỡng, hay còn được biết đến với tên gọi Derby Thủ đô.

Thành tích châu lục

Mùa giải[15] Giải đấu Vòng đấu Đối thủ Nhà Khách Kết quả
1985–86[16] Cúp C1 châu Á Vòng loại – Đông Á 1 Hồng Kông Seiko 4–1 1–2 Nhì bảng
Trung Quốc Liêu Ninh 3–1 0–0
1986[17] Cúp C1 châu Á Vòng 1 – Nhóm 7 Trung Quốc Liêu Ninh 0–0 0–1 0–1
1987[18] Cúp C1 châu Á Vòng loại – Bảng 5 Trung Quốc 1 tháng 8 0–2 Ba bảng
Ma Cao Hap Kuan 2–1
1988–89[19] Cúp C1 châu Á Vòng loại – Bảng 6 Hồng Kông Nam Hoa 3–0 Nhất bảng
Ma Cao Wa Seng 4–0
Trung Quốc Quảng Đông Vạn Bảo 1–0
Nhật Bản Yamaha Motors 3–1
Bán kết – Bảng B Bangladesh Mohammedan 0–1 Ba bảng
Qatar Al-Sadd 1–2
Ả Rập Xê Út Al-Ettifaq 1–1
Malaysia Pahang FA 2–0
1990–91[20] Cúp C1 châu Á Vòng loại – Bảng 7 Nhật Bản Nissan Yokohama 1–0 Nhất bảng
Trung Quốc Liêu Ninh 1–0
Tứ kết – Bảng B Iran Esteghlal 1–2 Nhì bảng
Bangladesh Mohammedan 0–0
Thái Lan Ngân hàng Bangkok 4–3
Bán kết Trung Quốc Liêu Ninh 0–3 Hạng tư
Tranh hạng ba Indonesia Pelita Jaya 2–2 (6–7 p)
1991[21] Cúp C1 châu Á Bảng B Ả Rập Xê Út Al-Hilal 0–2 Ba bảng
Iran Esteghlal 1–1
2017[22] Cúp C2 châu Á Bảng I Mông Cổ Erchim 6–0 5–0 Nhất bảng
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Kigwancha 2–2 1–1
Bán kết liên khu vực Ấn Độ Bengaluru 0–0 0–3 0–3
2018 Cúp C2 châu Á Bảng I Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Hwaebul 1–0 2–0 Nhất bảng
Đài Bắc Trung Hoa Hàng Nguyên 5–1 5–1
Ma Cao Benfica de Macau 8–0 2–0
Bán kết liên khu vực Singapore Home United 9–1 2–0 11–1
Chung kết liên khu vực Turkmenistan Altyn Asyr 2–2 1–1 3–3 (a)
2019 Cúp C2 châu Á Bảng I Đài Bắc Trung Hoa Hàng Nguyên 5–0 0–3 Nhất bảng
Hồng Kông Kiệt Chí 2–0 1–0
Hồng Kông Đại Bộ 4–0 1–3
Bán kết liên khu vực Bangladesh Dhaka Abahani 2–0 3–4 5–4
Chung kết liên khu vực Việt Nam Hà Nội 0–0 2–2 2–2 (a)
Chung kết Liban Al-Ahed 0–1 Á quân
2026–27 Cúp C3 châu Á Chưa xác định

Danh hiệu

Quốc nội

Ngoại hạng CHDCND Triều Tiên

Vô địch: 23

  • 1984, 1985, 1986, 1987, 1988, 1990, 1992, 1993, 1994, 1995, 2002, 2003, 2010, 2011, 2012, 2013, 2015, 2017, 2017–18, 2018–19, 2021–22, 2022–23, 2024–25

Á quân: 2

  • 2014, 2016

Cúp Hwaebul (Cúp Quốc gia)

Vô địch: 4

  • 2013, 2014, 2015, 2016

Giải thưởng Mangyongdae

Vô địch: 7

  • 2002, 2009, 2012, 2014, 2015, 2016, 2017

Giải thưởng Bạch Đầu Sơn

Vô địch: 1

  • 2017

Giải thưởng Ngọn đuốc Pochonbo

Vô địch: 3

  • 2005, 2011, 2014

Giải vô địch CHDCND Triều Tiên

Vô địch: 3

  • 2001, 2006, 2011

Quốc tế

Á quân: 1

Cúp Delhi Cloth Mills

Vô địch: 1

Bóng đá nữ

Đội bóng đá nữ của 25 tháng 4 là một trong những đội bóng đá nữ mạnh nhất ở Bắc Triều Tiên; họ đã vô địch quốc gia ít nhất sáu lần, vào các năm 2002, 2009, 2010, 2011, 2013 và 2015.[11][25]

Các môn thể thao khác

Ngoài bóng đá, 25 tháng 4 còn có các đội tham gia thi đấu ở nhiều môn thể thao khác nhau, bao gồm điền kinh, bóng rổ, khúc côn cầu trên băng, bóng chuyềnbóng ném.[26]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Watts, Jonathan (ngày 20 tháng 6 năm 2010). "World Cup 2010: Why North Korea are in a league of their own". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015.
  2. ^ "사이오체육단(四二五體育團)". Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  3. ^ "체육선수단". Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  4. ^ Hầu hết báo chí Hàn Quốc đều đưa tin rằng vào ngày 25 tháng 6 năm 1971, tên câu lạc bộ đã được đổi thành Câu lạc bộ thể thao 25 tháng 4.
  5. ^ "4.25체육단". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  6. ^ "On the Tasks Facing the April 25 Sports Team" (PDF). korea-dpr.com. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  7. ^ "A Few Facts on North Korea's Army Day". 38 North. ngày 1 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  8. ^ 金正日(김정일)권력승계 큰 變數(변수) 「軍部(군부)장악」유난히 강조
  9. ^ "건군절 변천사와 김정은의 고뇌". Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  10. ^ "North Korea – List of Champions". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  11. ^ a b "Newstream – KCNA Watch". KCNA Watch.co. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  12. ^ 미달때 北韓(북한)에선 大學(대학)입학·軍(군)입대 보류
  13. ^ "<北韓의 實相>...(39) 체육". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  14. ^ "The Chosun Jørn: Can Jørn Andersen Make Sense of North Korean Football?". ngày 13 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2019.
  15. ^ "Decision by Competitions Committee & Executive Committee for AFC Club Competitions". The-AFC.com. Asian Football Confederation. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012.
  16. ^ "Asian Club Competitions 1985/86". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  17. ^ "Asian Club Competitions 1985/86". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  18. ^ "Asian Club Competitions 1987/88". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  19. ^ "Asian Club Competitions 1988/89". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  20. ^ "Asian Club Competitions 1990/91". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  21. ^ "Asian Club Competitions 1991/92". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  22. ^ "Asian Club Competitions 2017". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  23. ^ List of winners and runners-ups of the DCM Trophy Lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2020 tại Wayback Machine www.rsssf.com. RSSSF. Retrieved 20 April 2021.
  24. ^ Raunak, Majumdar (ngày 31 tháng 5 năm 2019). "The DCM Trophy- Oldest Indian Tournament with International Exposure". chaseyoursport.com (bằng tiếng Anh). Chase Your Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2021.
  25. ^ "North Korea – List of Women Champions". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  26. ^ Ri Sung Ik (ngày 2 tháng 11 năm 2017). "National Championships top annual sporting calendar off with new records". The Pyongyang Times. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2017.

Liên kết ngoài