5,56×45mm NATO

(Đổi hướng từ 5.56×45mm NATO)
5.56×45mm NATO
 Tập tin:GP90.jpg
5.56×45mm NATO with measurement, left to right: Bullet, case, and complete cartridge
Kiểu đạn Súng trường, carbine, DMR, và LMG
Quốc gia chế tạo Bỉ
Lịch sử phục vụ
Trang bị 1980–hiện tại
Quốc gia sử dụng NATO, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Úc, Israel, và các nướ ngoài khối NATO
Lịch sử chế tạo
Nhà thiết kế FN Herstal
Năm thiết kế cuối thập niên 1970–1980
Thông số
Vỏ đạn gốc .223 Remington (M193)
Kiểu vỏ đạn Không vành,vỏ thắt cổ chai
Đường kính đạn 5,70 mm (0,224 in)
Đường kính cổ 6,43 mm (0,253 in)
Đường kính thân 9,00 mm (0,354 in)
Đường kính dưới 9,58 mm (0,377 in)
Đường kính vành 9,60 mm (0,378 in)
Độ dày vành 1,14 mm (0,045 in)
Chiều dài vỏ đạn 44,70 mm (1,760 in)
Chiều dài tổng thể 57,40 mm (2,260 in)
Dung tích vỏ đạn 1.85 cm³ (29 gr H2O)
Chiều dài rãnh xoắn nòng 1 in 7 in (178 mm) hay 1 in 9 in (229 mm)
Kiểu hạt lửa Small rifle
Áp suất tối đa 430,00 MPa (62.366 psi)
Thông số đường đạn
Trọng lượng / Kiểu đạn Sơ tốc Năng lượng
3,56 g (54,9 gr) XM193 FMJBT 993 m/s (3.260 ft/s) 1.755 J (1.294 ft⋅lbf)
g (62 gr) SS109 FMJBT 948 m/s (3.110 ft/s) 1.797 J (1.325 ft⋅lbf)
g (62 gr) M855A1 FMJBT 961 m/s (3.150 ft/s) 1.847 J (1.362 ft⋅lbf)
4,1 g (63 gr) DM11 FMJBT 856 m/s (2.810 ft/s) 1.796 J (1.325 ft⋅lbf)
4,1 g (63 gr) GP 90 FMJBT 851 m/s (2.790 ft/s) 1.679 J (1.238 ft⋅lbf)
Test barrel length: 508 mm (20,0 in)
Source: NATO EPVAT testing, QuickLOAD, SAAMI, C.I.P.[1][2][3][4]

5,56×45mm NATO (tên gọi chính thức theo định danh NATO: 5,56 NATO, thường được đọc là "five-five-six") là một họ đạn cỡ trung gian kiểu không vành, vỏ thắt cổ chai, điểm hỏa trung tâm, được FN Herstal phát triển tại Bỉ vào cuối thập niên 1970.[5] Họ đạn này gồm các biến thể SS109, L110 và SS111. Ngày 28 tháng 10 năm 1980, theo STANAG 4172, nó được tiêu chuẩn hóa thành loại đạn súng trường tiêu chuẩn thứ hai cho lực lượng NATO, và cũng được nhiều quốc gia ngoài NATO sử dụng.[5][6][7] Mặc dù không hoàn toàn giống hệt nhau, họ đạn 5,56×45mm NATO được phát triển dựa trên đạn .223 Remington do Remington Arms thiết kế vào đầu thập niên 1960, và có vỏ đạn gần như tương đồng. Tuy nhiên, kích thước buồng đạn giữa các khẩu súng được chế tạo cho từng loại đạn có khác biệt nhỏ. Những khác biệt này có thể gây ra áp suất buồng đạn không an toàn khi bắn đạn 5.56 NATO trong các khẩu súng thiết kế cho .223 Remington. Vì vậy, không khuyến nghị kết hợp theo cách này.[8]

Lịch sử

Tập tin:7.62x51 and 5.56x45 bullet cartridges compared to AA battery.jpg
The 7.62×51mm NATO and 5.56×45mm NATO cartridges compared to an AA battery

Năm 1954, loại đạn súng trường 7,62×51mm NATO cỡ lớn hơn[9] được chọn làm loại đạn súng trường tiêu chuẩn đầu tiên của NATO. Tuy nhiên, ngay tại thời điểm lựa chọn đã có chỉ trích rằng độ giật của 7,62×51mm NATO khi bắn từ súng trường hiện đại nhẹ ở chế độ tự động khiến người bắn khó kiểm soát, do đó các phát bắn tự động liên tiếp không đủ độ chính xác, mà sẽ tản mát quanh mục tiêu.[10]

Người Anh đã có nhiều bằng chứng từ các thử nghiệm của họ về đạn cỡ trung từ năm 1945, và họ gần như sắp chính thức sử dụng loại đạn .280 (7 mm × 43mm) thì quyết định chọn 7,62×51mm (.308) làm chuẩn NATO được đưa ra. FN cũng tham gia phát triển đạn .280, trong đó có việc phát triển một phiên bản FN FAL dùng đạn .280.[11] Concerns about the recoil and overall effectiveness of 7.62 mm were overruled by the US, and the other NATO nations accepted that standardization was more important than the selection of a cartridge that was otherwise ideal.[5] Người Anh đã có nhiều bằng chứng từ các thử nghiệm của họ về đạn cỡ trung từ năm 1945, và họ gần như sắp chính thức sử dụng loại đạn .280 (7 mm × 43mm) thì quyết định chọn 7,62×51mm (.308) làm chuẩn NATO được đưa ra. FN [11] Những lo ngại về độ giật và hiệu quả tổng thể của 7,62 mm đã bị Hoa Kỳ bác bỏ, và các nước NATO khác chấp nhận rằng tiêu chuẩn hóa quan trọng hơn việc chọn một loại đạn "lý tưởng" hơn về mặt khác.[5]

Tập tin:Modern-rifle-cartridges-case-5.56.jpg
Vỏ đạn súng trường tiêu chuẩn của quân đội: (từ trái sang phải) 7.62×54mmR, 7.62×51mm NATO, 7.62×39mm, 5.56×45mm NATO, 5.45×39mm

Sự phát triển của loại đạn sau này trở thành .223 Remington (nguồn gốc của 5,56mm NATO) gắn liền với việc phát triển một súng trường chiến đấu mới, nhẹ. Đạn và súng được phát triển như một hệ thống thống nhất bởi Fairchild Industries, Remington Arms, và một số kỹ sư làm việc theo mục tiêu do Bộ Tư lệnh Lục quân Lục địa Hoa Kỳ (CONARC) đề ra. Các nghiên cứu ban đầu bắt đầu từ năm 1957. Một dự án chế tạo vũ khí cỡ nòng nhỏ, tốc độ cao được khởi động. Eugene Stoner của Armalite được mời để thu nhỏ thiết kế AR-10 sử dụng cỡ đạn 7,62mm. Winchester cũng được mời tham gia.[5][12] Các tham số CONARC yêu cầu bao gồm:

  • Cỡ .22
  • Đầu đạn vượt tốc độ âm ở khoảng cách 500 thước Anh (457 mét)[12]
  • Trọng lượng súng 6 pound (2,72 kilôgam)
  • Sức chứa hộp tiếp đạn 20 viên
  • Có thể lựa chọn chế độ bắn giữa bán tự động và tự động hoàn toàn
  • Xuyên được tại mặt bên mũ thép M1 ở khoảng cách 500 yd (457 m)
  • Xuyên được tấm thép dày 0,135 inch (3,43 milimét) ở khoảng cách 500 yd (457 m)
  • Độ chính xác và đường đạn tương đương đạn M2 ball (.30-06 Springfield) đến 500 yd (457 m)
  • Khả năng gây thương tích tương đương M1 carbine[5]

Kỹ sư Earle Harvey của Springfield Armory đã kéo dài vỏ đạn .222 Remington để đáp ứng yêu cầu. Khi đó nó được gọi là .224 Springfield. Đồng thời với dự án SCHV, Springfield Armory cũng đang phát triển một khẩu súng trường 7,62mm. Harvey được lệnh dừng toàn bộ công việc với SCHV để tránh cạnh tranh nguồn lực.

Eugene Stoner của Armalite (một bộ phận của Fairchild Industries) được đề nghị chế tạo một phiên bản thu nhỏ của thiết kế AR-10 7,62mm. Vào tháng 5 năm 1957, Stoner trình diễn bắn đạn thật nguyên mẫu AR-15 cho Tướng Willard G. Wyman, Tổng tư lệnh CONARC. Sau đó, CONARC đặt súng để thử nghiệm. Stoner và Frank Snow của Sierra Bullet bắt đầu làm việc với đạn .222 Remington. Dùng máy tính đạn đạo, họ xác định rằng đầu đạn 55 grain phải được bắn ở tốc độ 3.300 ft/s (1.006 m/s) để đạt hiệu năng cần thiết ở cự ly 500 yard.[5]

Robert Hutton (biên tập kỹ thuật của tạp chí Guns & Ammo) bắt đầu phát triển liều thuốc phóng để đạt mục tiêu 3.300 ft/s (1.006 m/s) Ông dùng DuPont IMR4198, IMR3031, và một loại thuốc phóng của Olin để xây dựng các liều nạp. Thử nghiệm được thực hiện bằng súng Remington 722 với nòng Apex dài 22 inch. Trong một buổi trình diễn công khai, viên đạn xuyên được mũ thép M1 đúng như yêu cầu. Tuy nhiên, thử nghiệm cho thấy áp suất buồng đạn tăng quá cao.[5][12]

Stoner liên hệ cả Winchester và Remington về việc tăng thể tích vỏ đạn. Remington tạo ra một cỡ đạn lớn hơn gọi là “.222 Special”, sử dụng thuốc phóng DuPont IMR4475.[5] Trong các thử nghiệm song song của T44E4 (sau này là M14) và AR-15 vào năm 1958, T44E4 gặp 16 lỗi trên mỗi 1.000 viên, trong khi AR-15 là 6,1 lỗi.[5]

Do có nhiều loại đạn cỡ .222 được phát triển cho dự án SCHV, .222 Special được đổi tên thành .223 Remington vào năm 1959. Vào tháng 5 năm 1959, một báo cáo cho biết các tiểu đội 5–7 người trang bị AR-15 có xác suất trúng cao hơn so với tiểu đội 11 người trang bị M-14. Trong một buổi dã ngoại ngày 4 tháng 7, Tướng Không quân Curtis LeMay bắn thử AR-15 và rất ấn tượng. Ông đặt mua một số lượng để thay thế M2 carbine đang dùng trong Không quân. Đến tháng 11, thử nghiệm tại Aberdeen Proving Ground cho thấy tỷ lệ lỗi của AR-15 giảm còn 2,5 lỗi/1.000 viên, dẫn tới việc M-16 được phê duyệt cho các thử nghiệm của Không quân.[5]

Thử nghiệm bắn chính xác năm 1961 so sánh M-16 với M-14 cho thấy 43% xạ thủ M-16 đạt mức "chuyên gia", trong khi chỉ 22% xạ thủ M-14 đạt được. Tướng LeMay sau đó đặt 80.000 khẩu M-16.[5]

Vào mùa xuân năm 1962, Remington nộp thông số .223 Remington cho SAAMI (Sporting Arms and Ammunition Manufacturers’ Institute). Đến tháng 7 năm 1962, thử nghiệm thực địa kết thúc với khuyến nghị tiếp nhận súng trường M-16 dùng đạn .223 Remington.[5]

Vào tháng 9 năm 1963, đạn .223 Remington được chấp nhận chính thức và đặt tên "Cartridge, 5.56mm ball, M193". Tiêu chuẩn này gồm đầu đạn do Remington thiết kế và sử dụng thuốc phóng IMR4475, tạo sơ tốc đầu nòng 3.250 ft/s (991 m/s) và áp suất buồng đạn 52,000 psi.[5]

Năm 1970, các nước NATO ký thỏa thuận chọn một loại đạn thứ hai, cỡ nhỏ hơn, để thay thế 7,62×51mm NATO.[13] Trong số các loại đạn dự thầu, .223 Remington (M193) là nền tảng cho một thiết kế mới do FN Herstal phát triển. Loại do FN tạo ra được đặt tên "5.56×45mm NATO", với ký hiệu quân sự SS109 tại NATO và M855 tại Hoa Kỳ.[8] Các viên đạn SS109 mới này yêu cầu bước xoắn 228 mm (1 vòng/9 inch); trong khi để ổn định tốt đầu đạn vạch đường L110 dài hơn thì cần bước xoắn nhanh hơn nữa là 178 mm (1 vòng/7 inch).[5]

Loại đạn SS109 62 grain của Bỉ được chọn để tiêu chuẩn hóa thành loại đạn súng trường chuẩn thứ hai của NATO, dẫn tới tiêu chuẩn STANAG 4172 vào tháng 10 năm 1980. SS109 dùng đầu đạn 62 grain kiểu full metal jacket với mũi thép mềm 7 grain, nhằm đẩy trọng tâm về phía sau, tăng ổn định bay và vì vậy tăng khả năng đầu đạn lao trúng theo hướng mũi ở cự ly xa, một phần để đáp ứng yêu cầu rằng đầu đạn phải xuyên được mặt bên mũ M1 của Mỹ thời Thế chiến II ở 500 yard (457 m) (đây cũng là yêu cầu cho đạn 7,62×51mm NATO). Trong thử nghiệm phát triển, họ không dùng mũ thật mà dùng tấm thép mềm SAE 1010 hoặc SAE 1020, đặt để viên đạn đánh trúng ở góc 90° chính xác. SS109 có vận tốc đầu nòng thấp hơn chút, nhưng hiệu năng tầm xa tốt hơn nhờ mật độ tiết diện cao hơn và hệ số cản tốt hơn.

Đạn .223 Remington đã tạo ra xu hướng quốc tế hướng tới các loại đạn quân dụng nhỏ, nhẹ, tốc độ cao, cho phép lính mang nhiều đạn hơn với cùng khối lượng so với các loại đạn lớn và nặng trước đó, có đặc tính "tầm bắn thẳng tối đa" thuận lợi, đồng thời tạo lực đẩy khóa nòng và xung giật tự do tương đối thấp, giúp thiết kế vũ khí nhẹ và cải thiện độ chính xác khi bắn ở chế độ tự động.[11][14][15]

Kích thước đạn

Vỏ đạn 5.56×45mm NATO có dung tích 1,85 mL (28,5 gr H2O).

Tập tin:5.56×45mm NATO cross section (3D model).png
Mặt cắt ngang của đạn 5.56×45mm NATO

Tập tin:5.56x45mm NATO.svg


Kích thước tối đa của đạn 5.56×45mm theo tiêu chuẩn NATO, tất cả các kích thước tính bằng milimét (mm)

Tỷ lệ xoắn của rãnh xoắn cho loại đạn này là 177,8 mm (1:7 inch), 6 rãnh xoắn về phía bên phải, đường kính phần lồi (Ø lands) = 5,56 milimét (0,219 in), đường kính rãnh (Ø grooves) = 5,69 milimét (0,224 in).[6]


Theo tiêu chuẩn STANAG 4172 và các hướng dẫn kiểm tra chứng thực chính thức của NATO, vỏ đạn 5.56×45mm NATO có thể chịu được áp suất vận hành đo bằng cảm biến áp điện lên đến 420,0 MPa (60.916 psi). Trong các tổ chức do NATO quản lý, mọi tổ hợp súng và đạn đều phải được kiểm tra áp lực (proofed) ở mức 537,5 MPa (77.958 psi) để được chứng nhận đưa vào biên chế.[16]

Tiêu chuẩn STANAG 4172 xác định loại đạn SS109 của Bỉ là đạn tham chiếu của NATO và bổ sung một số lượng đáng kể các yêu cầu kỹ thuật như: áp suất tối thiểu đạt 88,0 MPa (12.763 psi) tại lỗ trích khí cách buồng đạn 280 milimét (11,0 in) (trên nòng thử nghiệm tiêu chuẩn dài 508 milimét (20,0 in)) và độ nhạy của hạt nổ. Những yêu cầu này không được định nghĩa trong các quy định và khuyến nghị dân sự của C.I.P.SAAMI.[6]

Liên minh quân sự NATO sử dụng một lớp quy trình được công nhận riêng để kiểm soát an toàn và chất lượng đạn dược vũ khí bộ binh gọi là NATO EPVAT testing. Các tổ chức dân sự như C.I.P. và SAAMI sử dụng các quy trình thử nghiệm ít toàn diện hơn so với NATO.

Sổ tay Kiểm tra và Chứng thực NATO AC/225 (LG/3-SG/1) D/8 quy định rằng: mỗi vũ khí và bộ phận được coi là dễ bị tổn thương bởi tác động của sự thay đổi áp suất đột ngột (ví dụ: nòng súng, khóa nòng và bệ khóa nòng) sẽ được thử nghiệm bằng cách bắn một viên đạn khô ở mức áp suất dư tối thiểu 25% và một viên đạn tẩm dầu ở mức áp suất dư tối thiểu 25%. Mức áp suất dư 25% có nghĩa là cao hơn 25% so với áp suất vận hành tối đa (Pmax) của đạn 5.56×45mm NATO (lên đến 430,0 MPa (62.366 psi)). Áp suất vận hành được định nghĩa là áp suất trung bình tạo ra bởi đạn tiêu chuẩn ở nhiệt độ 21 °C (70 °F). Việc thử nghiệm áp lực cao như vậy được thực hiện với cả vũ khí và đạn dược được điều chỉnh ở nhiệt độ môi trường 21 °C (70 °F). Mỗi vũ khí sẽ được kiểm tra riêng lẻ bằng cách sử dụng một lô đạn đáp ứng áp suất buồng đạn trung bình đã được hiệu chỉnh tối thiểu. Yêu cầu áp suất thử nghiệm đã hiệu chỉnh (áp suất vận hành (Pmax) + 25%) cho đạn 5.56×45mm NATO theo STANAG 4172 là 537,3 MPa (77.929 psi) (PE). Áp suất này phải được ghi lại trong nòng súng tiêu chuẩn EPVAT của NATO bằng cảm biến Kistler 6215,[17][18] cảm biến HPI GP6[19] hoặc bằng các thiết bị đáp ứng yêu cầu của C.I.P.[16]

Tổ chức SAAMI của Hoa Kỳ niêm yết áp suất trung bình tối đa (MAP) cho loại đạn .223 Remington là 55.000 psi (379,2 MPa) áp suất piezo với độ lệch cho phép lên đến 58.000 psi (399,9 MPa).[20]

Các cấu hình nòng súng trường

Khi đạn 5.56×45mm NATO được chấp nhận làm tiêu chuẩn vào năm 1980, NATO đã chọn tỷ lệ xoắn của rãnh khương tuyến là 178 mm (1:7) cho các buồng đạn 5.56×45mm NATO để ổn định đầy đủ cho loại đầu đạn vạch đường NATO L110/M856 5.56×45mm NATO tương đối dài.[5][21][22] Vào thời điểm đó, Hoa Kỳ đã chuyển đổi tất cả súng trường trong kho bằng cách thay thế nòng súng, và tất cả các loại súng trường quân sự mới của Hoa Kỳ kể từ đó đều được sản xuất với tỷ lệ này.[23]

Tại Hoa Kỳ, những nhà sản xuất súng trường kiểu AR có thể tùy chọn các loại nòng súng với buồng đạn .223 Remington, .223 Wylde, 223 Noveske, hoặc 5.56×45mm NATO với chiều dài từ kiểu súng ngắn (7.5") đến súng trường dài (24"). Các loại nòng này cũng có sẵn với tỷ lệ xoắn rãnh khương tuyến từ 356 mm (1:14) đến 178 mm (1:7). Các nhà sản xuất Hoa Kỳ đang tiến tới tiêu chuẩn hóa 5.56×45mm NATO và bước xoắn 178 mm (1:7) để đảm bảo ít rủi ro về trách nhiệm pháp lý nhất.[23] Những khẩu súng có buồng đạn .223 Remington có thể không có bước xoắn đủ nhanh để ổn định các đầu đạn 5.56×45mm NATO dài hơn, vốn có trọng lượng lên tới 77 gr. Một số loại đạn săn của .223 Remington thậm chí lên tới 90 grain.[23][24]

Tham khảo

  1. ^ "Téléchargement" [Downloads]. C.I.P. (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2008.
  2. ^ "MIL-C-9963F, Military Specification: Cartridge, 5.56mm, Ball, M193". 1999.
  3. ^ Clark, Philip (tháng 4 năm 2012). "M855A1 Enhanced Performance Round (EPR)" (PDF). Maneuver Ammunition Systems. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2017.
  4. ^ Woods, Jeffrey K. (ngày 4 tháng 5 năm 2011). "M855A1 Enhanced Performance Round (EPR) Media Day" (PDF). Defense Technical Information Center. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Watters, Daniel. "A 5.56 x 45mm "Timeline"". The Gun Zone. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2017.
  6. ^ a ă â "STANAG 4172 5.56 mm Ammunition (Linked or Otherwise)" (PDF). NATO Military Agency for Standardization. tháng 5 năm 1993. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  7. ^ Arvidsson, Per G. (2008). "NATO Infantry Weapons Standardization" (PDF). NATO Army Armaments Group. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2012.
  8. ^ a ă Towsley, Bryce (ngày 4 tháng 3 năm 2013). ".223 Remington Vs. 5.56: What's in a Name?". American Rifleman. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2017.
  9. ^ Barnes, Frank C. (1972). Cartridges of the World. Northfield, IL: DBI Books. tr. 37. ISBN 978-0-695-80326-1.
  10. ^ Tong, David (2006). "U.S. Rifle, cal. 7.62mm, M14". Chuckhawks.com. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2017.
  11. ^ a ă â "Assault Rifles and Their Ammunition: History and Prospects". Anthony G. Williams. tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2014.
  12. ^ a ă â Barnes, Frank C. (2016). Cartridges of the World. Iola, WI: Krause Publishing. tr. 88. ISBN 978-1-4402-4265-6.
  13. ^ Hogg, Ian V. Jane's Infantry Weapons 1986-87. tr. 362.
  14. ^ "An Improved Battlesight Zero for the M4 Carbine and M16A2 Rifle". AR15.com. 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2007.
  15. ^ "TM 9-1005-319-10 (2010) - Operator's Manual for Rifle, 5.56 MM, M16A2/M16A3/M4 (Battlesight Zero pages 48-55)" (PDF). AR15.com. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2014.
  16. ^ a ă "Proof of Ordnance, Munitions, Armour and Explosives, Ministry of Defence Defence Standard 05-101 Part 1" (PDF). UK Ministry of Defence. ngày 20 tháng 5 năm 2005. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011.
  17. ^ "Defining Parameters for Ballistic High Pressure Sensors" (PDF). Kistler Group. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2020.
  18. ^ "Type 6215 Quartz High-Pressure Sensor for Ballistic Pressure Measurement to 6,000 bar" (PDF). Kistler Group. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2023 – qua Industrial Engineering News Europe.
  19. ^ "HPI Piezoelectric High Pressure Transducers – GP Series including NATO Approval" (PDF). HPI GmbH. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  20. ^ "SAAMI Pressures". Leverguns.com. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007.
  21. ^ "Armalite / Colt AR-15 / M16 M16A1 M16A2 M16A3 M16A4 assault rifle (USA)". Modern Firearms.net. ngày 27 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2017.
  22. ^ "Some Skinny on the NATO 5.56mm L110/M856 Tracer Round". LaissezFirearm.info. tháng 5 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2022.
  23. ^ a ă â Wood, Keith (ngày 17 tháng 11 năm 2016). "How to Pair Barrel Twist Rates with Bullets". Guns & Ammo. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2017.
  24. ^ ".22 Caliber (.224) 90 GR. HPBT Match". Sierra Bullets.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2017.