Aegotheles albertisi là một loài chim trong họ Aegothelidae.[1] Chúng được tìm thấy ở vùng cao nguyên New Guinea. Môi trường sống tự nhiên của chúng là các khu rừng núi ẩm cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới.[2]

Aegotheles albertisi
Tập tin:Mountain Owlet-nightjar 0A2A2544.jpg
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Aves
nhánh: Strisores
Bộ: Aegotheliformes
Họ: Aegothelidae
Chi: Aegotheles
Loài:
A. albertisi
Danh pháp hai phần
Aegotheles albertisi
Sclater, PL, 1874
Tập tin:Aegothelesalbertisidist.png
Các đồng nghĩa
  • Aegotheles archboldi

Phân loại và nguồn gốc

Aegotheles albertisi thuộc về họ Aegothelidae, thường được biết đến với tên gọi owlet-nightjars trong tiếng Anh. Aegothelidae gồm một chi còn tồn tại, Aegotheles, bao gồm chín loài hiện còn tồn tại (xem Aegotheles crinifrons, Aegotheles insignis, Aegotheles cristatus, Aegotheles savesi, Aegotheles bennettii, Aegotheles wallacii, Aegotheles tatei).[3] Có một loài cú muỗi trong họ Aegothelidae đã tuyệt chủng được biết đến, thuộc chi riêng biệt là Megaegotheles.[3]

Aegotheles albertisi chủ yếu có quan hệ gần gũi với loài Aegotheles archboldi, cùng tạo thành một siêu loài. Hai loài này lúc trước từng được xem là cùng một loài, sau đó chúng được xác định là cùng sinh sống tại khu vực hồ Paniai.[4] Gần đây nhất, loài Aegotheles archboldi đã được gộp chung với Aegotheles albertisi trong cập nhật phân loại của eBird năm 2022.[5] Hiện tại, loài này được xem là đơn loài, bao gồm bốn đơn vị phân loại trước đây (A. albertisi albertisi, A. albertisi salvatorii, A. albertisi wondiwoi, A. archboldi). Việc gộp chung này dựa trên những nghiên cứu về sự biến đổi không nhất quán của bộ lông giữa bốn nhóm trên.[6]

Nhận dạng

Aegotheles albertisi có mỏ rộng, chân ngắn, và tư thế thẳng đứng.[3] Mắt của chúng hướng về phía trước và được bảo vệ bởi một loạt các sợi lông giống như râu.[7] Đây là một loài nhỏ có màu sẫm trong họ Aegothelidae, chiều dài khoảng 18–22 cm với sải cánh khoảng 50 cm và cân nặng từ 25–40 g. Chim đực và chim cái có bộ lông và kích thước tương tự nhau.[4]

Bộ lông

Aegotheles albertisi có sự thay đổi lớn về bộ lông giữa các cá thể.[6] Các biến thể màu sắc dao động từ nâu sẫm đến màu nâu đỏ với nhiều sắc thái trung gian. Ngoài ra, còn có sự khác biệt lớn giữa từng cá thể về hoa văn trên bộ lông. Sự biến đổi màu sắc và hoa văn bộ lông trên các cá thể loài Aegotheles albertisi không nhất quán theo địa lý, khiến việc mô tả các phân loài của loài này theo địa lý trở nên không chắc chắn.[6] Tính đa dạng của bộ lông có thể đóng vai trò như một cơ chế ngụy trang giữa bối cảnh rừng rậm.[6]

Nhìn chung, phần trên cơ thể và lông bao cánh có màu nâu đỏ hoặc nâu với các đốm màu trắng xám.[4] Chim non thường có sắc nâu đỏ rực hơn so với chim trưởng thành. Có các vạch sọc màu vàng nhạt ở hai bên đỉnh đầu và một mảng màu nâu vàng nổi bật phía sau mỗi mắt.[6] Vòng cổ có màu trắng xám hoặc vàng nhạt, hẹp dần quanh gáy.[4] Hai bên cổ và cổ họng có các đốm và vạch ngang màu nâu.[4] Phần bụng có màu vàng nhạt hoặc trắng với những đốm nâu; các vệt hoa văn này thường tạo thành hình chữ V rõ rệt kéo dài xuống ngực.[4][6]

Môi trường sinh sống và phạm vi phân bố

Aegotheles albertisi chủ yếu được tìm thấy trong các khu rừng núi cao của New Guinea. Chúng là loài ưa thích những khu vực có tán lá rậm rạp hoặc rìa rừng.[6] Loài này cũng có thể xuất hiện tại các trảng cây dương xỉ và vườn tược.[4] Chúng phân bố ở độ cao dao động từ 1.200 tới 2.700 mét.[4] Loài này ưa thích các môi trường ẩm ướt, nơi có nguồn côn trùng đa dạng để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng.[4][6]

Hành vi và sinh thái học

Aegotheles albertisi được cho là hoạt động về đêm hoặc vào lúc chạng vạng.[4] Ban ngày, chúng thường ẩn náu trong các hốc cây để tránh các loài săn mồi.[8]

Tiếng kêu

Tiếng kêu của loài được mô tả là từ hai tới bốn (thường là ba) hồi huýt sáo có tông trung bình, nhịp chậm và hơi khàn.[4][9] Các nốt có cao độ ngang nhau hoặc hơi luyến xuống, với mỗi nốt sau cao hơn nốt trước nửa tông.[4][6] Tiếng kêu này thường liên quan tới các hành vi bảo vệ lãnh thổ hoặc thu hút bạn tình.[6]

Thức ăn và kiếm ăn

Loài này được coi là loài ăn côn trùng, thức ăn chủ yếu là các loài chân đốt trên mặt đất. Phân tích thành phần phân và dạ dày chỉ ra rằng bọ cánh cứng là con mồi ưa thích của chúng. Giun đất (Phân lớp Oligochaeta) thỉnh thoảng được quan sát thấy trong khẩu phần ăn của chúng, nhưng chỉ sau những đợt mưa lớn hoặc kéo dài, cho thấy loài Aegotheles albertisi có thể tận dụng cơ hội săn giun đất khi số lượng lớn giun đất bò ra khỏi nền rừng trong những sự kiện thời tiết như vậy.[10] Chúng thông thường săn mồi là côn trùng khi đang bay hoặc bằng những cú lao nhanh từ chỗ đậu, nhưng cũng có thể đuổi con mồi của chúng trên mặt đất.[6]

Trạng thái và bảo tồn

Loài này hiện được liệt kê là loài ít quan tâm theo danh lục của IUCN và được đánh giá lần cuối vào năm 2024.[1] Người ta nghi ngờ rằng số lượng quần thể đang có xu hướng giảm sút. Aegotheles albertisi có phạm vi phân bố rộng, vượt xa ngưỡng bị đe dọa về diện tích phân bố (dưới 20.000 km²).[11] Số lượng cá thể hiện tại chưa rõ, nhưng được tin là vẫn vượt ngưỡng 10.000 cá thể trưởng thành.[11] Mặc dù có xu hướng giảm, nhưng tốc độ suy giảm được cho là không đủ nhanh để xếp vào loại sắp nguy cấp.[11]

Chú thích

  1. ^ a b c BirdLife International (ngày 12 tháng 6 năm 2024). "Aegotheles albertisi". IUCN Red List of Threatened Species. 2024: e.T22689576A264072510. doi:10.2305/IUCN.UK.2024-2.RLTS.T22689576A264072510.en. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2026.
  2. ^ Lepage, Denis. "Avibase - Bảng dữ liệu chim thế giới: Cu cu tái (Heteroscenes pallidus)". Avibase. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2026.
  3. ^ a b c Dumbacher, Jack P. (tháng 12 năm 2003). "Phylogeny of the owlet-nightjars (Aves: Aegothelidae) based on mitochondrial DNA sequence". Molecular Phylogenetics and Evolution. 29 (3): 540–549. doi:10.1016/s1055-7903(03)00135-0. ISSN 1055-7903.
  4. ^ a b c d e f g h i j k l Cleere, Nigel (1998). Nightjars: A Guide to Nightjars and related birds (bằng tiếng Anh). Sussex, UK: Pica Press. tr. 352. ISBN 1408135477.
  5. ^ "2022 eBird Taxonomic Update". eBird Science. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2025.
  6. ^ a b c d e f g h i j k "Caprimulgiformes". Birds of New Guinea: Distribution, Taxonomy, and Systematics. Princeton: Princeton University Press. ngày 31 tháng 12 năm 2016. tr. 148–163. doi:10.1515/9781400880713-016. ISBN 978-1-4008-8071-3. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2026.
  7. ^ Pratt, Thane K. (2000). "Evidence for a Previously Unrecognized Species of Owlet-Nightjar". The Auk. 117 (1): 1–11. doi:10.1093/auk/117.1.1. ISSN 1938-4254.
  8. ^ Nicolle, C.; Grosset, A. "Family Aegothelidae". Oiseaux-Birds (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2026.
  9. ^ Holyoak, David T. (2001). Nightjars and Their Allies: The Caprimulgiformes. Oxford, New York: Oxford University Press. tr. 606–608. ISBN 978-0198549871.
  10. ^ Schulz, Martin (1988). "The Diet of the Mountain Owlet-Nightjar Aegotheles albertisi" (PDF). Corella. 12 (2). Australian Bird Study Association Inc.: 59–61.
  11. ^ a b c "Mountain Owlet-nightjar Aegotheles Albertisi Species Factsheet". BirdLife DataZone (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value). Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).