Linh dương Impala

(Đổi hướng từ Aepyceros melampus)

Bản mẫu:Taxobox/speciesLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Autotaxobox”.Bản mẫu:Taxonomy

Bản mẫu:Speciesbox/parameterCheckLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Bản mẫu:Speciesbox/name
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Con đực tại miền bắc Botswana
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Linh dương cái và con non tại vườn quốc gia Kruger, Nam Phi
Phân loại khoa học edit
Danh pháp hai phần
Bản mẫu:Taxon infoBản mẫu:Taxon italics
(Lichtenstein, 1812)
Phân loài
  • A. m. melampus Lichtenstein, 1812
  • A. m. petersi Bocage, 1879
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Phân bố:
      impala mặt đen
      impala thường
Các đồng nghĩa[1]

Bản mẫu:Collapsible list

Linh dương Impala (danh pháp hai phần: Aepyceros melampus) là một loài linh dương châu Phi. Tên gọi impala có nguồn gốc từ tiếng Zulu. Chúng được tìm thấy ở thảo nguyên và thảo nguyên cây bụi ở Kenya, Tanzania, Eswatini, Mozambique, bắc Namibia, Botswana, Zambia, Zimbabwe, nam Angola, đông bắc Nam PhiUganda. Linh dương Impala có thể tập hợp thành đàn lên đến 2 triệu con ở châu Phi.[2]

Miêu tả

Linh dương Impala là loài lưỡng hình giới tính.[3] Chúng cao Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.. Khối lượng trung bình con đực là 40 đến 75 kg (88 170 lb), trong khi con cái nặng khoảng 30 đến 50 kg (66 đến 110 lb). Bộ lông ngắn và bóng, bình thường màu nâu đỏ (vì vậy tên Afrikaans rooibok, không nên nhầm lẫn với rhebok có sườn nhẹ hơn và dưới bụng trắng với dấu chữ "M" ở phía sau.[4]

Chỉ có những con đực có các sừng hình đàn lia, có thể lên tới 45–92 cm (18–36 in) chiều dài. Con cái không có sừng.[4] Nó có sọc màu đen và trắng đặc biệt chạy xuống mông và đuôi.[3] Linh dương Impala đen, được tìm thấy ở những nơi rất ít ở châu Phi, là một loại cực kỳ hiếm. Một gen lặn làm chúng có màu đen ở loài động vật này.[5] Linh dương Impala có tuyến mùi hương được nằm dưới lớp lông ở các bàn sau và tuyến bã nhờn trên đầu.[6]

Hình ảnh

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Bản mẫu:MSW3 Artiodactyla
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên iucn status 20 December 2021
  3. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Side box Bản mẫu:Commonscat

Bản mẫu:Taxonbar Bản mẫu:Artiodactyla


Bản mẫu:Artiodactyla-stub