Alexandria
Alexandria[a] là thành phố lớn thứ hai của Ai Cập, và là hải cảng lớn nhất của Ai Cập, là nơi khoảng 80% hàng xuất khẩu và nhập khẩu của cả nước phải đi qua. Alexandria cũng là một trung tâm du lịch lớn.
| Alexandria Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). | |
|---|---|
| — Thành phố — | |
Hiệu kỳ Ấn chương Biểu trưng chính thức của Alexandria Biểu trưng | |
| Lỗi Lua trong Mô_đun:Location_map tại dòng 461: Giá trị "<strong class="error"><span class="scribunto-error mw-scribunto-error-c559e89c">Lỗi Lua trong Mô_đun:Thông_tin_khu_dân_cư tại dòng 426: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).</span></strong>" không phải là kinh độ hợp lệ.Vị trí tại Ai Cập | |
| Quốc gia | Ai Cập |
| Tỉnh | Alexandria |
| Thành lập | 331 TCN |
| Chính quyền | |
| • Thống đốc | Ayman Mohammed Ibrahim Ahmed Ateyya[1] |
| Diện tích | |
| • Đô thị[2] | 1,108 km2 (0,428 mi2) |
| • Vùng đô thị[3] | 1,661 km2 (0,641 mi2) |
| Độ cao[2] | −1 m (−3 ft) |
| Dân số (2023) | |
| • Thứ hạng | 2 |
| • Đô thị[2] | 5,362,517 |
| • Mật độ đô thị | 4,8/km2 (13/mi2) |
| • Vùng đô thị[3] | 6,100,000 |
| • Mật độ vùng đô thị | 3,7/km2 (9,5/mi2) |
| GDP (danh nghĩa, giá trị năm 2015) | |
| • Năm | 2024 |
| • Tổng cộng (vùng đô thị) | $26,7 tỷ[4] |
| • Bình quân đầu người | $4.306 |
| • Mùa hè (DST) | EEST (UTC+3) |
| Mã bưu chính | 21xxx |
| Website | alexandria |
Thành phố Alexandria dài khoảng 32 km (20 miles) dọc theo bờ Địa Trung Hải. Thành phố này là một trung tâm kỹ nghệ lớn nhờ có khí đốt và ống dẫn dầu đến từ kênh Suez. Các kỹ nghệ tại Alexandria gồm có nhà máy lọc dầu, nhà máy xi-măng, xưởng đóng tàu, dệt vải, thuộc da, làm giấy, kỹ nghệ thực phẩm, hóa chất và cơ khí. Alexandria cũng là một trung tâm mậu dịch quan trọng giữa châu Âu và châu Á, nhờ vị trí gần kênh Suez.
Alexandria có trụ sở của giáo hội Chính thống giáo Coptic. Hơn 95% người Copt trên khắp thế giới là thành viên của giáo hội này. Số người Copt trên thế giới được ước lượng - với nhiều tranh cãi - từ 8 đến 18 triệu người.
Trước thời huy hoàng của thành Roma, Alexandria là thành phố đông dân nhất của khu vực Địa Trung Hải. Alexandria cũng nổi tiếng nhờ ngọn hải đăng Alexandria, một trong 7 kỳ quan của thế giới thời thượng cổ, khu văn hoá Museion nơi tập trung tinh hoa của giới trí thức Hy Lạp cổ đại, Thư viện Alexandria, và nhiều toà kiến trúc nổi tiếng khác.
Alexandria ngày nay cũng là nơi nhiều di chỉ khảo cổ được tiếp tục khám phá, đặc biệt là những di chỉ khảo cổ dưới lòng biển kể từ năm 1994.
Tên gọi
Tiếng Ả Rập, khi nói đến Alexandria một cách trang trọng thì người ta thêm chữ al phía trước: al-Iskandareyya(h) (الإسكندرية), chẳng hạn trong các sách vở hoặc bài diễn văn. Chữ h sau chót luôn luôn được viết, nhưng khi thì được phát âm, khi thì không, vì không bắt buộc.
Các khẩu âm ở Ai Cập có thể phát âm là Eskenderreya hoặc Iskindereyya(h), nhưng viết thì y như nhau. Tiếng Ả Rập tiêu chuẩn thì phát âm là Iskandariyya(h).
Những người sinh trưởng tại Alexandria và tại thủ đô Cairo thì gọi Alexandria là "Alex" khi nói chuyện thông thường hàng ngày.
Tiếng Ả Rập, phương ngữ Ai Cập gọi người sinh trưởng ở Alexandria, hoặc người từ Alexandria đến là Esakandarani (اسكندراني).
Lịch sử
Năm 334 TCN, vua xứ Macedonia là Alexandros III (sau đó nổi tiếng với danh hiệu Alexandros Đại Đế) thống lĩnh liên quân Macedonia - Hy Lạp xâm lăng đế quốc Ba Tư. Cuối năm 332 TCN Alexandros Đại Đế chiếm được Ai Cập trong tay Ba Tư. Ngày 7 tháng 4 năm 331 TCN Alexandros ra lệnh xây một thành phố mới, mang tên ông: Alexandria, tại địa điểm của một thành phố xưa, đã có từ thời các pharaon, là thành Rhakotis. Vì vậy, người Copt, con cháu của người Ai Cập nguyên thủy, vẫn gọi Alexandria là Rakota.
Trong thời gian đầu, người ta thường gọi Alexandria của Ai Cập[7] (và ngày nay tiếng Ý vẫn còn gọi Alessandria d'Egitto) vì Alexandros Đại Đế đã ra lệnh xây rất nhiều thành phố mang tên ông.[8] Thành phố được quy hoạch bởi kỹ sư Dinocrates,[9] với những con đường thẳng tắp, ngăn ra những khu phố hình vuông hoặc chữ nhật. Lúc bấy giờ chu vi của thành phố đã đo được khoảng 14 đến 16 km!
Alexandros Đại Đế qua đời năm 323 TCN. Một viên cận thần của ông là Ptolemaios hùng cứ Ai Cập và lập nhà Ptolemaios, lấy Alexandria làm thủ đô. Nhà Ptolemaios đã xây cho Alexandria khu văn hóa, thư viện, ngọn hải đăng, lăng Alexandros Đại Đế và nhiều kiến trúc khác. Dân số Alexandria lên đến 1 triệu người vào khoảng năm 230 TCN và được coi là thành phố đông dân nhất thế giới mà người Âu biết được lúc bấy giờ.
Ai Cập bị La Mã chiếm năm 30 TCN, và Alexandria trở thành thủ phủ của tỉnh Ai Cập trong đế quốc La Mã. Năm 115, có nội chiến giữa người Hy Lạp và Do Thái, khiến Alexandria bị tàn phá. Hoàng đế La Mã là Hadrian ra lệnh cho kiến trúc sư Decriannus chỉ huy xây lại thành phố. Ngày 21 tháng 7 năm 365, Alexandria bị sóng thần tàn phá (Vụ động đất năm 365 tại đảo Crete),[10]
Ngày 8 tháng 11 năm 641, tướng Ả Rập là Amr ibn al-As ký hoà ước tiếp thu Alexandria trong tay đế quốc Đông La Mã. Từ đó Alexandria nằm trong vùng kiểm soát của người Ả Rập. Tên Alexandros vốn được Ả Rập hóa là Iskandar [11] và Alexandria được người Ả Rập gọi là Iskandariya. Các chính quyền Ả Rập đặt thủ phủ ở Fustat và Cairo.[12] Alexandria lùi về vị trí thành phố thứ nhì của Ai Cập, và đại khái giữ ngôi vị này cho đến ngày nay.
Quân Pháp của Napoléon chiếm Alexandria ngày 2 tháng 7 năm 1798. Quân Anh bao vây gần 6 tháng và chiếm Alexandria ngày 2 tháng 9 năm 1801. Tiếp theo đó Alexandria về tay tổng đốc Muhammad Ali của đế quốc Ottoman, người dựng lên một nước Ai Cập tự trị. Muhammad Ali cho xây lại thành phố khoảng năm 1810 và đến năm 1850 thì Alexandria lại có được vẻ huy hoàng của thời xưa.
Từ năm 1869, khi kênh Suez được khánh thành, Alexandria lại trở thành trung tâm buôn bán quan trọng nhất Ai Cập, với nhiều sắc dân nước ngoài đến định cư: người Hy Lạp, người Ý, người Pháp...
Năm 1882, Anh quốc đưa quân vào chiếm Ai Cập và Sudan. Trong cuộc xâm lăng này Alexandria bị hải quân Anh bắn phá vào tháng 7 năm 1882, trước khi bị người Anh chiếm lấy.
Địa lý
Khí hậu
Alexandria có khí hậu Địa Trung Hải, mùa đông ít lạnh mà nhiều mưa, hè nóng và ẩm. Tháng 1 và tháng 2 lạnh nhất, nhiệt độ từ 12 °C (53 °F) đến 18 °C (64 °F). Alexandria hay có bão, mưa to gió lớn và đôi khi mưa đá. Tháng 7 và tháng 8 nóng nhất, nhiệt độ trung bình lên đến 31 °C (87 °F). Hai mùa xuân thu là thời gian lý tưởng để tham quan Alexandria với nhiệt độ trung bình 22 °C (71 °F).
| Dữ liệu khí hậu của Alexandria | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỉ lục °C (°F) | 27.7 (81.9) |
32.7 (90.9) |
38.4 (101.1) |
43.4 (110.1) |
45.1 (113.2) |
44.6 (112.3) |
39.0 (102.2) |
40.0 (104.0) |
39.8 (103.6) |
37.9 (100.2) |
35.2 (95.4) |
29.0 (84.2) |
45.1 (113.2) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 18.4 (65.1) |
19.3 (66.7) |
20.9 (69.6) |
24.0 (75.2) |
26.5 (79.7) |
28.6 (83.5) |
29.7 (85.5) |
30.4 (86.7) |
29.6 (85.3) |
27.6 (81.7) |
24.1 (75.4) |
20.1 (68.2) |
24.9 (76.8) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 13.4 (56.1) |
13.9 (57.0) |
15.7 (60.3) |
18.5 (65.3) |
21.2 (70.2) |
24.3 (75.7) |
25.9 (78.6) |
26.3 (79.3) |
25.1 (77.2) |
22.0 (71.6) |
18.7 (65.7) |
14.9 (58.8) |
20.0 (68.0) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 9.1 (48.4) |
9.3 (48.7) |
10.8 (51.4) |
13.4 (56.1) |
16.6 (61.9) |
20.3 (68.5) |
22.8 (73.0) |
23.1 (73.6) |
21.3 (70.3) |
17.8 (64.0) |
14.3 (57.7) |
10.6 (51.1) |
15.8 (60.4) |
| Thấp kỉ lục °C (°F) | 2.2 (36.0) |
2.8 (37.0) |
3.3 (37.9) |
6.8 (44.2) |
10.1 (50.2) |
13.4 (56.1) |
17.0 (62.6) |
18.6 (65.5) |
15.0 (59.0) |
11.2 (52.2) |
10.3 (50.5) |
4.4 (39.9) |
2.2 (36.0) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 52.8 (2.08) |
29.2 (1.15) |
14.3 (0.56) |
3.6 (0.14) |
1.3 (0.05) |
0.01 (0.00) |
0.03 (0.00) |
0.1 (0.00) |
0.8 (0.03) |
9.4 (0.37) |
31.6 (1.24) |
52.7 (2.07) |
195.84 (7.71) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 0.01 mm) | 11.0 | 8.9 | 6.0 | 1.9 | 1.0 | 0.04 | 0.04 | 0.04 | 0.2 | 2.9 | 5.4 | 9.5 | 46.92 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 69 | 67 | 67 | 65 | 66 | 68 | 71 | 71 | 67 | 68 | 68 | 68 | 68 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 192.0 | 210.3 | 247.0 | 273.9 | 316.8 | 353.2 | 362.2 | 345.3 | 296.7 | 281.7 | 224.1 | 195.7 | 3.298,9 |
| Nguồn 1: Tổ chức Khí tượng Thế giới (1971–2000),[13] | |||||||||||||
| Nguồn 2: NOAA[14] | |||||||||||||
Kinh tế
Giao thông
Alexandria nằm về phía tây châu thổ sông Nile, giữa hồ Mareotis và đảo Pharos. Một con đường đê, có tên là Heptastade, nối liền thành phố với đảo Pharos, làm thành phố rộng thêm, và cũng ngăn bến cảng Alexandria thành hai bến đông và tây.
Alexandria có Sân bay El Nouzha, nằm cách thành phố 7 km về hướng đông nam, và Sân bay Borg al Arab cách trung tâm thành phố 25 km.
Các đường xa lộ dẫn đến Alexandria có:
- Đường duyên hải quốc tế. (Alexandria - Port Said)
- Đường sa mạc Alexandria - Cairo dài 220 km, rộng 6-8 hàng.
- Đường "nông nghiệp" Alexandria - Cairo.
- Đường Vòng quanh
- Đường Ta'ameer "Mehwar El-Ta'ameer" - (Alexandria - bờ biển phía bắc)
Alexandria cũng có đường xe lửa, tramway (có từ năm 1860, xưa nhất châu Phi) và dĩ nhiên xe buýt.
Nhân khẩu
Văn hóa
Phần lớn kiến trúc của thành phố cổ đại không còn tồn tại đến ngày nay. Chẳng hạn như kỳ quan hải đăng Alexandria đã bị phá hủy do một trận động đất. Tuy nhiên danh sách những nơi có thể viếng ở Alexandria cũng không ngắn:
Cột trụ Pompey
Cột trụ Pompey không có liên quan gì đến tướng Pompey người đã cùng Julius Caesar lập ra Tam Đầu Chế thứ nhất. Trụ này chỉ được dựng năm 293 thời hoàng đế Diocletian. Trụ cao 30 mét (99 ft), đường kính khoảng 3 mét ở chân và 2 mét 50 trên đỉnh, thân làm bằng đá hoa cương đỏ được đánh bóng. Nơi này xưa có đền Serapeum, cũng là nơi chứa một số sách của thư viện Alexandria.
Địa đạo Kom al-Soqqafa
Địa đạo lăng mộ Kom al-Soqqafa nằm không xa cột trụ Pompey, phía tây nam, trong có mê hồn trận nhiều tầng. Trong địa đạo còn nhiều cột trụ, tượng, quan tài, phòng tiếp tân... thời Ai Cập thuộc La Mã. Địa đạo này được kiến trúc vào cuối thế kỷ 1, sử dụng cho đến thế kỷ 4, và tái khám phá ngày 28 tháng 9 năm 1900.
Đồn Qayt Bay
Ở cổng vào bến cảng đông, đồn này do sultan Qayt Bey cho xây vào thập niên 1480. Đồn ở ngay vị trí của ngọn hải đăng Alexandria ngày trước. Ngọn hải đăng vốn bị động đất phá hủy khoảng năm 1100. Xây theo kiểu trung cổ, đồn Qayt Bey đã được hoàn toàn tái thiết năm 2001/2002; bên trong có viện bảo tàng Hải quân, trưng bày nhiều cổ vật của những trận hải chiến thời La Mã và thời Napoléon. Bên cạnh đồn có viện thủy sinh học nuôi rất nhiều giống cá hiếm.
Đấu trường Kom-el-Dick
Đấy chỉ là một đấu trường nhỏ, nhưng trong nước chỉ có một. Những cuộc khai quật vẫn được tiếp tục tiến hành ở đấy từ thập niên 1970. Đấu trường nằm trong khu vườn du ngoạn thời nhà Ptolemaios, có khoảng 800 chỗ ngồi, gồm 13 hàng ghế bằng đá hoa trắng, loại đá đem từ châu Âu sang. Những hàng cột làm bằng đá hoa màu lục, đem từ Tiểu Á sang, và đá hoa màu đỏ đem từ Aswan ở miền nam Ai Cập.
Bên ngoài, còn những mái vòm và tường bằng đá, các nhà tắm La Mã làm bằng gạch và phế tích của những căn nhà thời La Mã.
Trong khuôn viên đấu trường này vừa được xây dựng một viện bảo tàng mới, lộ thiên, để trưng bày những thành quả của môn khảo cổ dưới lòng biển đem lên được từ thềm lục địa Alexandria. Đáng chú ý nhất là những tượng nhân sư, cột trụ obelisk, cột trụ hình chỉ thảo (papyriform) và mảnh của những pho tượng khổng lồ.
Bảo tàng
Được thành lập vào năm 1892, Bảo tàng Hy Lạp - La Mã được dời về địa điểm ngày nay gần đại lộ Gamal Abdul Nasser vào năm 1895. Nơi đây trưng bày hàng nghìn cổ vật từ thế kỷ 3 TCN, phản ánh khá nhiều về đời sống và văn minh Hy Lạp tại Ai Cập.
Nằm trong một cung điện của vua Farouk ngày trước, Bảo tàng Trang sức Hoàng giaquy tụ nhiều đồ trang sức và báu vật thuộc về gia đình nhà Muhammad Ali. Khi ngắm nhìn bàn cờ vua có cẩn nhiều đá quý của lãnh tụ Muhammad Ali của Ai Cập hoặc vương miện có 1506 viên kim cương của hoàng hậu Farida, nhiều người tưởng mình đang sống trong truyện thần tiên.
Bảo tàng Quốc gia Alexandria trưng bày các cổ vật xuất xứ từ tất cả các thời đại của lịch sử Ai Cập. Dưới hầm là một toà lô cốt xưa, dành cho những cổ vật thời các pharaon.
Những vườn thượng uyển của Montaza
Những ngôi vườn này được bao quanh bởi những bức tường cao phía nam, đông và tây, và bãi biển phía bắc. Khu vực này là đất của hoàng gia nhà Muhammad Ali. Trong khu này có cung Salamlek, do khedive Abbas II cho xây năm 1892; và cung Haramlik do vua Fuad I cho xây năm 1932.
Thư viện
Đề án tái sinh thư viện Alexandria làm thư viện lớn nhất thế giới được tiến hành từ cuối thế kỷ 20 do sự cộng tác của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc và Ai Cập. Thư viện Bibliotheca Alexandrina được khánh thành ngày 16 tháng 10 năm 2002.
Bibliotheca Alexandrina có những phòng đọc sách chứa được đến 2000 người đọc, 3 viện bảo tàng, 5 viện nghiên cứu, và nhiều phòng triển lãm. Có đến 7 tầng phòng đọc sách, mà 4 tầng nằm dưới mực nước biển.
Một viện bảo tàng dành triển lãm hàng ngàn tài liệu viết tay, trong đó có hai quyển Kinh Thánh do Tòa Thánh biếu tặng. Ngoài ra còn có một bản sao y Phiến đá Rosetta, tài liệu đã giúp nhà khảo cổ Jean-François Champollion giải mã được văn tự Cổ Ai Cập.
Các nơi khác
- Điện Montaza, ở khu Montaza
- Điện Ras el-Tin, ở khu Ras el-Tin
- Phủ tổng thống, ở khu Maamoura
- Viện bảo tàng Cavafy
- Vườn Antoniades
- Những vườn Shallalat
- Sở thú Alexandria
- Green Plaza
- Fantazy Land
- Bãi biển Maamoura Beach, Alexandria
- Làng Marina
Giáo dục
Đại học
Những trường đại học nổi tiếng ở Alexandria có:
- Đại học Alexandria
- Arab Academy for Science and Technology and Maritime Transport
- Viện Công nghệ Alexandria(AIT)
- High Institute For Computers & Information Systems - HICIS Abo Qir
- Pharos University in Alexandria
- Université Senghor, trường đại học với ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Pháp, khánh thành năm 1990.
Trung học
Alexandria có khá nhiều trường ngoại quốc (Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ), và nhất là Pháp, với đến 4 trường mang tên "École Soeurs Franciscaines". Những trường trung học nổi tiếng ở Alexandria có:
- Trường Trung học Abbas Helmy
- Trường Trung học Al Abaseya
- Trường Trung học Al-Madina Al-Monawara
- Alexandria House of English
- British School of Alexandria
- Collège Saint Marc
- Deutsche Schule der Borromärinnen DSB A "Saint Charles Borromé"
- École Champollion
- École Sainte Catherine
- Egyptian American School
- Egypt Modern School
- El Nasr Boys' School
- El Nasr Girls' College
- Gamal Abdel Nasser High School
- Lycée Al-Horreya
- Manar English Girls School
- Mubarak Technological School (MTS)
- Moharram Bey Schools
- Modern American School
- Pioneers American sporting school
- Riada Language School (RLS)
- Sacred Heart Girls' School (SHS)
- Schutz American School
- Sidi Gaber Language School {SLS}
- Taymour English School (TES)
- Victoria College
- Zahran Language School (Z.L.S)
Người nổi tiếng
Nhiều nhân vật nổi tiếng xưa nay là người sinh trưởng tại Alexandria hoặc đã chọn Alexandria làm quê hương thứ hai, như:
Xem thêm
Ghi chú
- ^ /ˌælɪɡˈzændriə,
-ˈzɑːn-/ Tập âm thanh "LL-Q1860 (eng)-Naomi Persephone Amethyst (NaomiAmethyst)-Alexandria.wav" không có sẵn AL-ig-ZA(H)N-dree-ə;[5] tiếng Ả Rập: الإسكندرية, phát âm tiếng Ả Rập chuẩn: al-'Iskandariyya, phát âm [al.ʔiskanˈdarijja]; Latinh hóa tiếng Ả Rập Ai Cập: Eskenderiyya, phát âm [eskendeˈɾejjæ][6]
Tham khảo
- ^ "Alexandria Governor".
- ^ a b c "Egypt: Governorates, Major Cities & Towns - Population Statistics, Maps, Charts, Weather and Web Information". www.citypopulation.de. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2025.
- ^ a b "Major Agglomerations of the World - Population Statistics and Maps". www.citypopulation.de (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
- ^ "TelluBase—Egypt Fact Sheet (Tellusant Public Service Series)" (PDF). Tellusant. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Alexandria". Collins Dictionary. ngày 10 tháng 8 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2014.
- ^ "Travel in Egypt: Alexandria". Arab Academy (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.; Fideler, David (ngày 1 tháng 1 năm 1993). Alexandria 2 (bằng tiếng Anh). Red Wheel/Weiser. ISBN 978-0-933999-97-8. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
- ^ Chẳng hạn như người La Mã gọi là Alexandrea ad Aegyptum.
- ^ Theo Plutarch, Alexandros Đại Đế đã ra lệnh xây 70 thành phố. Ngày nay người ta đã nhận ra 13 thành, trong đó có Kandahar và Herat ở Afghanistan.
- ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 288.
- ^ Ammianus Marcellinus, "Res Gestae", 26.10.15-19
- ^ Nhiều bé trai sinh trong các gia đình đạo Islam ở các quốc gia nói tiếng Ả Rập ngày nay vẫn được đặt tên Iskandar.
- ^ Fustat nay nằm trong vùng đô thị Cairo.
- ^ "Weather Information for Alexandria" (bằng tiếng Anh). Tổ chức Khí tượng Thế giới. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Alexandria/Nouzha Climate Normals 1961–1990" (bằng tiếng Anh). National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014.
Thư mục
- De Graauw, Arthur, "Port engineering aspects of the Magnus Portus in Alexandria", tạp chí PIANC Bulletin số 103, trang 31-41, Brussels 2000.
- Fraser, P.M.: "Ptolemaic Alexandria", Clarendon Press, Oxford 1972.
- Goddio, Frank: "Alexandrie, les quartiers royaux submergés", Periplus Publishing Ltd., London 1998, isbn = 1-902699-00-7.
- Haag, Michael: "Alexandria: City of Memory" (London and New Haven, 2004). A social, political and literary portrait of cosmopolitan Alexandria during the nineteenth and twentieth centuries.
- Jouguet, Pierre: "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Editions "La Renaissance du Livre" 1926 - Ré-Edition par Albin Michel 1972, Paris.
- Von Hagen, Victor W.: The Roads that led to Rome The World Publishing Company, Cleveland and New York. 1967.
Liên kết ngoài
- Không tìm thấy URL. Vui lòng định rõ một URL ở đây hoặc thêm vào trên Wikidata.
- Dữ liệu địa lý liên quan đến Alexandria tại OpenStreetMap
- Photos of Alexandria at the American Center of Research