Amanitore
Bài này chưa được xếp vào thể loại nào. Mời bạn xếp chúng vào thể loại phù hợp. (tháng 1/2026) |
Amanitore (cũng được viết là Amanitere hoặc Amanitare) là một nữ vương của Vương quốc Kush, cai trị từ kinh đô Meroë vào khoảng giữa thế kỷ 1 CN.[1] Bà đồng cai trị cùng con trai là Natakamani.[2] Thời kỳ đồng trị của Amanitore và Natakamani được ghi nhận rất rõ trong tư liệu khảo cổ và thường được xem là một giai đoạn thịnh vượng của Kush.[3]
| Amanitore | |
|---|---|
| Amanitore tại Wad ban Naqa Amanitore tại Wad ban Naqa | |
| Nữ vương Kush của Meroë | |
| Vương triều | Giữa thế kỷ 1 CN |
| Nhiếp chính | Natakamani (con trai) |
| Tiên vương | Amanikhabale (?) |
| Kế vị | Shorkaror |
| Con cái | Natakamani |
| Chôn cất | Kim tự tháp tại Meroë (Beg. N 1) |
Tiểu sử
Amanitore và Natakamani được biết đến qua lăng mộ và nhiều công trình tượng đài có hình ảnh hai người xuất hiện cùng nhau. Trước đây, một số học giả cho rằng Amanitore là vợ của Natakamani, nhưng hiện nay quan điểm phổ biến cho rằng bà là mẹ của ông, dựa trên một văn khắc cổ được tìm thấy tại Đền Dakka.[2]
Trong thời kỳ đồng cai trị, chỉ Natakamani được gọi rõ ràng bằng tước hiệu qore (quốc vương), trong khi Amanitore mang danh hiệu kandake (nữ hoàng mẹ hoặc vương hậu).[4] Tuy nhiên, hình ảnh trên phù điêu cho thấy cả hai đều xuất hiện với trang phục và biểu tượng quyền lực của quân vương, cho thấy họ gần như đồng quyền.
Amanitore được chôn cất trong kim tự tháp riêng tại Meroë, ký hiệu Beg. N 1. Lăng mộ của bà có đáy rộng khoảng 6 mét.[5]
Cung điện hoàng gia của Amanitore nằm tại Jebel Barkal ở Sudan ngày nay, hiện là một di sản UNESCO. Khu vực cai trị của bà nằm giữa sông Nile và sông Atbara.[6]
Ba thái tử được ghi nhận trong thời kỳ đồng trị là Arikhankharer, Arikakahtani và Shorkaror. Chỉ Shorkaror được xác nhận là đã kế vị ngai vàng.[2]
Các công trình xây dựng
Amanitore là một trong những vị quân vương Kush cuối cùng có hoạt động xây dựng quy mô lớn. Bà tham gia trùng tu đại đền thờ thần Amun tại Meroë và đền Amun tại Napata sau khi bị quân La Mã phá hủy. Các hồ chứa nước cũng được xây dựng trong triều đại của bà nhằm hỗ trợ nguồn nước cho Meroë.[7]
Amanitore và Natakamani cũng cho xây các đền Amun tại Naqa và Amara.
Khối lượng công trình hoàn thành trong giai đoạn giữa thế kỷ 1 CN cho thấy đây có thể là thời kỳ thịnh vượng nhất trong lịch sử Meroitic.[8] Hơn 200 kim tự tháp Nubia đã được xây dựng tại Meroë, dù phần lớn đã bị cướp phá từ thời cổ đại.
Trong Tân Ước
Amanitore có thể là Kandake được nhắc đến trong Kinh Thánh, cụ thể ở sách Công vụ Tông đồ 8:26–40, kể về việc cải đạo của một viên quan Ethiopia.[9]
Chú thích
- ^ Kuckertz, Josefine (2021). "Meroe and Egypt". UCLA Encyclopedia of Egyptology: 5, 13, 17.
- ^ a b c Kuckertz, Josefine (2021). "Meroe and Egypt". UCLA Encyclopedia of Egyptology: 5, 13, 17.
- ^ Eide, Tormod; Hägg, Tomas; Holton Pierce, Richard; Török, László (1998). Fontes Historiae Nubiorum, Vol. III. University of Bergen. tr. 897–910.
- ^ Eide, Tormod; Hägg, Tomas; Holton Pierce, Richard; Török, László (1998). Fontes Historiae Nubiorum, Vol. III. University of Bergen. tr. 897–899, 903, 908, 910.
- ^ Eide, Tormod (1998). Fontes Historiae Nubiorum, Vol. III. University of Bergen.
- ^ "50 Greatest Africans – Pharaoh Natakamani and Queen Amanitore".
- ^ "50 Greatest Africans – Pharaoh Natakamani and Queen Amanitore".
- ^ Török, László (1998). The Kingdom of Kush. Brill. tr. 214, 461.
- ^ "Women in Power". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2026.
Nguồn
- Eide, Tormod; Hägg, Tomas; Holton Pierce, Richard; Török, László (1998). Fontes Historiae Nubiorum, Vol. III. University of Bergen.
- Kuckertz, Josefine (2021). "Meroe and Egypt". UCLA Encyclopedia of Egyptology.
- Török, László (1998). The Kingdom of Kush. Brill.