Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam/cat

Bảo Hà
Đền Bảo Hà ở xã Bảo Hà
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngTây Bắc Bộ
TỉnhLào Cai
Trụ sở UBNDBản Lâm Sản
Lịch sử hình thành
Thành lập16 tháng 6 năm 2025[1]
Địa lý
Tọa độ: 22°12′7″B 104°22′2″Đ / 22,20194°B 104,36722°Đ / 22.20194; 104.36722
Bảo Hà trên bản đồ Việt Nam
Bảo Hà
Bảo Hà
Vị trí xã Bảo Hà trên bản đồ Việt Nam
Diện tích243 km²[1]
Dân số (2025)
Tổng cộng34.115 người[1]
Mật độ140 người/km²
Khác
Mã hành chính02989
Websitebaoha.laocai.gov.vn

Bảo Hà là một đơn vị hành chính cấp xã nằm ở trung tâm tỉnh Lào Cai, Việt Nam.

Địa lý

Vị trí địa lý và dân cư

Xã Bảo Hà nằm ở phía trung tâm địa lý của tỉnh Lào Cai, có vị trí địa lý[2]:

Xã có diện tích 243,00 km², dân số năm 2025 là 34.115 người, mật độ dân số đạt 140 người/km².

Địa hình

Cấu trúc hình thái và hệ thống núi

Địa hình xã Bảo Hà phân hóa mạnh mẽ và mang tính chất chuyển tiếp giữa miền núi cao đại khối phía Tây và vùng trung du đồi bát úp phía Đông Nam, bị chia cắt đối xứng qua trục thung lũng sông Hồng (sông Thao) theo hướng chủ đạo Tây Bắc - Đông Nam (NW - SE). Sau khi sáp nhập toàn bộ diện tích của xã Tân An, hình thái địa hình toàn xã được chia thành ba vùng rõ rệt:

  • Khu vực tả ngạn sông Hồng (phía Đông - Đông Bắc): Chịu sự chi phối của sườn Tây dãy núi Con Voi — một khối nâng kiến tạo dạng khối tảng (horst). Địa hình nơi đây chủ yếu là núi thấp đến núi trung bình, sườn dốc mạnh (phổ biến từ 25° đến 35°, cục bộ có nơi trên 40°). Hệ thống khe cạn và các nhánh suối nhỏ (như ngòi Đuông) cắt xẻ sâu vào sườn núi tạo nên các sườn dốc thứ cấp phức tạp. Cao độ các đỉnh núi nội vùng dao động phổ biến từ 300 m đến 550 m và thấp dần về phía thềm sông.
  • Khu vực hữu ngạn sông Hồng (phía Tây - Tây Nam): Thuộc phần diện tích xã Tân An cũ, kết nối với dải đồi núi chuyển tiếp hướng về phía bồn địa Văn Bàn và rìa phía Đông của vòm nâng Phan Si Pang. Địa hình khu vực này thoải hơn so với bên tả ngạn, cấu tạo chủ yếu là hệ thống đồi gò bát úp (địa hình karst bán nguyên) và các dải sườn tích với góc dốc sườn phổ biến từ 15° đến 25°.
  • Thung lũng kiến tạo - xâm thực ven sông: Nằm ở trung tâm xã, tạo nên một dải địa hình tương đối bằng phẳng gồm các bậc thềm sông (T1, T2) và bãi bồi hiện đại (V0). Bề rộng thung lũng sông Hồng tại đoạn qua Bảo Hà mở rộng cục bộ từ 800 m đến hơn 1.500 m do quá trình xâm thực ngang và tích tụ phù sa tạo nên các lòng chảo nhỏ, là nơi tập trung dân cư và các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 279, đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai.

Các thông số trắc lượng hình thái

Thông số trắc lượng Giá trị / Khoảng dao động Chi tiết kỹ thuật và ý nghĩa
Tọa độ địa lý trung tâm 22°09'50" B – 104°21'40" Đ Vị trí khu trung tâm hành chính xã Bảo Hà.
Độ cao tuyệt đối thấp nhất 35 m – 42 m Mực nước sông Hồng trung bình năm tại khu vực lòng sông.
Độ cao tuyệt đối cao nhất 560 m Các đỉnh dông núi thuộc rìa sườn Tây dãy Con Voi.
Biên độ chia cắt sâu (Đs) 150 m – 350 m/km² Thể hiện mức độ trẻ hóa địa hình và cường độ xâm thực mạnh.
Biên độ chia cắt ngang (Đn) 2,5 km – 3,8 km/km² Mật độ sông suối, khe rãnh và mạng lưới thủy văn phân bố dày đặc.
Góc dốc địa hình (α)
  • Vùng thung lũng: < 5°
  • Vùng đồi gò: 5° – 15°
  • Vùng sườn núi: 15° – 35°
Chi phối trực tiếp đến phân vùng cấu trúc sử dụng đất và nguy cơ sạt lở.

Địa chất

Địa chất kiến tạo và Thạch học

Về mặt địa chất bách khoa, xã Bảo Hà nằm trực tiếp trên Đới cắt trượt sông Hồng (Red River Shear Zone), cụ thể là rìa phía Tây của Khối biến chất cao dãy Con Voi (Day Nui Con Voi metamorphic core complex). Đá nền và địa tầng bề mặt tại khu vực được chia thành ba thành tạo chính:

  1. Phức hệ biến chất dãy Con Voi (Tiền Cambri): Chiếm đại bộ phận đá gốc ở khu vực tả ngạn sông Hồng. Thành phần thạch học chủ yếu bao gồm đá phiến mica giàu silimanit-biotit, đá gnaiss (đá nẹp), migmatit và các thấu kính amphibolit. Đá có tính chất phân phiến mạnh, phương kéo dài của các khoáng vật trùng với hướng đứt gãy (NW - SE). Do quá trình phá hủy kiến tạo, lớp vỏ phong hóa vật lý và hóa học trên loại đá này có độ dày lớn (từ 5 m đến 20 m), tạo nên lớp đất feralit màu đỏ vàng chứa nhiều vụn thạch anh.
  2. Thành tạo trầm tích Đệ Tam (Hệ tầng Yên Bái - Neogene): Xuất hiện dọc theo các rìa đứt gãy sụt lún dưới dạng các dải hẹp. Thành phần thạch học gồm cát kết, cuội kết, sét kết và đôi chỗ xen kẽ các vỉa mỏng lignite (than nâu) bị ép nén mạnh, mức độ gắn kết địa chất từ trung bình đến yếu.
  3. Trầm tích bồi tích Đệ Tứ (Q): Phủ dọc theo lòng thung lũng sông Hồng và hệ thống các ngòi suối nhánh. Phần đáy thềm cấu tạo bởi cuội, sỏi, cát quartzit thô; phần thềm trên là cát mịn, bột bồi tích và sét pha màu xám vàng hoặc nâu đỏ, hình thành các tầng chứa nước lỗ hổng có trữ lượng khá.

Hoạt động đứt gãy và Địa chấn

Hệ thống đứt gãy sâu sông Hồng chạy cắt qua địa bàn xã là một đứt gãy sinh chấn á kinh tuyến hoạt động mạnh. Đới này có lịch sử dịch chuyển trượt bằng trái trong kỷ Oligocen - Miocen và đang tiếp tục dịch chuyển trượt bằng phải trong giai đoạn Hiện đại (Tân kiến tạo). Do nằm sát tâm điểm của đới phá hủy kiến tạo, đá gốc tại Bảo Hà bị dập vỡ và nứt nẻ mạnh, mật độ khe nứt nội tại cao. Khu vực này được các nghiên cứu địa chất dự báo thuộc vùng có nguy cơ địa chấn cấp VII đến cấp VIII theo thang MSK-64 (có khả năng phát sinh hoặc chịu ảnh hưởng bởi các trận động đất có độ lớn M = 4,5 – 5,5 độ Richter).

Tai biến địa chất

Do sự kết hợp giữa các yếu tố địa hình chia cắt dốc, đá nền phong hóa mạnh và động lực dòng chảy biến đổi của sông Hồng, địa bàn xã Bảo Hà thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi các hiện tượng địa chất động lực hiện đại:

  • Trượt lở đất (Landslide): Tập trung chủ yếu ở các sườn cắt vát dọc tuyến Quốc lộ 279 và sườn núi dốc thuộc dông Con Voi. Loại hình tai biến phổ biến là trượt dòng vụn mặt (debris flow) và lở đá (rockfall) xuất hiện mật độ cao trong mùa mưa lũ (từ tháng 6 đến tháng 9).
  • Xói lở bờ sông (Riverbank Erosion): Hiện tượng xâm thực bên (lateral erosion) diễn ra phức tạp tại các đoạn bờ lõm thuộc vùng thềm phù sa trẻ của sông Hồng do hình thái dòng chảy uốn khúc, gây sụt lún và mất đất canh tác ven bờ vào mùa lũ.
  • Hiện tượng Karst sụt lún: Tại một số thấu kính đá vôi xen kẽ trong đá biến chất ở vùng hữu ngạn (khu vực Tân An cũ), sự thay đổi mực nước ngầm theo mùa đôi khi gây ra hiện tượng sụt lún bề mặt cục bộ.

Tài liệu tham khảo

  • Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.
  • Bản đồ Địa chất và Khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1:200.000 (Tờ Lào Cai — Kim Bình).
  • Báo cáo thuyết minh hiện trạng địa lý tự nhiên huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Khí hậu

Xã Bảo Hà thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của đặc điểm khí hậu vùng núi Bắc Bộ, phân chia thành hai mùa:

  • Mùa mưa (Từ tháng 5 đến tháng 10): Thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều. Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.600 mm đến 2.200 mm, tập trung vào các tháng 7 và tháng 8, đôi khi kèm theo hiện tượng dông và lũ quét cục bộ từ các khe suối đổ ra sông Hồng.[3]
  • Mùa khô (Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau): Thời tiết lạnh và khô, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 °C - 23 °C, thường xuất hiện sương mù vào sáng sớm dọc bờ sông Hồng trong các tháng 12 và tháng 1.

Thủy văn

  • Sông Hồng: Chạy qua rìa phía Tây của xã, đóng vai trò là ranh giới tự nhiên giữa xã Bảo Hà (Bảo Yên) và xã Tân An (Vàn Bàn) ngày trước. Mực nước sông biến động theo mùa; vào mùa mưa, sông tiếp nhận lượng nước lớn từ thượng nguồn, có thể gây ngập úng tại các vùng bãi bồi thấp ven sông.[4]
  • Hệ thống suối phụ lưu: Địa bàn xã có các dòng suối nhỏ chia cắt như Suối Bông, suối Bản Lúc, Suối AB, cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho nông nghiệp và lâm nghiệp trước khi đổ ra sông Hồng.

Tài nguyên thiên nhiên

  • Tài nguyên đất: Gồm đất phù sa dọc bờ sông Hồng (thích hợp trồng dâu tằm, cây ăn quả, rau màu) và đất feralit vàng đỏ trên núi (thích hợp phát triển rừng sản xuất như quế, mỡ, bồ đề).
  • Tài nguyên rừng: Diện tích rừng sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, trong đó cây Quế là cây trồng mũi nhọn mang lại giá trị kinh tế cho địa phương.[5]
  • Tài nguyên khoáng sản: Địa bàn xã và vùng phụ cận có các vỉa khoáng sản nhỏ về quặng sắt, felspat và các mỏ cát sỏi phục vụ nhu cầu xây dựng hạ tầng tại chỗ.

Hành chính và dân cư

Phân chia hành chính

Thực hiện theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai, hiện nay xã Bảo Hà gồm có 72 thôn, bản:[6]

  • Khu vực trung tâm thị tứ: Gồm các thôn tập trung dân cư, phát triển về thương mại và dịch vụ dọc theo Ga hoả xa, Đền Bảo Hà và Quốc lộ 279 như: Thôn Liên Hà 1, Thôn Liên Hà 2, Thôn Liên Hà 3, Thôn Bảo Vinh, Lâm Sản.
  • Khu vực nông thôn và bãi bồi: Gồm các thôn bản có diện tích tự nhiên rộng, là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số như: Bản Bông, Lúc.[7]

Trụ sở Ủy ban nhân dân và các cơ quan hành chính xã được bố trí tập trung tại khu vực Thôn Bảo Vinh, Lâm Sản.

Dân cư và thành phần tộc người

Tính đến năm 2026, cơ cấu thành phần dân tộc tại địa phương bao gồm 3 nhóm chính:

  • Dân tộc Tày: Cư trú tập trung ở các bản bằng phẳng ven sông, ven suối (như Bản AB, Bản Tắp), có truyền thống canh tác lúa nước, làm nhà sàn gỗ và lưu giữ các loại hình văn hóa dân gian như hát Then, hát Cọi.[8]
  • Dân tộc Kinh: Cư trú tập trung tại khu vực thị tứ phố chợ và các thôn Liên Hà 1,2,3, Bảo Vinh, Lâm Sản, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch vụ du lịch và vận tải.
  • Dân tộc Dao: Gồm các ngành Dao Tuyển, Dao Đỏ, cư trú ở dải đồi và các bản vùng cao (như bản Mai Hồng, Ngầm Thìn), có kinh nghiệm canh tác đất dốc và trồng rừng sản xuất, đặc biệt là cây Quế.[9]
  • Các dân tộc khác: Ngoài ra, trên địa bàn xã còn có đồng bào dân tộc Mông, Giáy, Nùng... sinh sống rải rác tại các vùng giáp ranh.

Đời sống văn hóa và tôn giáo, tín ngưỡng

  • Tín ngưỡng thờ Thần vệ quốc: Đền Bảo Hà (thờ thần vệ quốc Nguyễn Hoàng Bảy) là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân trong vùng, thể hiện lòng tôn kính và cầu mong sự bình an, phát đạt trong công việc.
  • Sự hòa hợp văn hóa: Trong các dịp lễ hội (như Lễ hội Đền Bảo Hà tổ chức vào ngày 17 tháng 7 âm lịch hằng năm hoặc hội Lồng Tồng của người Tày), nhân dân các dân tộc cùng tham gia các trò chơi dân gian (ném còn, đẩy gậy, kéo co) và các hoạt động văn hóa truyền thống.[10]

Kinh tế và hạ tầng kỹ thuật

Tổng quan cấu trúc kinh tế vùng liên kết

Thực hiện quy hoạch đồng bộ và liên kết không gian phát triển giữa các xã sau sáp nhập Bảo Hà, Tân Thượng, Tân An, Cam Cọn và Kim Sơn, khu vực này đã hình thành vùng đô thị - công nghiệp - dịch vụ và logistics phía Nam của tỉnh Lào Cai, dựa trên ba trụ cột chính:[11]

  • Dịch vụ, Du lịch Tâm linh và Thương mại: Trục lõi Bảo Hà – Tân An là hạt nhân với quần thể di tích quốc gia Đền Bảo Hà và Đền Cô Tân An, thu hút lượng lớn du khách, thúc đẩy hệ thống dịch vụ lưu trú, nhà hàng phát triển.
  • Lâm nghiệp và Công nghiệp chế biến: Khu vực Kim Sơn, Tân Thượng phát triển vùng nguyên liệu Quế hữu cơ và cây lâm nghiệp diện tích lớn, kết hợp các cơ sở sơ chế vỏ quế, chưng cất tinh dầu quế và chế biến gỗ công nghệ cao dọc hành lang sông Hồng.
  • Dịch vụ Logistics gắn với hạ tầng sân bay: Phân khu Cam Cọn phát triển hạ tầng logistics và dịch vụ vệ tinh xung quanh dự án Cảng hàng không Sa Pa.[12]

Mạng lưới hạ tầng Giao thông và hệ thống Đường sắt

Vùng liên kết Bảo Hà – Tân An – Cam Cọn – Tân Thượng – Kim Sơn có hệ thống giao thông đối ngoại phát triển, sở hữu đồng thời hai tuyến đường sắt với bốn nhà ga:

  • Tuyến Đường sắt tốc độ cao trục Đông - Tây
  • Đường hàng không
  • Hệ thống Đường sắt khổ tiêu chuẩn cũ (Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai)
  • Đường bộ:
  1. Cao Tốc Nội Bài - Lào Cai (CT-05)
  2. Cao tốc Bảo Hà - Lai Châu (Dự kiến)
  3. Quốc lộ 279
  4. ĐT151C
  5. ĐT161
  6. Đượng Nôi thị
  7. Đường liên xã, liên huyện (Cũ)
  8. Đường Nội thôn, liên thôn
  • Đường thuỷ:
  1. Sông Hồng

Tuyến đường sắt phục vụ vận tải hàng hóa và hành khách, sở hữu 3 nhà ga trên địa bàn vùng liên kết:

  • Ga Bảo Hà: Ga hạng II, hạt nhân điều phối giao thông đường sắt toàn vùng, có hệ thống kho bãi trung chuyển lớn và các đường rẽ nhánh chuyên dụng để xếp dỡ hàng hóa, nông - lâm sản.[13]
  • Ga Thái Văn: Ga kỹ thuật đóng vai trò là trạm tránh tàu và tập kết hàng hóa lâm sản, vật liệu xây dựng cho các vùng sản xuất phía Nam.
  • Ga Cam Cọn: Trạm ga trong quy hoạch kết nối đa phương thức, phục vụ việc gom hàng hóa và chuyển tiếp nguyên vật liệu liên kết với khu dịch vụ sân bay.[14]
  • Ga Văn Bàn (Đặt tại vùng liên kết Tân An - Văn Bàn): Ga trên tuyến đường sắt tốc độ cao, được thiết kế làm trung tâm trung chuyển hàng hóa container và hành khách, nâng cao năng lực logistics của vùng liên kết.[15]
  • Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai: Tuyến cao tốc kết nối giao thông qua nút giao IC16(Tân An), kết nối trực tiếp với cầu bê tông cốt thép vượt sông Hồng sang Phố Chợ Bảo Hà, rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội xuống còn hơn 3 giờ.[16]
  • Quốc lộ 279 và Đường tỉnh ĐT.161: Quốc lộ 279 tạo thành trục hành lang kết nối liên tỉnh Đông - Tây (Hà Giang - Lào Cai - Lai Châu). Đường tỉnh ĐT.161 nối liền 5 phân khu sáp nhập, ĐT151C
  • Cảng hàng không Sa Pa (Cam Cọn):Dự án sân bay cấp 4C với công suất giai đoạn 1 đạt 1,5 triệu hành khách/năm, hoàn thiện đầu mối giao thông tích hợp đa phương thức: Đường bộ cao tốc - Đường sắt tốc độ cao - Đường thủy sông Hồng - Đường hàng không.[17]

Hạ tầng Đô thị và Tiện ích số

  • Hệ thống Điện, Nước sạch: Lưới điện quốc gia được cải tạo, bổ sung các trạm biến áp phục vụ công nghiệp chế biến tại Kim Sơn, Tân Thượng. Nhà máy nước sạch mở rộng công suất, bảo đảm cung cấp cho khu phố chợ và khu đô thị dịch vụ ven sân bay Cam Cọn.
  • Giáo dục, Y tế và Chuyển đổi số: Các cơ sở trường học và y tế liên xã áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý. Toàn vùng phát triển hạ tầng số, áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt (quét mã QR) tại các điểm du lịch đền Bảo Hà, đền Tân An và khu vực phố chợ, hướng tới mục tiêu đưa vùng lõi liên kết đạt tiêu chuẩn Đô thị loại V (Thị trấn Bảo Hà).[18]

Giáo dục và y tế

Hệ thống Giáo dục và Đào tạo

Tính đến tháng 5 năm 2026, toàn vùng liên kết có hệ thống giáo dục hoàn chỉnh với gần 30 đơn vị trường học từ mầm non đến trung học phổ thông, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân địa phương.[19]

  • Giáo dục Mầm non, Tiểu học và THCS: Gần 30 đơn vị trường học được bố trí tại các phân khu sáp nhập, được kiên cố hóa và đầu tư phòng máy tính, phòng thí nghiệm, triển khai số hóa hồ sơ học bạ điện tử.[20]
  • Trường Trung học Phổ thông (THPT) Số 2 Bảo Yên: Trường cấp 3 đóng trên địa bàn vùng liên kết, phục vụ học sinh khối phía Nam của xã. Tính đến tháng 5 năm 2026, trường có quy mô đào tạo gồm 20 lớp học, phân bổ cụ thể:
Quy mô lớp học tại Trường THPT Số 2 Bảo Yên (Tính đến tháng 5/2026)
Khối lớp Số lượng lớp Tên định danh các lớp
Khối 10 7 lớp Từ lớp 10A1 đến lớp 10A7
Khối 11 7 lớp Từ lớp 11A1 đến lớp 11A7
Khối 12 6 lớp Từ lớp 12A1 đến lớp 12A6
  • Dự án Trường Nội trú THPT tại xã Bảo Hà: Cơ quan có thẩm quyền đã thông qua nghị quyết xây dựng Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THPT tại xã Bảo Hà nhằm tạo điều kiện học tập, nội trú cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số trong vùng liên kết và các xã lân cận, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương.[21]

Hệ thống Y tế và Chăm sóc sức khỏe

  • Phòng khám Đa khoa khu vực Bảo Hà (thuộc Bệnh viện Đa khoa huyện Bảo Yên): Trung tâm y tế hạt nhân của vùng liên kết, được trang bị máy móc cận lâm sàng (X-quang, siêu âm, xét nghiệm) và đội ngũ y bác sĩ, chịu trách nhiệm tiếp nhận các ca bệnh cấp cứu trung gian và điều phối y tế địa phương.[22]
  • Hệ thống 5 trạm y tế xã: Vùng liên kết duy trì 5 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia tương ứng với 5 phân khu hành chính (Bảo Hà, Tân An, Tân Thượng, Cam Cọn, Kim Sơn), thực hiện quản lý y tế dự phòng, tiêm chủng mở rộng và sơ cứu ban đầu.[23]

Văn hóa, tín ngưỡng và di tích

Hệ thống Di tích Quốc gia

Địa bàn liên xã sở hữu một hệ thống di tích bảo tồn tín ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng thờ thần vệ quốc và các nét văn hóa bản địa. Vùng lõi liên kết sở hữu hai Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia nằm đối xứng qua sông Hồng:[24]

  • Đền Bảo Hà (Di tích cấp Quốc gia): Tọa lạc trên sườn đồi Cấm thuộc xã Bảo Hà, thờ chính danh tướng Nguyễn Hoàng Bảy – Khâm sai Tiết chế Thần vệ quốc dưới triều nhà Lê (thế kỷ XVIII). Đền được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích quốc gia vào ngày 25 tháng 11 năm 1997,[25] là trung tâm thực hành tín ngưỡng Tứ phủ, thu hút đông đảo du khách về chiêm bái hằng năm.
  • Đền Cô Tân An (Di tích cấp Quốc gia): Nằm đối diện Đền Bảo Hà bên bờ hữu sông Hồng (thuộc xã Tân An), thờ phụng nữ chúa Nguyễn Hoàng Bà Xa – ái nữ của tướng quân Nguyễn Hoàng Bảy, người có công cùng cha chiêu mộ binh sĩ, tổ chức khẩn hoang và giữ gìn bờ cõi vùng châu Văn Bàn xưa.[26]

Các Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Tỉnh

Vùng liên kết bảo tồn và tôn tạo hai Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Tỉnh:

  • Đền Làng Lúc (Di tích cấp Tỉnh): Tọa lạc tại xã Bảo Hà, gắn liền với lịch sử định cư, khẩn hoang lập bản của đồng bào dân tộc Tày và người Kinh di cư, là nơi sinh hoạt văn hóa làng xã của cư dân địa phương.
  • Đền Cô Bé Kim Sơn (Di tích cấp Tỉnh): Nằm tại xã Kim Sơn, ngôi đền là điểm thờ tự thuộc hệ thống thờ nữ thần và các vị thánh cô trong tín ngưỡng bản địa, bảo trợ cho mùa màng và nghề trồng rừng của nhân dân trong vùng.[27]
  • Đền Bảo Hà (thờ Thần vệ quốc Nguyễn Hoàng Bảy).

Tôn giáo và Hoạt động Đạo pháp

  • Hệ thống Công giáo (2 Giáo họ): Cộng đồng giáo dân sinh hoạt tôn giáo tại hai giáo họ lớn:
  1. Giáo họ Bảo Hà: Thuộc Giáo xứ Bảo Yên (Giáo phận Hưng Hóa), phục vụ giáo dân tại khu vực thị tứ, ga tàu và tả ngạn sông Hồng.
  2. Giáo họ Tân An: Thuộc Giáo xứ Văn Bàn, điều phối các hoạt động phụng vụ cho cộng đồng Công giáo phía hữu ngạn sông Hồng.[28]
  • Hệ thống Phật giáo (1 Đạo tràng): Đạo tràng Bảo Hà là nơi quy tụ các Phật tử tại địa phương tham gia các khóa tu tập, tụng kinh cầu an và tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai tại địa phương.[29]

Lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống Đền Bảo Hà được tổ chức định kỳ vào ngày 17 tháng 7 âm lịch hằng năm (ngày kỵ nhật của Tướng quân Nguyễn Hoàng Bảy). Phần lễ gồm nghi thức rước kiệu từ Đền Cô Tân An qua cầu sông Hồng sang Đền Bảo Hà; phần hội gồm các hoạt động trưng bày sản vật địa phương, các giải thể thao truyền thống (bắn nỏ, kéo co) và các hoạt động thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.[30]

Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp và Doanh nghiệp

Phân khu Công nghiệp chiến lược

Nằm trong lõi quy hoạch vùng kinh tế phía Nam của tỉnh Lào Cai, hành lang liên kết Bảo Hà – Tân An – Cam Cọn – Tân Thượng – Kim Sơn phát triển hạ tầng công nghiệp gắn liền với các đầu mối giao thông:

  • Dự án Khu công nghiệp phụ trợ Cảng hàng không Sa Pa (Cam Cọn): Quy hoạch liền kề với mặt bằng sân bay, tập trung thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ dây chuyền vận tải hàng không và hệ thống kho bãi logistics, tổng kho trung chuyển hàng hóa.[31]
  • Cụm Công nghiệp liên xã: Thu hút các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ tại địa phương, tập trung các nhà máy tiểu thủ công nghiệp ra khỏi khu dân cư vùng lõi, kết nối trực tiếp ra trục Quốc lộ 279 và nút giao cao tốc IC16.

Hệ thống Nhà máy sản xuất

Vùng liên kết có sự hiện diện của các nhà máy sản xuất, giải quyết việc làm cho lao động địa phương:[32]

  • Nhà máy sản xuất phân bón Lân: Khai thác nguồn nguyên liệu quặng từ các vùng lân cận, cung ứng phân bón cho thị trường nông nghiệp tỉnh và khu vực Tây Bắc.
  • Nhà máy Giấy và Chế biến Lâm sản: Tiếp nhận nguyên liệu từ rừng sản xuất của Tân Thượng, Kim Sơn để sản xuất bột giấy, giấy bao bì và các sản phẩm gỗ ép.
  • Nhà máy Chế biến Tinh bột Sắn: Thu mua sắn củ từ các vùng canh tác của người dân trong và ngoài xã để chế biến tinh bột sắn phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu.
  • Nhà máy sản xuất Gạch tuynel và Vật liệu xây dựng: Khai thác nguồn đất sét, cát sỏi dọc lòng sông Hồng, cung cấp vật liệu xây dựng cho các công trình hạ tầng xung quanh như đô thị sân bay Cam Cọn và khu dân cư mới.

Khối Doanh nghiệp, Xí nghiệp và Hợp tác xã

  • Doanh nghiệp và Xí nghiệp: Các xí nghiệp tập trung vào lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản phụ cận, vận tải cơ giới và xây dựng hạ tầng kỹ thuật; các doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong lĩnh vực may mặc, sản xuất bao bì, gia công cơ khí nhỏ và dịch vụ quanh khu vực Ga Bảo Hà.[33]
  • Các Hợp tác xã (HTX): Giữ vai trò liên kết giữa các hộ nông dân trồng quế với các xí nghiệp chế biến. Hệ thống các HTX thu mua, bóc vỏ quế và chưng cất tinh dầu quế tại Kim Sơn, Tân Thượng cũ giúp chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao giá trị thương hiệu Quế địa phương.[34]

Nông nghiệp và dịch vụ

Nông nghiệp hàng hóa

Ngành nông nghiệp trong vùng liên kết Bảo Hà – Tân An – Cam Cọn – Tân Thượng – Kim Sơn chuyển dịch theo hướng hàng hóa và hữu cơ:[35]

  • Lâm nghiệp quế bền vững: Cây Quế hữu cơ được trồng tập trung tại Kim Sơn và Tân Thượng, cung cấp nguyên liệu vỏ quế thô và tinh dầu cho các doanh nghiệp chế biến. Các mô hình trồng rừng kinh tế kết hợp (mỡ, keo, bồ đề) giúp duy trì tỷ lệ độ che phủ rừng trên 60%.[36]
  • Trồng trọt ven sông Hồng: Hình thành các vùng chuyên canh rau màu, vùng trồng dâu nuôi tằm và cây ăn quả chất lượng cao trên dải đất phù sa trải dài qua Bảo Hà, Tân An.
  • Chăn nuôi tập trung: Chuyển dần sang mô hình trang trại và gia trại an toàn sinh học, tiêu biểu như vùng chăn nuôi giống vịt bầu cổ xanh tại phân khu Bản Mo (Bảo Hà) và các trang trại chăn nuôi trâu bò, lợn vỗ béo tại Tân Thượng, Kim Sơn.[37]

Dịch vụ, Thương mại và Logistics

  • Dịch vụ Du lịch Tâm linh: Trục di tích Đền Bảo Hà và Đền Cô Tân An thúc đẩy chuỗi dịch vụ dịch vụ lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ, homestay), nhà hàng ẩm thực và các cơ sở cung ứng đồ lễ, sản vật địa phương hoạt động ổn định.[24]
  • Dịch vụ Logistics và Vận tải: Kết nối giao thông giữa đường bộ cao tốc (nút giao IC16), tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn cũ (Ga Bảo Hà, ga Thái Văn, ga Cam Cọn), đường sắt tốc độ cao (ga Văn Bàn) và dự án Cảng hàng không Sa Pa tạo cơ sở hình thành trung tâm dịch vụ logistics, kho bãi bốc dỡ hàng container và vận tải đường dài.
  • Thương mại và Kinh tế số: Khu vực Bảo Vinh, Lâm Sản, Tân An 1,2, Liên Hà (Bảo Hà) tập trung các cửa hàng bán lẻ, siêu thị mini và hệ thống giao dịch tài chính. Các điểm di tích, nhà hàng, khách sạn và hộ kinh doanh áp dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt qua mã QR và sử dụng hóa đơn điện tử.[18]

Quần thể Di tích quốc gia Đền Bảo Hà

Lịch sử hình thành và Sự tích tâm linh

Đền Bảo Hà (đền cổ xây dựng vào cuối triều nhà Lê, niên hiệu Cảnh Hưng 1740 - 1786) gắn liền với công lao trấn giữ biên khương của danh tướng Nguyễn Hoàng Bảy:[38]

  • Bối cảnh lịch sử: Vào cuối thời Lê, vùng đất biên ải Quy Hóa (gồm Lào Cai, Yên Bái ngày nay) bị các toán thổ phỉ tràn sang cướp bóc. Triều đình cử tướng quân Nguyễn Hoàng Bảy lên trấn thủ, dọc theo sông Hồng tổ chức phòng tuyến quân sự và khẩn hoang lập bản.
  • Công lao vệ quốc và thờ tự: Tướng quân Nguyễn Hoàng Bảy tập hợp đồng bào các dân tộc Tày, Dao, Kinh trong vùng đánh bại các toán phỉ, giải phóng vùng đất Khau Bàn (Bảo Hà ngày nay). Sau khi ông hy sinh, nhân dân địa phương đã xây dựng ngôi đền trên dốc đồi Cấm để thờ phụng, tôn ông làm Thần vệ quốc.[39]
  • Vị trí trong tín ngưỡng dân gian: Trong thần phả đạo Mẫu Việt Nam, ông được tôn vinh là Quan Hoàng Bảy (thuộc hàng Tứ phủ Quan Hoàng), được người dân và giới kinh doanh buôn bán tôn kính, cầu mong sự che chở, độ trì cho công việc.

Vị thế Phong thủy và Kiến trúc

Đền có địa thế "tọa sơn hướng thủy", trải qua các đợt trùng tu vẫn giữ nét kiến trúc cổ truyền Việt Nam:[40]

  • Thế đất: Đền xây dựng trên sườn núi Cấm, lưng tựa vào dãy đồi, mặt hướng ra dòng sông Hồng, bao quát thung lũng bãi bồi Bảo Hà và đối xứng với Đền Cô Tân An ở bờ bên kia.
  • Kiến trúc nội tự: Đền kết cấu theo mô hình kiến trúc chữ Công ($I$), bao gồm: Nghi môn (Cổng tam quan), Tòa Đại bái (Tiền đường - nơi đặt các ban thờ chung và thực hành nghi lễ hát văn), Tòa Trung bái (phối thờ các vị quan tướng có công trợ giúp tướng quân Nguyễn Hoàng Bảy) và Hậu cung (Cung cấm - nơi đặt pho tượng thờ chính đức ông Hoàng Bảy bằng gỗ quý).

Lễ hội Đền Bảo Hà

Lễ hội truyền thống Đền Bảo Hà được tổ chức vào ngày 17 tháng 7 âm lịch hằng năm (ngày kỵ nhật của Tướng quân Nguyễn Hoàng Bảy), thu hút nhiều du khách và tín đồ thực hành tín ngưỡng:[30]

  • Nghi lễ rước kiệu: Tổ chức rước kiệu từ Đền Cô Tân An vượt qua cầu sông Hồng sang Đền Bảo Hà, biểu thị sự tri ân công đức bảo quốc an dân, sau đó tiến hành lễ dâng hương và đọc chúc văn.
  • Hoạt động văn hóa - thể thao: Phần hội gồm các giải thi đấu thể thao dân gian (bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co) kết hợp trưng bày sản vật OCOP đặc sản Quế hữu cơ Kim Sơn, Tân Thượng.
  • Thực hành tín ngưỡng Hầu đồng: Trong thời gian lễ hội diễn ra các canh hầu đồng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, diễn xướng các bản hát văn ca ngợi chí khí của vị thần vệ quốc.[41]

Du lịch

Tiềm năng và Định hướng phát triển

Vùng liên kết Bảo Hà – Tân An – Cam Cọn – Tân Thượng – Kim Sơn phát triển du lịch dựa trên nguồn tài nguyên di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên thung lũng sông Hồng và bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc Tày, Dao. Định hướng phát triển của vùng là xây dựng hệ sinh thái kết hợp giữa Du lịch tâm linh – Du lịch sinh thái trải nghiệm – Du lịch văn hóa cộng đồng.[24]

Các loại hình du lịch

  • Du lịch Tâm linh và Hành hương: Tuyến du lịch kết nối giữa Đền Bảo Hà và Đền Cô Tân An qua sông Hồng, kết hợp các điểm đến như Đền Làng Lúc và Đền Cô Bé Kim Sơn, gắn liền với các hoạt động thực hành tín ngưỡng hầu đồng, hát văn. Cao điểm du lịch diễn ra vào tháng Giêng và tháng 7 âm lịch.[39]
  • Du lịch Sinh thái vùng trồng Quế: Khai thác tại phân khu Kim Sơn và Tân Thượng, cho phép du khách tham quan các đồi quế hữu cơ, tìm hiểu quy trình bóc vỏ quế thủ công và trải nghiệm không gian sinh thái làng bản.[42]
  • Du lịch Văn hóa Cộng đồng: Phát triển tại các bản làng người Tày như Bản Mo, Bản Ngoang, Bản Nhâm với mô hình lưu trú nhà sàn truyền thống (homestay), tìm hiểu nghề dệt vải chàm và thưởng thức các làn điệu hát Then, hát Cọi.[10]

Hạ tầng Dịch vụ và Ẩm thực

  • Cơ sở lưu trú và điều phối khách: Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, homestay phát triển tập trung tại vùng lõi Bảo Hà – Tân An; hạ tầng bãi đỗ xe và dịch vụ vận chuyển kết nối liên hoàn từ Ga Bảo Hà, nút giao cao tốc IC16 và Cảng hàng không Sa Pa (Cam Cọn).
  • Sản vật ẩm thực địa phương: Vùng liên kết có các món ăn truyền thống như vịt bầu cổ xanh thả suối bản Mo, lợn bản nướng lá quế, trâu sấy gác bếp, cá suối nướng và xôi ngũ sắc. Các sản phẩm từ quế (quế thanh, tinh dầu, trà quế) được đóng gói theo tiêu chuẩn OCOP phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách.[43]

Cảng hàng không Sa Pa

Vị trí và Quy hoạch tổng thể

Cảng hàng không Sa Pa (Sân bay Sa Pa) là dự án hạ tầng giao thông được triển khai xây dựng tại địa bàn xã Bảo Hà, tỉnh Lào Cai, đóng vai trò cửa ngõ hàng không dân dụng của tỉnh và tiểu vùng miền núi phía Bắc.[44]

  • Cấp sân bay: Đạt tiêu chuẩn Cảng hàng không cấp 4C (theo phân cấp của ICAO) và là sân bay quân sự cấp II.
  • Thông số kỹ thuật: Đường cất hạ cánh kích thước $2.400 \text{ m} \times 45 \text{ m}$, hệ thống sân đỗ, đường lăn bảo đảm tiếp nhận các dòng máy bay thân hẹp như Airbus A320, A321 và tương đương.
  • Công suất: Giai đoạn 1 đạt công suất 1,5 triệu hành khách/năm; quy hoạch định hướng giai đoạn 2 nâng công suất lên 3,0 triệu hành khách/năm.[45]

Tiến độ và Mô hình đầu tư

Dự án được triển khai theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), phân chia thành hai giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Tiến hành giải phóng mặt bằng tại phân khu Cam Cọn, xây dựng đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ máy bay, nhà ga hành khách và đài kiểm soát không lưu.[46]
  • Giai đoạn 2: Hoàn thiện nhà ga hàng hóa, mở rộng sân đỗ và các hạng mục phụ trợ kỹ thuật phục vụ các chuyến bay quốc tế tầm trung khi lưu lượng khách gia tăng.

Tác động phát triển liên vùng

  • Tích hợp giao thông đa phương thức: Sân bay Sa Pa kết hợp với Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai (nút giao IC16), tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn cũ (Ga Bảo Hà, ga Cam Cọn) và tuyến đường sắt tốc độ cao (ga Văn Bàn) tạo thành đầu mối kết nối giao thông liên hoàn, rút ngắn thời gian di chuyển đến khu du lịch quốc gia Sa Pa và cửa khẩu quốc tế Lào Cai.
  • Phát triển hành lang đô thị và logistics phụ cận: Dự án sân bay tạo điều kiện hình thành Khu công nghiệp phụ trợ cảng hàng không và các tổng kho logistics, hỗ trợ vận chuyển nhanh tinh dầu quế hữu cơ và nông sản cao cấp của địa phương ra thị trường quốc tế.
  • Thúc đẩy đô thị hóa: Dự án thúc đẩy sự phát triển hạ tầng, biến trục Cam Cọn – Bảo Hà – Tân An thành phân khu dịch vụ, hỗ trợ tiến trình đưa vùng lõi liên kết đạt tiêu chuẩn Đô thị loại V (Thị trấn Bảo Hà).[47]

Tiềm năng phát triển

Đầu mối giao thông và kết nối đa phương thức

Vùng liên kết Bảo Hà – Tân An – Cam Cọn – Tân Thượng – Kim Sơn có vị trí kết nối giữa vùng núi phía Bắc với hành lang kinh tế sông Hồng. Đây là khu vực tại Tây Bắc tích hợp đồng bộ 4 phương thức vận tải: Đường bộ cao tốc (nút giao IC16), Đường sắt khổ tiêu chuẩn cũ (Ga Bảo Hà, Thái Văn, Cam Cọn), Đường sắt tốc độ cao trục Đông - Tây (ga Văn Bàn) và Đường hàng không (Cảng hàng không Sa Pa). Hạ tầng này tạo tiềm năng phát triển mô hình cảng cạn (ICD) và trung tâm dịch vụ logistics, điều phối lưu lượng hàng hóa trung chuyển qua cửa khẩu biên giới.[48]

Định hướng Đô thị sân bay và Công nghiệp phụ trợ

Sự hình thành Cảng hàng không Sa Pa tại phân khu Cam Cọn mở ra khả năng phát triển mô hình kinh tế đô thị sân bay:

  • Thu hút công nghiệp phụ trợ: Dự án Khu công nghiệp phụ trợ cảng hàng không và cụm công nghiệp liên xã tạo quỹ đất thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp sạch, lắp ráp linh kiện và dịch vụ logistics hàng không.
  • Nâng cao chuỗi giá trị nông - lâm nghiệp: Vùng nguyên liệu Quế hữu cơ Kim Sơn – Tân Thượng và nông sản bãi bồi ven sông Hồng chuyển dịch sang hướng chế biến sâu, đóng gói ứng dụng công nghệ, tận dụng tuyến vận tải hàng không để xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường quốc tế.[49]

Phát triển Du lịch văn hóa tâm linh và du lịch sinh thái

Trục di tích Đền Bảo Hà và Đền Cô Tân An có tiềm năng phát triển thành quần thể du lịch văn hóa tâm linh trọng điểm, khai thác giá trị di sản văn hóa phi vật thể thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Định hướng của vùng là đa dạng hóa sản phẩm du lịch, kết hợp hành hương tâm linh với du lịch sinh thái trải nghiệm đồi quế và du lịch cộng đồng tại các bản làng người Tày, Dao, tăng thời gian lưu trú và hiệu quả kinh tế dịch vụ.[50]

Hiện thực hóa mục tiêu nâng cấp hành chính thành Thị trấn

Hạ tầng kỹ thuật được đầu tư đồng bộ cùng tiến trình chuyển đổi số (số hóa thủ tục hành chính, sử dụng học bạ điện tử tại cụm trường học, áp dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại khu phố chợ) tạo cơ sở để vùng lõi liên kết đạt các tiêu chuẩn thành lập Thị trấn Bảo Hà (Đô thị loại V). Dự án xây dựng trường Nội trú THPT tại xã Bảo Hà góp phần hoàn thiện hạ tầng xã hội và bảo đảm nguồn nhân lực tại chỗ, đưa vùng liên kết trở thành trung tâm dịch vụ - công nghiệp - logistics động lực ở phía Nam tỉnh Lào Cai.[51]

Lịch sử

Thời kỳ cổ đại và phong kiến sơ kỳ

Vùng đất Bảo Hà nằm trên hành lang phù sa cổ dọc sông Hồng, vốn là một trong những địa bàn có dấu vết cư trú của con người từ rất sớm. Theo các nghiên cứu khảo cổ học về lưu vực sông Hồng, khu vực này từng chịu ảnh hưởng và là nơi giao thoa của các nền văn hóa thời tiền sử như văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình và muộn hơn là văn hóa Đông Sơn vùng núi.[52]

  • Thời Hùng Vương - An Dương Vương: Vùng đất này thuộc bộ Tân Hưng – một trong 15 bộ của quốc gia Văn Lang. Đây là vùng đất dậu phên phía Bắc, bảo vệ kinh đô Phong Châu từ hướng thượng lưu sông Thao.[53]
  • Thời Bắc thuộc đến thời Lý - Trần: Địa bàn này nằm trong vùng đất được gọi là châu Đăng, sau đó thuộc lộ Quy Hóa dưới thời nhà Trần. Đây là địa bàn sinh sống lâu đời của các tộc người bản địa như người Tày (nhóm Tày Áo Chàm), người Dao, người Mông, quản lý theo chế độ các tù trưởng, tộc trưởng (phương thức phụ đạo cục bộ).
  • Thời nhà Lê: Theo sử liệu Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, vào thời Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đức), bản đồ hành chính quốc gia được định hình lại, vùng đất Bảo Hà lúc này có tên cổ là động Khau Bàn (tiếng Tày: Khau là đồi núi, Bàn là bằng phẳng, chỉ thung lũng bằng phẳng chân đồi), thuộc châu Thủy Vĩ, phủ Quy Hóa, trấn Hưng Hóa.[54]

Thế kỷ XVIII: Phòng tuyến động Khau Bàn và cuộc tiễu phỉ của Tướng Nguyễn Hoàng Bảy

Bối cảnh loạn lạc vùng biên cương quy hóa

Vào giữa thế kỷ XVIII, dưới triều vua Lê Hiển Tông (niên hiệu Cảnh Hưng 1740 – 1786), triều đình Lê - Trịnh ở miền xuôi suy yếu do phải đối phó với các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài và thế lực chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Lợi dụng tình hình phòng thủ biên giới lỏng lẻo, các thế lực thổ phỉ, giặc dã và các nhóm tàn quân từ phương Bắc (thường được sử sách và dân gian gọi là giặc Khách, giặc Phủ) liên tục tràn qua biên giới Thủy Vĩ.

Giặc phương Bắc cấu kết với một số thổ hào địa phương phản nghịch, chiếm đóng các điểm cao, thực hiện chính sách cướp bóc lương thực, đốt phá bản làng, bắt người dân bản địa làm nô dịch và tàn sát dân lành, khiến kinh tế và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Quy Hóa rơi vào cảnh kiệt quệ, tiêu điều.[55][56]

Chiến lược xây dựng phòng tuyến quân sự tại Khau Bàn

Trước nguy cơ mất đất biên cương, triều đình nhà Lê đã cử tổng đốc Nguyễn Hoàng Bảy – một danh tướng mưu lược, xuất thân từ một gia tộc võ quan ở miền xuôi – lãnh trọng trách làm Khâm sai tiết chế thủy bộ chư dinh, thống lĩnh quân đội hoàng gia tiến ngược dòng sông Thao để tiễu phỉ, bình định vùng biên ải.

Khi tiến quân đến châu Thủy Vĩ, tướng Nguyễn Hoàng Bảy nhận thấy động Khau Bàn (Bảo Hà ngày nay) sở hữu một địa thế quân sự vô cùng hiểm yếu:

  • Phía trước mặt là lòng sông Hồng thắt hẹp, lưu tốc dòng chảy lớn, tạo chướng ngại vật tự nhiên ngăn chặn chiến thuyền quân địch từ thượng nguồn xuôi xuống.
  • Phía sau và hai bên được bao bọc bởi hệ thống đồi núi dốc đứng (hệ thống đồi Cấm), tầm nhìn bao quát toàn bộ vùng thung lũng và khúc quanh của lòng sông.

Ông quyết định chọn động Khau Bàn làm trung tâm đại bản doanh của toàn bộ chiến dịch. Tại đây, ông cho xây dựng hệ thống thành lũy kiên cố bằng gỗ đá, thiết lập các kho tàng trữ lương thảo, vũ khí, và xây dựng bãi tập kết, huấn luyện binh mã (kỵ binh và thủy binh).[57]

Liên minh các dân tộc và những trận đánh tiêu biểu

Điểm mấu chốt giúp Tướng Nguyễn Hoàng Bảy xây dựng phòng tuyến Bảo Hà vững chắc là chính sách "Đoàn kết quần chúng". Ông đã trực tiếp đến gặp các thổ tù, trưởng bản người Tày, người Dao, người Mông trong vùng để tuyên truyền, khơi dậy tinh thần yêu nước. Ông chiêu mộ thanh niên bản địa vào hàng ngũ nghĩa quân, thành lập các đội du kích thần tốc độc đáo:

  • Đội tiễn thủ vùng cao: Gồm đồng bào người Mông, người Dao thông thuộc địa hình núi đá, sử dụng nỏ và súng kíp phục kích trên các vách đá hiểm trở dọc sông Hồng.
  • Đội giao thông thủy: Gồm người Tày thông thuộc các con thác, dòng chảy, sử dụng thuyền độc mộc để vận chuyển quân nhu và đánh tập kích ban đêm vào chiến thuyền tiễn phỉ.

Dưới sự chỉ huy từ bản doanh Khau Bàn, nghĩa quân liên tục giành thắng lợi trong các trận đánh lớn tại Mường Khương, Cam Đường, Thủy Vĩ. Quân của ông đánh tới đâu, giặc Phủ phải rút chạy đến đó, bảo vệ toàn vẹn vùng biên giới từ Bảo Hà lên đến thị xã Lào Cai ngày nay.[25]

Trận quyết chiến cuối cùng và Sự tích Thần vệ quốc

Trong một trận chiến phòng thủ ác liệt tại khu vực biên giới Thủy Vĩ, quân giặc dồn toàn bộ lực lượng phản kích quy mô lớn. Do chênh lệch lực lượng quá lớn và bị rơi vào thế cô lập, tướng Nguyễn Hoàng Bảy đã anh dũng hy sinh ngay trên chiến địa. Quân giặc đã chặt đầu ông và ném xác xuống dòng sông Hồng.

Theo truyền thuyết dân gian địa phương được ghi nhận trong các tài liệu khảo cứu tâm linh: Khi thi hài ông trôi dọc theo dòng sông Hồng về đến đoạn khúc quanh chân đồi Cấm thuộc động Khau Bàn (vị trí đại bản doanh cũ của ông) thì kỳ lạ thay, dòng nước xoáy bỗng đưa thi hài ông dạt vào bờ và dừng lại tại đây. Cùng lúc đó, trời đất bỗng nổi dông bão, mây mù bao phủ khắp vùng đồi Cấm.[58]

Nhân dân các dân tộc động Khau Bàn vô cùng thương tiếc, đã cùng nhau góp công sức vớt thi hài ông lên, tổ chức an táng trang trọng ngay tại sườn đồi Cấm. Để ghi nhớ công lao vĩ đại của vị tướng đã xả thân bảo vệ bản làng, nhân dân đã lập một am thờ nhỏ bằng tre nứa tại nơi chôn cất ông.

Sau khi bình định hoàn toàn triều đại, vua Lê Hiển Tông đã ban sắc phong cho ông danh hiệu "Khâm sai Tiết chế Thần vệ quốc" và ban lệnh cho châu Thủy Vĩ xây dựng đền thờ quy mô lớn tại vị trí am thờ cũ (đây chính là tiền thân của Đền Bảo Hà ngày nay). Các triều đại phong kiến nhà Nguyễn sau này (như vua Minh Mạng, Thiệu Trị) đều tiếp tục ban sắc phong ông là "Trấn An Hiển Liệt" và công nhận ông là vị thần tối cao bảo an cho toàn vùng thượng lưu sông Hồng.[59]

Thời kỳ thuộc nhà Nguyễn và Pháp thuộc: Từ "Tổng Bảo Hà" đến Cứ điểm Quân sự và Cuộc khai thác thuộc địa (Thế kỷ XIX – 1945)

Sự hình thành Tổng Bảo Hà và biến động địa giới hành chính

  • Dưới triều nhà Nguyễn (Thế kỷ XIX): Sau cuộc cải cách hành chính quy mô lớn trên toàn quốc của vua Minh Mạng vào năm 1831, hệ thống quản lý vùng biên khương được tổ chức lại chặt chẽ nhằm tăng cường quyền lực của trung ương. Vùng đất động Khau Bàn cổ xưa chính thức được nâng cấp và mở rộng thành tổng Bảo Hà, thuộc châu Văn Bàn, phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa.[60] Tổng Bảo Hà lúc bấy giờ là một đơn vị hành chính trung gian quan trọng, cai quản một vùng thung lũng bãi bồi rộng lớn và nhiều bản làng vùng cao dọc hai bên bờ sông Hồng. Nơi đây giữ vai trò là trung tâm thu thuế đường thủy, kiểm soát lâm sản và là trạm tuần tiễu biên phòng trọng yếu của triều đình phong kiến.[61]
  • Thời kỳ Pháp thuộc (sau năm 1907): Sau khi tiến hành bình định quân sự vùng Tây Bắc, thực dân Pháp quyết định chia tách địa giới để thành lập tỉnh Lào Cai vào ngày 12 tháng 7 năm 1907. Lúc này, tổng Bảo Hà của châu Văn Bàn được cắt chuyển một phần diện tích lõi và quyền điều phối kinh tế sang cho hạt quân sự Lào Cai trực tiếp quản lý nhằm phục vụ mục đích xây dựng hạ tầng chiến lược. Tuy nhiên, tên gọi hành chính "tổng Bảo Hà" vẫn được duy trì nghiêm ngặt trong các văn bản địa chính, bản đồ địa hình của chính quyền thực dân Pháp cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.[62]

Cứ điểm quân sự Đồn Bảo Hà và công trường hoả xa Vân Nam

Nhận thấy vị trí "yết hầu" giao thông của tổng Bảo Hà, thực dân Pháp đã nhanh chóng biến nơi đây thành một trung tâm khai thác thuộc địa và kiểm soát quân sự:

  • Xây dựng Đồn Bảo Hà: Quân đội Pháp cho thiết lập một phân khu quân sự mạnh, xây dựng Đồn Bảo Hà kiên cố trên các đỉnh đồi cao thuộc hệ thống đồi Cấm. Đồn được bố trí lính lê dương Pháp cùng lực lượng lính dõng bản địa, trang bị hỏa lực mạnh nhằm khống chế toàn bộ tàu thuyền trên sông Hồng và canh gác ngả đường huyết mạch sang châu Văn Bàn, ngăn chặn các toán nghĩa quân yêu nước di chuyển.[63]
  • Công trường đường sắt Hải Phòng – Vân Nam (1901 – 1910): Tổng Bảo Hà trở thành một trong những trọng điểm thi công khốc liệt nhất của tuyến đường sắt xuyên biên giới do Công ty Đường sắt Đông Dương và Vân Nam (CIY) độc quyền xây dựng.[64]
  • Xây dựng Ga Bảo Hà: Pháp cho xây dựng Ga Bảo Hà thành ga hạng II, thiết lập các hạ tầng kỹ thuật quy mô lớn gồm tháp cấp nước cho đầu máy hơi nước, kho bãi trung chuyển khoáng sản/lâm sản, xưởng bảo dưỡng đường ray và cầu sắt kiên cố vượt suối.
  • Thảm cảnh của phu hoả xa: Để bạt núi, xuyên hầm, hàng vạn phu phen từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Nam Định, Thái Bình, Hải Dương) đã bị cưỡng bức, lừa gạt lên công trường Bảo Hà. Người phu phải lao dịch 12–14 tiếng mỗi ngày dưới sự đánh đập của cai đội, đối mặt với dịch bệnh sốt rét ác tính và thú dữ. Hàng ngàn phu đường sắt đã bỏ mạng tại đây, để lại câu ca dao truyền tụng về sự tàn khốc của công trường Bảo Hà: *"Mỗi thanh tà vẹt một mạng người/ Chết vì lau lách, chết vì hùm tha"*.[65]

Các cuộc đấu tranh tự phát của phu hoả xa và đồng bào các dân tộc

Sự bóc lột tàn bạo của chế độ thực dân và ách hà khắc của sưu thuế đã thổi bùng tinh thần phản kháng của công nhân lẫn đồng bào các dân tộc thuộc tổng Bảo Hà:

  • Phong trào bãi công và phá hoại của công nhân (1903 - 1908): Ngay trong quá trình làm đường sắt, tại khu vực ga và các mỏ đá phá núi ở Bảo Hà đã nổ ra nhiều cuộc bãi công lớn nhỏ. Phu đường sắt đoàn kết đòi tăng khẩu phần ăn, cấp thuốc trị sốt rét và phản đối đánh đập. Khi bị đàn áp, công nhân chuyển sang phá hoại ngầm: làm hỏng máy móc của nhà thầu Pháp, phá hoại tà vẹt, làm chậm tiến độ thông xe toàn tuyến trong nhiều năm.[66]
  • Lực lượng du kích bản địa chống tuần tiễu: Đồng bào các dân tộc Tày, Dao, Mông ở các bản vùng cao thuộc tổng Bảo Hà (như Tả Thàng, Bản Mo, bản Bông) đã tự phát tổ chức các đội nghĩa quân. Dựa vào địa hình rừng núi hiểm trở và sương mù dày đặc bên lòng sông Hồng, nghĩa quân sử dụng vũ khí tự tạo như nỏ liên châu, bẫy đá, súng kíp để tập kích các toán lính Pháp tuần tiễu, đốt phá kho tàng hậu cần của đồn địch và hỗ trợ, giải thoát cho các toán phu đường sắt trốn chạy khỏi công trường.[67]

Mặc dù các phong trào đấu tranh giai đoạn này còn mang tính tự phát và bị thực dân Pháp điên cuồng đàn áp, nhưng việc duy trì ngọn lửa phản kháng tại tổng Bảo Hà đã tạo dựng nên một truyền thống cách mạng kiên cường. Đây chính là cơ sở xã hội - lịch sử quan trọng để lực lượng Việt Minh nhanh chóng xây dựng cơ sở bí mật, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền vào năm 1945.

Giai đoạn 1945 – 1975: Giành chính quyền, Kháng chiến chống Pháp và bảo vệ mạch máu giao thông thời chống Mỹ

Khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 và những năm đầu chế độ mới

  • Cơ sở cách mạng tiền khởi nghĩa: Từ giữa năm 1945, phong trào cách mạng của Mặt trận Việt Minh từ các vùng căn cứ địa Yên Bái, Phú Thọ bắt đầu mở rộng theo dọc sông Hồng lên vùng tổng Bảo Hà. Lực lượng cán bộ ban cán sự Đảng tỉnh Yên Bái và Lào Cai đã tiếp cận, xây dựng cơ sở tại Ga Bảo Hà và các tầng lớp nhân dân người Tày, người Dao bản địa, thành lập các tổ Việt Minh bí mật.[67]
  • Giành chính quyền (Tháng 8 năm 1945): Ngay sau khi Trung ương phát động Tổng khởi nghĩa, lực lượng tự vệ vũ trang phối hợp với nhân dân tổng Bảo Hà đã tiến hành bao vây Đồn Bảo Hà, tước vũ khí của binh lính và triệt hạ bộ máy kỳ hào cũ. Ủy ban Lâm thời Cách mạng tổng Bảo Hà được thành lập, chính quyền về tay nhân dân các dân tộc bản địa.[68]
  • Khó khăn thời kỳ đầu: Trong hai năm 1945 – 1946, chính quyền cách mạng tại Bảo Hà đối mặt với nhiều thử thách: nạn đói hoành hành, sự phá hoại của các tổ chức phản động và việc quân đội Trung Hoa Dân quốc đồn trú dọc tuyến đường sắt. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, nhân dân Bảo Hà vừa tăng gia sản xuất, vừa tổ chức các đội tuần tra bảo vệ an toàn cho nhà ga và các kho lương thực.[69]

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Trận giải phóng đồn Bảo Hà (1946 – 1954)

Cuối năm 1946, thực dân Pháp tái chiếm thị xã Lào Cai và tiến quân dọc sông Hồng. Tổng Bảo Hà nằm trong vùng kiểm soát của đối phương. Pháp cho củng cố lại Đồn Bảo Hà thành một cứ điểm quân sự nhằm kiểm soát hành lang giao thông, làm bàn đạp càn quét vùng tự do châu Văn Bàn và cắt đứt liên lạc giữa hai bờ sông Hồng.[70]

  • Xây dựng lực lượng du kích: Các cán bộ hoạt động bí mật đã bám bản để xây dựng lại cơ sở. Khắp các bản Tả Thàng, Bản Mo, liên xã Bảo Hà đã thành lập các đội du kích tiễu phỉ, chống càn, sử dụng hầm chông, bẫy đá và phục kích trên các lối mòn quanh đồi Cấm.
  • Chiến dịch Lê Hồng Phong II (Tháng 10 - 11 năm 1950): Để giải phóng tỉnh Lào Cai, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch tấn công hệ thống phòng thủ của Pháp dọc sông Hồng. Đồn Bảo Hà được xác định là vị trí chiến lược cần phải giải tỏa để cắt đứt đường rút lui của quân Pháp về Yên Bái.[71]
  • Diễn biến và ý nghĩa trận đánh: Đêm mùng 1, rạng sáng ngày 2 tháng 11 năm 1950, lực lượng bộ đội chủ lực thuộc Đại đoàn 308 phối hợp với Trung đoàn 165 và các đại đội du kích liên xã Bảo Hà nổ súng tấn công Đồn Bảo Hà. Du kích địa phương dẫn đường cho bộ đội luồn sâu, bao vây các lô cốt, cắt đường dây liên lạc đường sắt của đối phương. Sau các đợt giao tranh, quân ta làm chủ trận địa, giải phóng hoàn toàn xã Bảo Hà vào ngày 2 tháng 11 năm 1950, mở đường cho lực lượng chủ lực tiến lên giải phóng thị xã Lào Cai.[72]
  • Chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ: Sau khi được giải phóng, Bảo Hà trở thành địa bàn hậu phương. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), nhiều người dân Bảo Hà đã gia nhập lực lượng dân công hỏa tuyến, vận chuyển lương thực, vũ khí dọc lưu vực sông Hồng chi viện cho tiền tuyến.[73]

Thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và Cuộc chiến đấu bảo vệ Ga hoả xa (1954 – 1975)

Sau năm 1954, nhân dân xã Bảo Hà (khi đó thuộc huyện Văn Bàn) bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, phát triển nông - lâm nghiệp. Đến cuối năm 1965, xã Bảo Hà được chuyển giao về huyện Bảo Yên mới thành lập, bắt đầu thời kỳ vừa sản xuất vừa tổ chức phòng không chống cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ.[74]

  • Mục tiêu đánh phá của Không quân Mỹ: Trong giai đoạn 1965 - 1972, Ga Bảo Hà và tuyến cầu sắt qua địa bàn xã là trọng điểm bị máy bay Mỹ tập trung ném bom, do đây là đầu mối trung chuyển, xếp dỡ hàng hóa, vật tư từ tuyến đường sắt phía Bắc xuôi về Hà Nội.[75]
  • Lưới lửa phòng không tầm thấp và Chiến công bắn rơi máy bay Mỹ (15/6/1967): Đảng ủy xã Bảo Hà đã thành lập *Đại đội Dân quân tự vệ Phòng không trực chiến Bảo Hà*. Các trận địa súng máy cao xạ 12,7mm được bố trí trên các đỉnh đồi quanh Ga và đồi Cấm. Ngày 15 tháng 6 năm 1967, đón lõng hướng bay thấp lợi dụng địa hình lòng chảo sông Hồng của đối phương, lực lượng dân quân Bảo Hà đã nổ súng đánh trả, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc máy bay phản lực F-105 của Không quân Mỹ và bắt sống giặc lái.[76][77] Chiến công này đã góp phần bảo vệ an toàn cho mạch máu giao thông vận tải dọc tuyến đường sắt Yên Bái - Lào Cai.
  • Bảo đảm mạch máu giao thông: Lực lượng thanh niên xung phong và dân quân hỏa tuyến Bảo Hà đã bám trụ đường ray với tinh thần bảo đảm giao thông thông suốt. Sau các đợt oanh tạc, người dân địa phương tham gia san lấp hố bom, sửa chữa đường ray, khuân vác hàng hóa, bảo đảm các chuyến hàng quân sự hướng về chiến trường cho đến năm 1975.[78]

Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Thời kỳ phục hồi hậu chiến, Khắc phục sự cố thiên tai và Đột phá đô thị hóa

Vai trò hậu cần trong Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (1979)

Khi cuộc Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc bùng nổ vào ngày 17 tháng 2 năm 1979, xã Bảo Hà được xác định là một trong những trạm trung chuyển hậu cần tuyến hai của quân khu.[79]

  • Đầu mối tiếp viện quân sự: Ga Bảo Hà trở thành điểm xếp dỡ lớn trong khu vực hạ lưu sông Hồng, tiếp nhận bộ dội chủ lực, khí tài quân sự và đạn dược từ miền xuôi điều động lên tăng cường cho các mặt trận tại thị xã Lào Cai, Mường Khương và Cam Đường.
  • Đón tiếp nhân dân di cư: Đảng ủy và nhân dân xã Bảo Hà tổ chức các điểm đón tiếp, che chở, cung cấp lương thực và y tế cho đồng bào các dân tộc từ vùng biên giới sơ tán về phía sau. Lực lượng dân quân tự vệ xã phối hợp với công an chốt giữ các tuyến cầu đường sắt, cầu đường bộ để bảo đảm an ninh trật tự và an toàn giao thông.[73]

Thời kỳ Đổi mới, Phục hồi kinh tế và Sự cố thiên tai lịch sử

Bước sang thập niên 1980 và 1990, thực hiện đường lối Đổi mới, xã Bảo Hà chuyển dịch mô hình kinh tế nông nghiệp sang hướng sản xuất hàng hóa.

  • Xếp hạng Di tích Quốc gia (1997): Ngày 25 tháng 11 năm 1997, Đền Bảo Hà được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia.[25] Sự kiện này tạo cơ sở cho ngành du lịch tâm linh phát triển, thúc đẩy cơ cấu kinh tế địa phương chuyển dịch sang hướng dịch vụ.
      • Khắc phục hậu quả thiên tai (Bão Yagi - 2024): Tháng 9 năm 2024, do ảnh hưởng của siêu bão Yagi (bão số 3), hoàn lưu bão gây mưa lớn kéo dài làm mực nước sông Hồng dâng cao vượt mức báo động III vào đêm 7/9 - 9/9, vượt đỉnh lũ 1969, 1986, 2008 và gây ngập úng diện rộng tại Bản liên Hà 1,2,3,4,5,6, Lúc, Liên Hải, Bảo Vinh, Lâm Sản, Bùn 1,2,3, Cọn 1 - 2, Cam, Tân An 1 và Tân An 2..... Ảnh hưởng năng nề nhất là Thôn Lâm San và Thôn Liên Hà 2 (Khu vực cầu sắt), nước lũ từ Sông Hồng ứ vào gây ra tình trang mực nước lên rất nhanh, do địa thế thấp cho nên phải rất lâu nước mới rút hoàn toàn và gây hậu quả nghiêm trọng; một số bản vùng cao bị sạt lở cục bộ, nghiêm trọng nhất là khu vưc Bông 3, một khối lượng đất đá khổng lồ đã sạt xuống và nhấn chìm nguyên một cụm dân cư và may mắn người dân đã được chính quyền cảnh báo và di dời.

[4] Chính quyền và nhân dân Bảo Hà đã triển khai phương châm "4 tại chỗ", tổ chức sơ tán dân cư an toàn, dọn dẹp bùn đất, xử lý môi trường và khôi phục các hoạt động giao thương, dân sinh sau khi lũ rút.[80]

Phát triển hạ tầng kỹ thuật và Hiện thực hóa mục tiêu Đô thị

Từ sau năm 2020 đến nay, diện mạo hạ tầng của Bảo Hà có nhiều thay đổi nhờ các dự án cấp tỉnh và quốc gia trên địa bàn phụ cận:

  • Trục giao thông đường bộ - đường sắt: Tuyến Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai chạy qua liền kề với nút giao IC16 giúp kết nối đường bộ từ Hà Nội lên Bảo Hà. Hệ thống cầu bê tông cốt thép bắc qua sông Hồng hoàn thành giúp thông suốt mạch kinh tế giữa xã Bảo Hà với xã Tân An và huyện Văn Bàn.[81]
  • Tác động từ Cảng hàng không Sa Pa: Việc triển khai xây dựng dự án Cảng hàng không Sa Pa tại xã Cam Cọn liền kề tạo điều kiện thu hút các dự án kho bãi logistics và dịch vụ phụ cận sân bay.
  • Ứng dụng công nghệ trong quản lý: Các cơ quan hành chính, hệ thống y tế và các trường học trên địa bàn (như Trường Tiểu học số 1 Bảo Hà) áp dụng các sáng kiến cải cách hành chính, số hóa tư liệu và cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý.[82]

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị tỉnh Lào Cai, vùng lõi xã Bảo Hà đang được tập trung đầu tư hoàn thiện các tiêu chí kỹ thuật để liên kết với vùng phụ cận, hướng tới việc nâng cao điều kiên, mức sống người danvà trở thành trung tâm dịch vụ và logistics phía Nam của tỉnh.[51]

Cải cách hành chính 2025

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1673/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lào Cai năm 2025. Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Kim Sơn, Cam Cọn, Bảo Hà (huyện Bảo Yên) và Tân An, Tân Thượng (huyện Văn Bàn) thành xã mới có tên gọi là xã Bảo Hà.[83]

Hình ảnh

Chú thích

  1. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên 1673/NQ-UBTVQH15
  2. ^ "Đơn vị hành chính Việt Nam". sapnhap.bando.com.vn. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2026.
  3. ^ Trạm Khí tượng Thủy văn tỉnh Lào Cai (2024), Báo cáo đặc điểm khí hậu thủy văn lưu vực sông Hồng thuộc tỉnh Lào Cai.
  4. ^ a ă Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên (2024), Báo cáo tổng hợp công tác khắc phục hậu quả thiên tai do hoàn lưu bão số 3 (Yagi) trên địa bàn huyện.
  5. ^ Ủy ban nhân dân xã Bảo Hà (2025), Báo cáo quy hoạch phát triển vùng lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021 - 2030.
  6. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2020), Quyết định về việc sắp xếp, sáp nhập và đổi tên các thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Lào Cai, số 325/QĐ-UBND.
  7. ^ Ủy ban nhân dân xã Bảo Hà (2025), Báo cáo thống kê đất đai và phân bố địa giới hành chính các thôn bản trên địa bàn xã.
  8. ^ Viện Dân tộc học (2014), Các dân tộc thiểu số vùng thung lũng sông Hồng: Lịch sử và Văn hóa, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
  9. ^ Ban Dân tộc tỉnh Lào Cai (2018), Bảo tồn và phát triển văn hóa các tộc người thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
  10. ^ a ă Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai (2021), Báo cáo khảo sát không gian văn hóa tín ngưỡng vùng hạ lưu sông Hồng.
  11. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2025), Quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đô thị hạt nhân Bảo Hà - Tân An và vùng phụ cận đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
  12. ^ Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024), Báo cáo thẩm định điều chỉnh quy hoạch khu đô thị dịch vụ và logistics vệ tinh sân bay Sa Pa.
  13. ^ Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (2024), Phương án nâng cao năng lực xếp dỡ và logistics tại các ga trọng điểm vùng Tây Bắc.
  14. ^ Bộ Giao thông Vận tải (2023), Quy hoạch chi tiết các ga đường sắt trên tuyến Hà Nội - Lào Cai giai đoạn định hướng cận đại.
  15. ^ Cục Đường sắt Việt Nam (2025), Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
  16. ^ Sở Giao thông Vận tải - Xây dựng tỉnh Lào Cai (2023), Hồ sơ hoàn công công trình cầu giao thông vượt sông Hồng khu vực đô thị Bảo Hà.
  17. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2023), Báo cáo tiến độ triển khai dự án Cảng hàng không Sa Pa tại xã Cam Cọn, huyện Bảo Yên.
  18. ^ a ă Ủy ban nhân dân xã Bảo Hà (2025), Kế hoạch hành động triển khai Chuyển đổi số và Xây dựng Đô thị thông minh giai đoạn 2025 - 2030.
  19. ^ Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bảo Yên (2026), Báo cáo thống kê quy mô mạng lưới trường lớp học vùng phía Nam huyện Bảo Yên học kỳ II (2025 - 2026).
  20. ^ Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bảo Yên (2025), Báo cáo phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia và chuyển đổi số học đường.
  21. ^ Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai (2026), Nghị quyết về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án xây dựng Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THPT tại xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên.
  22. ^ Sở Y tế tỉnh Lào Cai (2025), Phương án nâng cấp năng lực khám chữa bệnh tại các Phòng khám Đa khoa khu vực trên địa bàn tỉnh.
  23. ^ Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên (2025), Báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia về y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
  24. ^ a ă â Sở Du lịch tỉnh Lào Cai (2024), Báo cáo quy hoạch phát triển không gian du lịch tâm linh trọng điểm Bảo Hà - Tân An.
  25. ^ a ă â Bộ Văn hóa - Thông tin (1997), Quyết định số 959/QĐ-BT ngày 25/11/1997 về việc xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia Đền Bảo Hà, Hà Nội.
  26. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2011), Địa chí tỉnh Lào Cai, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr. 520.
  27. ^ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai (2022), Danh mục kiểm kê di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Bảo Yên.
  28. ^ Tòa Giám mục Giáo phận Hưng Hóa (2024), Kỷ yếu các giáo xứ, giáo họ vùng truyền giáo tỉnh Lào Cai.
  29. ^ Ban Tôn giáo tỉnh Lào Cai (2025), Báo cáo tình hình hoạt động của các tổ chức tôn giáo và tự viện trên địa bàn tỉnh.
  30. ^ a ă Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên (2025), Kế hoạch tổ chức Lễ hội bách niên Đền Bảo Hà và Tuần văn hóa du lịch tâm linh phía Nam.
  31. ^ Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2025), Hồ sơ thẩm định phê duyệt quy hoạch chi tiết Khu công nghiệp phụ trợ và Logistics đô thị sân bay Sa Pa.
  32. ^ Sở Công Thương tỉnh Lào Cai (2025), Báo cáo chỉ số sản xuất công nghiệp và năng lực hoạt động của các nhà máy tiểu vùng phía Nam.
  33. ^ Cục Thuế tỉnh Lào Cai (2025), Niên giám thống kê các tổ chức kinh tế và người nộp thuế trên địa bàn huyện Bảo Yên.
  34. ^ Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên (2025), Báo cáo đánh giá hiệu quả kinh tế tập thể và mô hình liên kết HTX quế bền vững.
  35. ^ Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên (2025), Báo cáo đánh giá tiến độ thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới vùng phía Nam.
  36. ^ Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên (2023), Đề án phát triển vùng nguyên liệu Quế hữu cơ giai đoạn 2021 - 2030.
  37. ^ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai (2025), Quy hoạch chi tiết các vùng chăn nuôi tập trung và an toàn dịch bệnh tiểu vùng sông Hồng.
  38. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2011), Địa chí tỉnh Lào Cai, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr. 518.
  39. ^ a ă Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2016), Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Hoàng Bảy và không gian văn hóa tâm linh vùng thượng lưu sông Hồng, Nhà xuất bản Thế giới.
  40. ^ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai (2021), Báo cáo khảo sát và trùng tu kiến trúc nghệ thuật di tích Đền Bảo Hà.
  41. ^ Cục Di sản văn hóa (2017), Hồ sơ thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  42. ^ Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên (2025), Phương án phát triển sản phẩm du lịch sinh thái gắn với vùng chỉ dẫn địa lý Quế Bảo Yên.
  43. ^ Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên (2025), Báo cáo tổng kết Tuần văn hóa du lịch và ẩm thực tiểu vùng phía Nam.
  44. ^ Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1772/QĐ-TTg ngày 21/10/2021 về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án xây dựng Cảng hàng không Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
  45. ^ Bộ Giao thông Vận tải (2023), Quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Sa Pa tỉnh Lào Cai giai đoạn đến năm 2030.
  46. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2024), Báo cáo tiến độ giải phóng mặt bằng và thi công hạ tầng kỹ thuật dự án Cảng hàng không Sa Pa.
  47. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2025), Điều chỉnh quy hoạch tổng thể không gian kiến trúc cảnh quan đô thị vệ tinh ven sân bay Sa Pa.
  48. ^ Bộ Giao thông Vận tải (2025), Chiến lược phát triển các đầu mối giao thông tích hợp đa phương thức vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
  49. ^ Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2025), Báo cáo đánh giá tác động lan tỏa của các dự án hạ tầng trọng điểm tiểu vùng sông Hồng.
  50. ^ Sở Du lịch tỉnh Lào Cai (2024), Đề án chiến lược vị thế sản phẩm du lịch cốt lõi tỉnh Lào Cai giai đoạn định hướng đến năm 2035.
  51. ^ a ă Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2023), Quyết định phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng đô thị Bảo Hà - Tân An, huyện Bảo Yên đến năm 2035.
  52. ^ Viện Khảo cổ học (2002), Khảo cổ học Việt Nam tập II: Thời đại kim khí, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
  53. ^ Nguyễn Trãi (1435), Dư địa chí, bản dịch của Bộ Giáo dục và Thanh niên (1966).
  54. ^ Phan Huy Chú (1821), Lịch triều hiến chương loại chí - Dư địa chí, bản dịch Quốc sử quán triều Nguyễn.
  55. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2011), Địa chí tỉnh Lào Cai, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr. 412.
  56. ^ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Quyển 42: Ghi chép về tình hình biên giới Hưng Hóa thời Cảnh Hưng.
  57. ^ Ban quản lý Di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Lào Cai (2018), Hồ sơ tư liệu lịch sử đền Bảo Hà và danh tướng Nguyễn Hoàng Bảy.
  58. ^ Nguyễn Đăng Thục (1972), Tín ngưỡng dân gian và các vị thần linh biên giới Bắc Bộ, Tập san Nghiên cứu Lịch sử.
  59. ^ Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bộ sưu tập sắc phong triều Nguyễn cho các di tích tỉnh Lào Cai, ký hiệu tư liệu VHN-SP/LC02.
  60. ^ Dương Thị The, Phạm Thị Thoa (1981), Danh mục các tổng trấn xã thôn Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
  61. ^ Nguyễn Văn Huyên (1940), Góp phần nghiên cứu địa lý hành chính tỉnh Hưng Hóa cổ, Tập san Trường Viễn Đông Bác cổ.
  62. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2011), Địa chí tỉnh Lào Cai, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr. 115.
  63. ^ Đảng bộ huyện Bảo Yên (2015), Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Yên (1947 - 2015), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr. 24.
  64. ^ Nguyễn Văn Phùng (2006), Lịch sử giao thông vận tải đường sắt Việt Nam, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải, tr. 68.
  65. ^ Trần Huy Liệu (1957), Tài liệu khảo cứu về phong trào công nhân và phu mỏ Việt Nam thời Pháp thuộc, Nhà xuất bản Văn Sử Địa.
  66. ^ Đảng bộ huyện Bảo Yên (2015), Sách đã dẫn, tr. 28.
  67. ^ a ă Viện Lịch sử Đảng (2010), Lịch sử phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân tỉnh Lào Cai (1886 - 1945), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
  68. ^ Đảng bộ huyện Bảo Yên (2015), Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Yên (1947 - 2015), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr. 45.
  69. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2011), Địa chí tỉnh Lào Cai, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr. 182.
  70. ^ Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) - Tập III, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân.
  71. ^ Bộ Tổng Tham mưu (1995), Lịch sử các chiến dịch của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Kháng chiến chống Pháp, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân.
  72. ^ Đảng bộ huyện Bảo Yên (2015), Sách đã dẫn, tr. 72.
  73. ^ a ă Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lào Cai (2014), Lào Cai - Những chặng đường lịch sử (1907 - 2014), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
  74. ^ Hội đồng Chính phủ (1965), Quyết định số 177-CP ngày 16/12/1965 về việc thành lập huyện Bảo Yên thuộc tỉnh Lào Cai.
  75. ^ Bộ Giao thông Vận tải (2005), Lịch sử Giao thông Vận tải Việt Nam (Giai đoạn 1945 - 1975), Nhà xuất bản Giao thông Vận tải, tr. 310.
  76. ^ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lào Cai (2010), Lịch sử vũ trang nhân dân tỉnh Lào Cai (1945 - 2010), Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, tr. 142.
  77. ^ Đảng bộ huyện Bảo Yên (2015), Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Yên (1947 - 2015), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr. 104.
  78. ^ Bộ Giao thông Vận tải (2005), Sách đã dẫn, tr. 315.
  79. ^ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lào Cai (2010), Lịch sử vũ trang nhân dân tỉnh Lào Cai (1945 - 2010), Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân.
  80. ^ Báo Lào Cai (2024), Bảo Hà gượng dậy sau bão lũ kỷ lục: Điểm tựa từ tinh thần đoàn kết, số ra ngày 20/09/2024.
  81. ^ Bộ Giao thông Vận tải (2022), Quy hoạch mạng lưới hạ tầng giao thông đồng bộ tiểu vùng phía Nam tỉnh Lào Cai.
  82. ^ Ủy ban nhân dân xã Bảo Hà (2025), Báo cáo thống kê phong trào thi đua Sáng kiến cải cách hành chính và Số hóa văn thư địa phương.
  83. ^ "TOÀN VĂN: Nghị quyết số 1673/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Lào Cai năm 2025". Báo Điện tử Chính Phủ. ngày 16 tháng 6 năm 2026.

Liên kết ngoài